Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Tags Posts tagged with "thai phụ"

thai phụ

0 531

Hầu hết phụ nữ khi mang thai đều mong muốn có một thai kỳ khỏe mạnh. Tuy nhiên, do việc bổ sung thái quá chất dinh dưỡng đã khiến các bà bầu thừa cân trong thai kỳ. Việc bà bầu thừa cân ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé thế nào? Thai phụ làm gì để tránh nguy cơ thừa cân?

thua can khi mang thai

Cần kiểm soát cân nặng khi mang thai.

Ảnh hưởng thừa cân đến sức khỏe của mẹ và bé như thế nào?

Nếu bạn tăng cân nhanh và bị béo phì trong khi mang thai người mẹ sẽ dễ mắc các bệnh như tăng huyết áp, ối vỡ sớm, viêm tĩnh mạch, nguy cơ cao bị sảy thai và tiền sản giật… Trong khi sinh mẹ còn có nguy cơ chảy nhiều máu hơn những sản phụ khác do khi sinh lực co bóp tử cung yếu dẫn đến phải sinh mổ. Khi phẫu thuật mổ lấy thai cũng trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn đối với các bà bầu thừa cân. Lớp mỡ dày dưới da sẽ khiến bác sĩ khó khăn hơn trong việc gây tê, truyền tĩnh mạch… Ngoài ra, việc tăng cân quá mức trong thời kỳ mang thai cũng làm tăng nguy cơ mẹ bầu bị tiểu đường thai kỳ, hậu quả là đứa con sinh ra sẽ có nhiều nguy cơ mắc bệnh khi trưởng thành. Mặt khác, việc mẹ béo phì trong thai kỳ cũng làm tăng nguy cơ thai to và phải can thiệp khi sinh, nguy cơ hạ đường huyết sơ sinh, vàng da, hạ canxi máu… nguy hiểm cho mẹ và bé trong quá trình sinh nở tăng cao.

Theo BS. Trần Thanh Tâm (SKĐS)

0 934

Thức ăn có vị chua cay giúp tăng cảm giác ngon miệng, trong khi canh nấu bằng hoa quả lại có thể gây tiểu đường thai kỳ.

Theo các bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng Bệnh viện Từ Dũ (TP HCM), trong những tháng đầu thai kỳ, để tăng cảm giác thèm ăn, thai phụ có thể chọn ăn những thức ăn hơi có vị chua cay để kích thích tiết axit gastric. Đây là yếu tố gây giúp cảm thấy ăn ngon miệng hơn.

1-shutterstock-pregnant-cooking-1206-1431331311-1431395515775

Tăng cường thực phẩm có nhiều vitamin, hạn chế thức ăn mặn và nhiều mỡ là điều cần thiết cho các bà bầu.

Với những thai phụ bị nghén, thường xuyên nôn ói, nên ăn thức ăn có tính kiềm như rau quả, ăn chuối, khoai tây, cải bó xôi vốn chứa nhiều vitamine B. Cũng nên bổ sung nhiều thức ăn có chứa vitamin C để giảm cảm giác khó chịu như dưa lưới, dâu tây, súp lơ trắng, ớt xanh. Các loại rau quả có màu sậm càng giàu khoáng chất.

Ở giai đoạn giữa và cuối thai kỳ, thức ăn giàu protein, calcium, vitamine như cá, thịt, trứng, các loại đậu, rong biển, canh xương thịt và các loại rau quả tươi là thực sự cần thiết.

Nếu không thể ăn được cùng lúc số lượng nhiều, các bác sĩ khuyên người mang thai nên chia nhỏ bữa ăn và ăn nhiều bữa trong ngày. Nước lọc và rau xanh là hai thứ không thể thiếu bởi nó sẽ giúp tránh chứng táo bón.

Bên cạnh các loại thực phẩm có lợi, các bác sĩ khuyến cáo thai phụ không nên ăn canh nấu bằng hoa quả là món phải cân nhắc bởi hàm lượng đường trong hoa quả thường rất cao và đây là yếu tố làm trao đổi đường trong thời gian mang thai bất thường, gây bệnh tiểu đường.

Các nghiên cứu khoa học cho thấy, trong thực tế, phần lớn người bị tiểu đường thai kỳ là do ăn uống nhiều thức ăn có hàm lượng đường cao. Các loại quả giàu chất đường như sầu riêng cũng cần hạn chế, nhất là những tháng giữa thai kỳ.

Bà bầu cũng không nên ăn thực phẩm quá nhiều mỡ động vật vì lượng mỡ thừa có thể khiến thai nhi quá to gây khó sinh hoặc băng huyết sau sinh.

Cũng cần tránh các loại thức ăn mặn như khô mắm, các loại nước chấm như nước mắm, nước tương, muối tiêu vì có thể gây phù thũng do cơ thể bị trữ nước và các biến chứng khác.

Không nên ăn theo sở thích, kiểu thèm món nào thì chỉ tập trung ăn nhiều món ấy mà không ăn các món khác vì tình trạng này sẽ khiến thai phụ không đủ sức khỏe còn thai nhi thì bị bé còi.

Nhiều người, nhất là các thai phụ trẻ tuổi do sợ mất vóc dáng sau sinh nên kiêng ăn mà không biết rằng việc kiêng khem sẽ gây cản trở cho sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên các chuyên gia cũng khuyên không được ăn quá nhiều, phải khống chế lượng thức ăn đưa vào cơ thể sao cho cân bằng để tránh gây bất thường cho quá trình trao đổi chất.

Bổ sung canxi là điều cần thiết bởi nó giúp xương của thai nhi phát triển, song nếu dùng quá liều thì canxi cũng sẽ khiến việc sinh nở gặp khó do xương thai nhi quá cứng.

Theo SKĐS/Ngôi sao

0 814

Nhiều phụ nữ mang thai lần đầu ngoài những khó chịu như: buồn nôn, đau lưng, đau vú…

nang ne mang thai

Nhiều phụ nữ mang thai lần đầu ngoài những khó chịu như: buồn nôn, đau lưng, đau vú… trên thực tế, còn có nhiều triệu chứng khó chịu khác của thai kỳ. Vậy những trở ngại khi mang thai thường gặp là gì? Cách vượt qua như thế nào? Câu trả lời có trong bài viết dưới đây.

Từ khoảng tuần thứ 26 của thai kỳ thai phụ đã cảm thấy sức ép dồn xuống phía dưới. Cảm giác này khiến nhiều phụ nữ mang thai phải lo lắng. Đặc biệt với các phụ nữ mang thai lần thứ hai, họ thường phàn nàn về cảm giác này hơn. Khi gặp tình trạng này, thai phụ phải biết rằng đó là cảm giác bình thường và tử cung ở lần mang thai thứ 2 có phần thấp hơn so với lần mang thai thứ nhất và trọng lượng ngày càng tăng của thai nhi tiếp tục kéo toàn bộ tử cung thấp xuống. Bạn cần nhận thức được rằng tử cung và cổ tử cung vẫn đủ sức nâng đỡ đứa trẻ, hoàn toàn không có chuyện sẽ đẻ non vì cảm giác nặng phần dưới này.

Theo BS. Nguyễn Bùi Kiều Linh (SKĐS)

1 1338
Mỗi khi mệt mỏi, suy giảm hệ miễn dịch… các thai phụ thường dễ mắc bệnh viêm họng, nhất là 3 tháng đầu thai kỳ, hoặc khi thời tiết thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho virut gây lây lan nhanh.

Mỗi khi mệt mỏi, suy giảm hệ miễn dịch… các thai phụ thường dễ mắc bệnh viêm họng, nhất là 3 tháng đầu thai kỳ, hoặc khi thời tiết thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho virut gây lây lan nhanh. Nếu không phòng tránh và điều trị kịp thời thì bệnh viêm họng sẽ gây những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của mẹ và bé.

Nguyên tắc phòng bệnh

Để không có  virut, vi khuẩn có nơi trú ẩn phát tán gây bệnh lây nhiễm thì việc đầu tiên là giữ cho nhà cửa sạch sẽ, thoáng mát, các vật dụng gia đình phải vệ sinh hàng ngày.

Để tránh viêm họng, thai phụ cần giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ, hàng ngày cần chải răng tối thiểu 2 lần/ngày và chăm súc miệng bằng nước muối loãng để sát trùng răng, miệng. Bàn chải đánh răng bị nhiễm khuẩn cũng có thể trở thành thủ phạm gây viêm họng. Bạn nên pha một cốc nước muối nóng hàng sáng để vệ sinh bàn chải trước khi đánh răng.

Để không lây nhiễm các vi khuẩn, virut thai phụ  cần hạn chế tối đa việc đến thăm hoặc tiếp xúc với những người bị cảm cúm, viêm họng để không lây nhiễm  mầm bệnh. Ra ngoài, cần đeo khẩu trang bất cứ lúc nào bạn muốn ra ngoài, ngay cả khi đi bộ để chống bụi, chống nhiễm khuẩn qua đường hô hấp.

 Phòng viêm họng ở phụ nữ mang thai Gừng hấp mật ong giúp trị viêm họng.

Lưu ý, không nên sử dụng quá nhiều muối trong khẩu phần ăn hay dùng quá nhiều đồ ăn rán, nướng, xào, khô, cay, đồ ăn chứa nhiều chất béo… mà nên ăn nhiều đồ luộc, hấp, ăn nhiều rau xanh không uống nước lạnh. Uống nước ép, ăn các loại hoa quả tươi giàu vitamin thay vì uống nước lạnh, nước có ga… Nước lạnh làm nhiệt độ ở họng giảm đột ngột sẽ gây viêm họng, mùa lạnh cần uống nước ấm và uống từ từ, từng ngụm nhỏ.

Biểu hiện

Với viêm họng cấp, thời điểm mới mắc, họng khó chịu và đau họng, sốt, ho, tắc/nghẹt mũi…

Đối với viêm họng mạn tái phát, triệu chứng khô, ngứa, ho húng hắng, họng tăng tiết dịch nhày, hơi thở hôi…

Hàng ngày, thai phụ cần tăng cường bổ sung dưỡng chất, chú ý ăn nhiều loại thực phẩm có chứa sắt, kẽm, vitamin A, B, C… nhằm giúp hệ miễn dịch hồi phục khả năng kháng bệnh, chiến đấu với bệnh tật.

Ngoài ra, các thai phụ nên tránh xa môi trường có khói thuốc lá để không hít khỏi những chất độc hại khiến cổ họng bạn bị viêm nhiễm nặng nề hơn.

Theo Bác sĩ Nguyễn Thị Hạnh (Sức khỏe và Đòi sống)

0 682

Đối với phụ nữ mang thai, không nên dùng thuốc berberin vì nó có thể gây co bóp tử cung làm ảnh hưởng tới thai nhi.

Nhiều người quan niệm rằng berberin là thuốc thảo dược từ thiên nhiên nên không độc, không có tác dụng phụ gì và dùng được cho phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, đối với phụ nữ mang thai thì lại không nên dùng thuốc này vì nó có thể gây co bóp tử cung làm ảnh hưởng tới thai nhi.

thia phu khong duoc uong Berberin

ừ lâu, berberin đã được biết đến như một thuốc vừa rẻ, vừa an toàn và hiệu quả cho các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hóa. Berberin có vai trò như một kháng sinh thực vật, vừa diệt khuẩn tốt lại không gây ra loạn khuẩn ruột như hầu hết các kháng sinh khác.

Berberin là hoạt chất được chiết từ cây hoàng đằng (còn có tên vàng đắng, hoàng liên), tên khoa học là Coptis teet…, là loại cây dây leo thân gỗ có phân nhánh, mọc hoang ở nhiều nơi. Trong hoàng đằng có nhiều alcaloid dẫn xuất của izoquinolein, chủ yếu là berberin tỷ lệ từ 1,5 – 3%. Các tác dụng chủ yếu của berberin là chống tiêu chảy do vi khuẩn, ký sinh trùng đường ruột. Berberin còn được bào chế thành thuốc nhỏ mắt điều trị viêm kết mạc, đau mắt đỏ do kích thích bên ngoài như (gió, nắng, lạnh, bụi, khói…) và điều trị bệnh mắt hột. Ngoài ra, berberin cũng có thể giúp ngăn ngừa nhiễm nấm, bội nhiễm nấm và còn có tác dụng chống lại tác hại của vi khuẩn tả và E.coli – loại vi khuẩn sinh ngoại độc tố bền với nhiệt.

Berberin rất lành tính, rất hiếm gặp trường hợp dùng mà bị dị ứng. Tuy nhiên, đối với những người quá mẫn cảm với thuốc và phụ nữ có thai thì không nên dùng vì berberin có khả năng gây kích thích co bóp tử cung. 

Theo Bảo Thư (SKĐS)

0 586

Trà xanh vẫn được xem là thức uống tốt cho sức khỏe, có tác dụng phòng ngừa ung thư và bệnh tim mạch. Tuy nhiên nếu bạn uống trà xanh sai cách có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, thậm chí tử vong.

Gây rối loạn tiêu hóa với người có vấn đề về dạ dày
Chất tannin có trong trà xanh có thể là nguyên nhân rối loạn tiêu hóa. Lý do là vì nó kích thích dạ dày tiết ra nhiều axit hơn. Tác dụng phụ này có thể không quá nghiêm trọng với những người khỏe mạnh nhưng với những người có vấn đề về dạ dày bao gồm loét và trào ngược dạ dày thực quản thì tình trạng rối loạn tiêu hóa có thể gây nhiều khó chịu.

“Nghệ thuật” giữ bụng nhỏ, eo thon... NGÀY 13 THÁNG 2, 2015 | 07:14 Chia sẻ: SKĐS - Tết Nguyên đán năm nay được nghỉ 9 ngày, các lễ hội sau Tết còn kéo dài và ngày xưa các cụ thường nói “Tháng giêng là tháng ăn chơi”, vì thế, sau dịp lễ Tết, mọi người thường khen nhau “mập ra”, “béo tốt ra”. Tết Nguyên đán năm nay được nghỉ 9 ngày, các lễ hội sau Tết còn kéo dài và ngày xưa các cụ thường nói “Tháng giêng là tháng ăn chơi”, vì thế, sau dịp lễ Tết, mọi người thường khen nhau “mập ra”, “béo tốt ra”. Câu khen này đối với nhiều người trong thời kỳ còn bao cấp, thiếu ăn và thiếu dinh dưỡng thì rất phấn khởi nhưng đến nay nếu khen “mập ra” thì không phải ai cũng mừng, đặc biệt đối với người thừa cân và béo phì. Cần lưu ý kiểm soát nghiêm ngặt cân nặng trước, trong và sau dịp Tết là rất quan trọng vì sau những ngày Tết nhiều người lại tăng cân vù vù và tỷ lệ người mắc bệnh bị tái phát do liên quan đến thừa cân, béo phì thường nhiều hơn. Điều trước tiên phải nói đến là nhu cầu năng lượng trong dịp lễ Tết: thường nhu cầu năng lượng của mọi người giảm hơn do thời gian nghỉ ngơi và ngủ nhiều, đồng thời hoạt động thể lực giảm. Trong khi trước Tết, người bị thừa cân và béo phì hàng ngày đang thực hiện chế độ ăn uống kiêng khem, tăng cường hoạt động thể lực thì những ngày Tết họ thường vui vẻ, gặp nhiều bạn bè nên có thói quen ăn uống phóng khoáng và hoạt động thể lực giảm dẫn tới việc nhanh chóng tăng cân. Với người có nguy cơ thừa cân và béo phì cần lưu ý: mỗi miếng bánh chưng có khoảng 150-250 kcalo, nếu ăn từ 2 - 3 miếng bánh mỗi ngày thì năng lượng khẩu phần của bạn đã tăng lên đáng kể, chưa tính đến các loại thực phẩm khác như bánh kẹo và đồ uống công nghiệp. Trà xanh là thức uống tốt cho sức khỏe, nhất là người béo phì. Chế độ ăn uống nhiều thịt cá (tăng đạm nguồn gốc động vật), ăn không điều độ, ăn không đúng bữa và số bữa ăn cũng nhiều hơn. Nhiều người còn quan niệm là “ăn cỗ hoặc đãi khách” trên mâm phải có nhiều món ăn, nhiều thịt và ít rau, do vậy mức tiêu thụ thịt cá tăng lên nhiều so với bữa ăn hàng ngày dẫn đến mất cân đối khẩu phần ăn. Chế độ ăn này rất nguy hại đối với người bị bệnh gút, tăng huyết áp, tim mạch, tiểu đường... Người thừa cân béo phì không nên ăn quá nhiều thịt đỏ, ưu tiên ăn cá, thịt gia cầm. Nên ăn thịt vừa phải (không quá 100g/ngày/người trưởng thành), khuyến khích ăn cá và đậu phụ. Ở nước ta, thừa cân và béo phì đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các đô thị. Từ năm 2000 - 2005, tỷ lệ người thừa cân và béo phì đã tăng gấp 2 lần ở người trưởng thành (từ 3,5% lên 6,6%). Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị thừa cân béo phì tăng gấp 9 lần sau 10 năm (2000-2010) và năm 2013 tỷ lệ này đã ở mức 6,3%. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thừa cân và béo phì trong đó chế độ ăn uống và lối sống là quan trọng hơn cả. Cần hết sức coi trọng vai trò của rau quả trong chế độ ăn hàng ngày, người thừa cân và béo phì cần tăng cường ăn rau quả, giảm lượng đường bột. Nên sử dụng đủ rau, quả hàng ngày với lượng trên 400g/ngày. Vai trò của rau và quả chín cung cấp nguồn các vitamin, chất khoáng và chất xơ đã được khẳng định. Đồng thời, các chất sinh học quan trọng khác của rau quả, đó là các carotenoid, bioflavonoid có vai trò là các chất chống ôxy hóa và phòng ngừa nhiều loại ung thư. Trong những ngày lễ Tết, bên cạnh khẩu phần ăn nhiều đạm động vật thì việc sử dụng quá nhiều bánh mứt kẹo, nước ngọt có ga, các loại nước ngọt khác cũng làm tăng năng lượng khẩu phần với người thừa cân và béo phì, vì vậy không nên sử dụng hoặc hạn chế sử dụng các loại sản phẩm này. Đặc biệt, khi mứt và bánh kẹo trên thị trường không đảm bảo an toàn thực phẩm, cùng với ăn uống không điều độ khiến trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa. Uống rượu, bia nhiều trong những ngày Tết không những ảnh hưởng xấu đến an toàn của bản thân khi tham gia giao thông mà còn có nguy cơ cao đối với những người bị bệnh tim mạch, tăng huyết áp, thừa cân và béo phì. Không lạm dụng rượu bia, hạn chế rượu bia, đặc biệt đối với người thừa cân và béo phì. Nên uống nước chè xanh, vì chè là một thức uống rất có giá trị, nó cung cấp nhiều loại flavonoid chống ôxy hóa, fluor và nhiều vitamin. Để Tết và lễ hội thực sự có ý nghĩa cả về thể chất và tinh thần được cải thiện thì mỗi chúng ta cần duy trì cân nặng ở mức hợp lý, đặc biệt cần kiểm soát cân nặng hàng ngày với người thừa cân và béo phì thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý phối hợp với nếp sống lành mạnh, năng động, hoạt động thể lực đều đặn, vừa sức. Lời khuyên dinh dưỡng hợp lý với người thừa cân béo phì là: khuyến khích một tỷ lệ cân đối giữa nguồn chất béo động vật và thực vật. Tổng số năng lượng do chất béo khoảng từ 18-22% năng lượng, trong đó các acid béo không no cung cấp không quá 10% năng lượng. Tránh dùng thực phẩm nhiều chất béo, nhiều cholesterol như: thịt mỡ, bơ, fomat, não, nội tạng động vật, các món xào rán... Năng lượng do chất đạm đáp ứng từ 15-25% năng lượng của khẩu phần ăn. Nhóm bột đường nên sử dụng bánh mì đen, ngũ cốc nguyên hạt, khoai củ. Đảm bảo đủ vitamin và muối khoáng từ rau quả chín khoảng 400g/ngày. Xây dựng thói quen giảm ăn mặn, ăn uống điều độ đúng theo nhu cầu. Không ăn bánh, kẹo và uống nước ngọt, không lạm dụng rượu, bia. Theo Bs. Nguyễn Văn Tiến(Sức khỏe và Đời sống)

Uống trà xanh sai cách có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe

Uống trà xanh quá nóng gây đau loét dạ dày

Khi uống trà xanh quá nóng trên 60 độ C sẽ gây tổn thương vách trong của dạ dày, dẫn đến đau loét dạ dày. Mặc dù một ấm trà xanh ngon phải được ủ từ nước đun thật sôi, nhưng nhiệt độ lý tưởng để bạn uống chè xanh khoảng 45 – 50 độ C là vừa.
Khiến bạn dễ bị loãng xương
Trà xanh ức chế việc sử dụng canxi của cơ thể, làm cho bạn dễ bị loãng xương.
Uống ngay sau bữa ăn làm giảm khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng của cơ thể
Trong trà xanh có chứa tanin, nếu sau khi ăn uống trà xanh thì chất sắt và protein trong thức ăn sẽ kết hợp với chất tanin, từ đó làm giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể. Được biết, chất tanin có tác dụng “khử” chất sắt, vì thế cơ thể sẽ hạn chế hấp thu chất sắt. Tốt nhất là hãy chờ khoảng 15 – 20 phút sau khi ăn rồi mới uống.
Uống nước trà xanh để qua đêm
Nước trà xanh để qua đêm sẽ bị xỉn màu, thành phần vitamin B, C tr.vn/ong nước trà sẽ bị phân hủy. Vì vậy, tốt hơn hết, buổi sáng khởi đầu cho một ngày, bạn nên hãm ấm chè xanh mới và chỉ thưởng thức chúng trong ngày mà thôi.
Uống nước trà xanh quá nhiều hoặc quá đặc không tốt cho thai phụ
Mặc dù uống trà xanh là tốt tuy nhiên thai phụ không nên uống trà xanh quá nhiều trong một ngày hoặc quá đặc. Uống quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình hấp thu sắt. Các chất có trong trà xanh sẽ làm giảm quá trình hấp thu đó. Ngoài ra trà được xếp vào loại đồ uống chứa chất kích thích. Do vậy nếu uống quá đặc dẫn đến sự kích thích thần kinh trung ương của thai phụ. Hệ quả là thai phụ có thể bị mất ngủ, nhịp tim đập nhanh, dễ hưng phấn…qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến thai nhi.

Theo ktdt.vn/ Gia đình Việt Nam

0 680

Nhiều phụ nữ mang thai lần đầu ngoài những khó chịu như: buồn nôn, đau lưng, đau vú…

Nhiều phụ nữ mang thai lần đầu ngoài những khó chịu như: buồn nôn, đau lưng, đau vú… trên thực tế, còn có nhiều triệu chứng khó chịu khác của thai kỳ. Vậy những trở ngại khi mang thai thường gặp là gì? Cách vượt qua như thế nào? Câu trả lời có trong bài viết dưới đây.

bi tieu thai ky

Đây là biểu hiện khá phổ biến trong 3 – 4 tháng đầu của thai kỳ. Cảm giác bí tiểu có thể khiến thai phụ phải vào nhanh nhà vệ sinh, trong khi bàng quang chưa đầy nước. Vì vậy chỉ có sự kiên nhẫn mới giúp cho bàng quang đầy nước và thai phụ đi tiểu một cách bình thường. Các nhà chuyên môn cho rằng những thay đổi nội tiết tố đã gây ra sự bí tiểu tạm thời này. Tình trạng bí tiểu sẽ biến mất sau một vài tuần. Do đó nếu thai phụ chủ động uống ít nước là một sai lầm. Trái lại, thai phụ sẽ đi tiểu dễ dàng hơn nếu họ uống nhiều nước, nhất là trong mùa hè nóng bức này.

Theo BS. Nguyễn Bùi Kiều Linh (SKĐS)

0 515

Mùa nhãn đã đến. Dù hân hoan đến đón một loại quả ngon được ưa chuộng mỗi dịp hè về, vẫn cần biết chúng lợi hại ra sao để sử dụng cho hợp lý.

Nhãn là loại cây ăn quả có nguồn gốc từ Ấn Độ nhưng từ lâu đã được du nhập vào Việt Nam và trở thành một thứ đặc sản của nước ta.

Theo Đông y Việt Nam, quả nhãn có công dụng chữa bệnh rất tốt. Ruột nhãn thường được phơi, sấy khô gọi là long nhãn, quế viên hay nguyên nhục, dùng làm vị thuốc chữa bệnh.

Hiem-hoa-chet-nguoi-den-tu-qua-nhan-ban-khong-he-biet-1

Theo Tuệ Tĩnh, long nhãn là vị thuốc có vị ngọt, tính ấm, bình, không độc, giúp trừ vi trùng lao, bổ ích tâm tỳ, làm tăng trí nhớ, tăng tuổi thọ cho người già, cao tuổi.

Sách của Hải Thượng Lãn Ông chép lại cũng rất đề cao vị thuốc từ quả nhãn. Ông cho rằng đây là vị thuốc uống nhiều thì mạnh chí, thông minh; dùng lâu thì nhẹ mình, trẻ lâu.

Theo đông y, long nhãn được sử dụng dưới nhiều dạng như thuốc sắc, thuốc cao, thuốc hoàn, rượu thuốc… riêng rượu thuốc có thể ngâm phối hợp với các vị thuốc khác để bồi bổ cơ thể, chống mất ngủ, suy nhược thần kinh… và rất nhiều bệnh khác.

  1. Công dụng của nhãn:

– Tốt cho hệ thần kinh: Nhãn đặc biệt tốt cho hệ thần kinh, đặc biệt là trong việc cải thiện chứng trầm cảm. Các hoạt chất có trong nhãn giúp thư giãn hệ thống dây thần kinh và tăng chức năng hoạt động của chúng. Chính vì thế, nhãn cải thiện rất tốt tình trạng mất ngủ.

– Tăng tuổi thọ: Công dụng tăng tuổi thọ của nhãn được rất nhiều sách cổ y văn nói đến. Theo khoa học hiện đại, sở dĩ nhãn giúp tăng tuổi thọ là do nó có các hoạt chất chống lại các phân tử gốc tự do trong cơ thể.

Với cơ chế này, nhãn còn giúp ngăn ngừa bệnh ung thư.

– Giàu vitamin C: Nhãn rất giàu vitamin C giúp đẹp da, tăng sức đề kháng chống lại các căn bệnh như cảm cúm, cảm lạnh.

nhan1

– Phòng bệnh dạ dày: Nhãn tươi hoặc siro lấy từ cùi nhãn ngâm đường có thể sử dụng để phòng ngừa và điều trị bệnh đau dạ dày rất tốt.

– Cải thiện tuần hoàn máu: Nhãn tăng cường hấp thu sắt, giúp hạn chế bệnh thiếu máu và các nguy cơ mắc bệnh ở tuyến tụy.

  1. Những “tác dụng phụ” của nhãn:

Quả nhãn và long nhãn là một vị thuốc quý. Những tính năng bồi bổ sức khỏe của nhãn là không thể phủ nhận được. Tuy nhiên, khi ăn nhãn cần lưu ý những “tác dụng phụ” sau:

– Nhãn vị ngọt, tính ấm nên thường gây nóng trong. Nhiều người không ăn nhãn vì nhãn gây nóng khiến cơ thể mọc mụn.

Thực ra, đây chỉ là một “tác dụng phụ” phổ biến nhất của nhãn. Những người hay nóng trong, da có mụn, mẩn ngứa thì không nên hạn chế ăn nhãn đề phòng tác dụng phụ trên.

– Nhãn có chứa một lượng chất đường lớn, vừa cung cấp nhiều năng lượng vừa cung cấp lượng đường lớn trong máu.

Theo các nhà khoa học, khoảng 300g quả nhãn cung cấp lượng đường tương đương với 1 bát cơm. Với người bình thường không sao, nhưng với người có bệnh tiểu đường thì ăn nhãn không có lợi vì nhãn khiến đường huyết tăng cao đột ngột rất nguy hiểm.

Hơn nữa, người thừa cân, béo phì, người muốn giảm cân cũng nên hạn chế ăn nhãn.

– Tác dụng phụ “trầm trọng” nhất của nhãn là đối với thai phụ. Với phụ nữ có thai, thể trạng thiên về âm hỏa hư, nóng trong, hay táo bón, rêu lưỡi khô, miệng đắng. Nếu ăn nhiều nhãn sẽ gây nóng trong, ra huyết, đau bụng, nguy hiểm hơn là gây động thai.

Vì vậy, phụ nữ mang thai không nên ăn nhiều nhãn. Đặc biệt thai phụ 7 – 8 tháng thì càng cần kiêng nhãn.

Theo Sức khỏe và Đời sống/Tri thức trẻ

0 496

Nhiều loại thuốc được sử dụng trong trị bệnh có thể gây độc cho thai theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp mà hậu quả là sự bất thường về cấu trúc hoặc chức năng của thai nhi kể cả sau khi đứa trẻ ra đời.

nhung-khang-sinh-cam-dung-cho-thai-phu

Nhiều loại thuốc được sử dụng trong trị bệnh có thể gây độc cho thai theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp mà hậu quả là sự bất thường về cấu trúc hoặc chức năng của thai nhi kể cả sau khi đứa trẻ ra đời. Sự bất thường đó có thể kín đáo, không bộc lộ rõ. Do vậy phần lớn các loại thuốc hiện nay đều được khuyến cáo cần dùng thận trọng hoặc chống chỉ định cho phụ nữ mang thai. Tác dụng độc của thuốc đối với thai rất có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của thai kỳ, nhưng thường gặp nhất trong 3 tháng đầu, tuy nhiên còn phụ thuộc liều dùng của thuốc, tuổi của thai nhi và có sự hiệp đồng giữa các loại thuốc trong quá trình trị liệu. Vì vậy, phụ nữ mang thai cần biết những loại kháng sinh nào không nên dùng để tránh trong quá trình mang thai.

Nhóm không thể dùng (chống chỉ định) gồm có phenicol (gây suy tủy, giảm bạch cầu, “hội chứng xám ở trẻ em”), tetracycline (gây vàng răng ở trẻ em…), aminoglycosid như gentamycin, streptomycin… (gây điếc vì thuốc có khả năng xâm nhập rất nhanh qua hàng rào rau thai đồng thời phá hủy thần kinh thính giác của thai nhi, gây điếc bẩm sinh). Tetracyclin khi sử dụng ở phụ nữ mang thai sau 15 tuần có thể gắn vào xương và răng làm răng biến màu vàng nâu và chậm phát triển các xương dài… Trimethoprim cũng có liên quan với nguy cơ gây dị dạng thai được sử dụng ở những thai phụ khi cơ thể người mẹ bị thiếu hụt acid folic. Nhóm thuốc quinolon như ciprofloxacin, norfloxacin, pefloxacin… (gây tổn thương như thoái hóa khớp cụ thể là có những bằng chứng cho thấy chúng có thể phá hủy sụn tiếp của thai ở động vật thí nghiệm)… Trên đây là một trong số các thuốc kháng sinh cần được tránh sử dụng cho phụ nữ mang thai.

Theo BS. Hoàng Thanh Sơn (SKĐS)

0 502

Theo dõi ngôi thai rất quan trọng đối với quá trình sinh nở của thai phụ. Nếu không được theo dõi kỹ, ngôi thai bất thường khiến sản phụ “vượt cạn” khó khăn, có nguy cơ dẫn đến những tổn thương cho mẹ và thai nhi. Chẩn đoán được ngôi thai thì mới chọn được hướng sinh đúng, có cách can thiệp phù hợp giúp mẹ tròn con vuông.

Các kiểu ngôi thai

Có hai dạng ngôi chính là ngôi dọc và ngôi ngang. Ngôi thai dọc gồm ngôi đầu và ngôi mông. Ngôi đầu còn được gọi là ngôi thuận, biểu hiện bằng việc thai nhi nằm xuôi theo trục dọc của tử cung, đầu thai nhi hướng về phía âm hộ, mông thai nhi hướng về phía ngực mẹ. Đây là dạng ngôi thai thuận lợi cho cuộc sinh thường.

ngoi-thai-bat-thuong-can-phat-hien-som

Ngôi mông còn gọi là ngôi ngược, thai nhi có tư thế ngược lại với ngôi đầu, gây khó sinh. Ngôi thai ngang là tình trạng thai nhi nằm vắt ngang qua tử cung với phần lưng hoặc vai quay xuống dưới cổ tử cung. Nếu là ngôi ngang thì không thể sinh thường theo ngả âm đạo, bắt buộc phải mổ lấy thai.

Chẩn đoán ngôi thai thường vào các tuần cuối thường là tuần 36 tuần trở đi thì mới có giá trị, vì trước đó thai vẫn còn di động và thay đổi phần ngôi. Chẩn đoán dựa vào nắn ngoài vùng bụng và hỗ trợ của siêu âm. Chẩn đoán được ngôi thai thì mới chọn được hướng sinh đúng, có cách can thiệp phù hợp giúp mẹ tròn con vuông.

Nguyên nhân khiến ngôi thai bất thường

Có rất nhiều nguyên nhân khiến ngôi thai bất thường, trong đó thường gặp nguyên nhân từ phía người mẹ. Nếu người mẹ sinh con nhiều lần nên tử cung bị giãn, thai nhi khó xoay và cố định đầu vào khung chậu trong. Ngoài ra, nếu mẹ bị u xơ tử cung, u buồng trứng hay tử cung dị dạng, tử cung có vách ngăn… sẽ tạo nên sự chèn ép, khiến thai nhi không xoay trở được. Nếu nước ối quá ít làm thai nhi không xoay trở được hoặc quá nhiều khiến thai nhi không cố định được ngôi. Một số trường hợp nhau bám thấp cũng gây cản trở sự điều chỉnh của thai trong bụng mẹ vào những tháng cuối của thai kỳ.

Nếu thai nhi có đầu quá to hoặc dây rốn quá ngắn làm em bé không xoay được hoặc xoay nửa chừng thì không xoay được nữa. Như thế sẽ tạo thành ngôi ngang. Ngược lại, dây rốn quá dài và quấn cổ cũng khiến thai nhi không xoay được.

Phát hiện sớm vô cùng quan trọng

Khám thai định kỳ sẽ xác định được nguyên nhân khiến ngôi thai bất thường. Điều quan trọng là thai phụ cần tuân thủ những chỉ định của bác sĩ để kiểm soát tốt nguyên nhân nhằm đảm bảo sự phát triển của thai nhi.

Đối với những trường hợp ngôi thai bất thường, thai phụ thường được bác sĩ hướng dẫn cách vận động với những bài tập nhẹ phù hợp nhằm tác động để thai nhi quay đầu về ngôi thuận. Trước đây, nhiều người cho rằng, luyện tập kiểu chổng mông lên trời hoặc bò để thai quay đầu là không có cơ sở khoa học. Do đó, thai phụ không nên làm theo vì có thể gây nguy hiểm cho mẹ và thai nhi.

Theo Bác sĩ Nguyễn Ngọc (SKĐS)