Tags Posts tagged with "tĂng huyết áp"

tĂng huyết áp

0 605

Theo y học cổ truyền, dừa cạn có tính mát, vị đắng, tác dụng hoạt huyết, tiêu thũng, an thần, lợi tiểu. Trong nhân dân thường dùng dừa cạn để chữa tăng huyết áp, viêm đường tiết niệu, mất ngủ, bế kinh…

Cây dừa cạn còn gọi có tên khác là trường xuân, hoa hải đằng, bông dừa, dương giác. Cây mọc hoang và được trồng nhiều ở khắp nơi để làm cảnh và làm thuốc.

19-2-1437727059326

Cây dừa cạn.

Dừa cạn là loại cây nhỏ, mọc thành bụi dày, có cành đứng, có bộ rễ rất phát triển, thân gỗ ở phía gốc, mềm ở phần trên. Lá mọc đối, thuôn dài, đầu lá hơi nhọn. Hoa trắng hoặc hồng, có mùi thơm, mọc riêng lẻ ở các kẽ lá phía trên, quả gồm 2 đại, đầu quả hơi tù, trong quả chứa 12-20 hạt nhỏ màu nâu nhạt, hình trứng. Mùa hoa quả gần như quanh năm.

Toàn cây được dùng làm thuốc. Thông thường người ta nhổ trọn cả bụi đem về phơi khô, chặt nhỏ khi dùng cho sao thơm hoặc dùng tươi, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Một số đơn thuốc thường dùng

Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, dùng một trong các bài thuốc sau:

Dừa cạn 20g, sao vàng; lá dâu 20g, sắc lấy nước, chia uống 2 – 3 lần mỗi ngày.

– Hoa dừa cạn 6g, nụ hoa hòe 10g, hãm với nước sôi trong bình kín khoảng 20 phút. Uống thay nước trà mỗi ngày.

– Hoa dừa cạn 6g, cúc hoa 10g, hãm với nước sôi uống trong bình kín 20 phút, uống thay trà trong ngày.

– Dừa cạn 160g, lá đinh lăng 180g, hoa hòe 150g, cỏ xước 160g, đỗ trọng 120g, chi tử 100g, cam thảo đất 140g. Các vị sao giòn tán vụn trộn đều, bảo quản trong hộp kín tránh ẩm. Ngày dùng 40g cho vào ấm, đổ nước sôi hãm, sau 10 phút là được. Uống thay trà trong ngày. Công dụng: an thần hạ áp, làm bền thành mạch, êm dịu thần kinh.

19-1-1437727059290

Dừa cạn phối hợp với nụ hoa hòe hỗ trợ điều trị tăng huyết áp.

Mất ngủ: Dừa cạn 20g, sao vàng, lá vông nem 12g, hạt muồng sao đen 12g, sắc uống trước khi đi ngủ. Dùng 5-7 ngày.

Trị khí hư bạch đới: Dừa cạn 12g, rễ cây bạch đồng nữ 16g, biển đậu 16g, đan sâm 16g, cây chó đẻ 16g, lá bạc sau 16g. Sắc uống ngày 1 thang.  10 ngày là một liệu trình.

Rong kinh: Toàn cây dừa cạn sao vàng 30g, sắc lấy nước, uống liên tục 1 tuần.

Bế kinh, đau bụng kinh, người mệt mỏi: Dừa cạn (phơi khô) 16g, nga truật 12g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, chỉ xác 8g, trạch lan 16g, huyết đằng 16g, hương phụ 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 3-5 ngày.

Lưu ý: Không dùng cho phụ nữ có thai.

Theo Bác sĩ Nguyễn Thị Nga (SKĐS)

Thời tiết khi xuân về là điều kiện thích hợp để các bệnh về khớp gia tăng, tái phát, đặc biệt là thoái hóa khớp.

Thời tiết khi xuân về là điều kiện thích hợp để các bệnh về khớp gia tăng, tái phát, đặc biệt là thoái hóa khớp. Vì vậy, người bị bệnh khớp cần có chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt hợp lý để giảm đau và giảm sự tiến triển xấu của khớp.

Thời tiết sang xuân mưa nhiều, lạnh, gió mùa về, áp thấp nhiệt đới đều làm cho không khí trở nên lạnh, càng làm cho người bệnh khớp bị đau nhức, khó chịu. Nguyên nhân đau nhức khớp là do không khí lạnh thâm nhập cơ thể qua đường da bởi các lỗ chân lông, làm cho mạch máu tại các vùng da đó co lại, máu đến các bao khớp, dây chằng, khớp xương bị hạn chế hoặc rất ít gây nên thiếu máu nuôi dưỡng khớp, nuôi dưỡng các màng hoạt dịch và sụn khớp, chúng bị kích thích gây nên đau nhức khớp. Vì vậy, một số người bệnh thường ngày đã bị các bệnh về khớp mạn tính (thoái hóa cột sống, thoái hóa sụn khớp, thoát vị đĩa đệm, viêm dây chằng, lao cột sống, khớp bàn tay, ngón tay…) hoặc đã, đang bị viêm khớp gây đau nhức, nay gặp thời tiết lạnh càng đau nhiều hơn. Ngoài ra, ở những người bị bệnh gút mạn tính, loãng xương cũng gây đau nhức xương khớp, nếu bị lạnh, bệnh càng gia tăng, đặc biệt là về đêm hoặc sau uống rượu, bia, ăn các loại hải sản hoặc phủ tạng động vật.

Dinh dưỡng cho người bệnh khớp

Người bệnh khớp nên ăn nhiều cá, đặc biệt là cá hồi giàu omega 3.

Đau nhức xương khớp mùa lạnh có thể gặp ở người béo phì, thừa cân do các khớp phải chịu trọng lực của cơ thể đè lên các xương khớp, thêm vào đó còn có trọng lực của áo quần mùa đông vừa nặng vừa gây khó khăn trong vận động càng làm cho xương khớp bị đau nhức. Vì vậy, khi bị bệnh về khớp, cần được chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị đúng, kịp thời sẽ hạn chế sự gia tăng của bệnh, đồng thời hạn chế biến chứng của chúng, đặc biệt là thoái hóa khớp, bệnh gút. Tuy vậy, cho tới nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu để làm khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp cũng như bệnh gút. Điều trị chủ yếu nhằm mục đích giảm đau, duy trì vận động khớp và làm chậm tiến triển của bệnh. Các phương thức điều trị bao gồm nội khoa (dùng thuốc hoặc không dùng thuốc) và ngoại khoa (phục hồi và thay khớp).

Để điều trị nội khoa, ngay ở giai đoạn đau khớp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi, bất động khớp, tránh tất cả những hoạt động gây đau và xoa bóp nhẹ nhàng với một số thuốc thoa ngoài da (dầu gió, cao sao vàng…) nhằm làm cho mao mạch vùng da của khớp bị đau giãn ra, máu sẽ đến nhiều hơn để cung cấp cho dây chằng, bao hoạt dịch, sụn khớp, từ đó sẽ giảm đau và ngay sau khi hết đau cấp, người bệnh phải tập vận động khớp nhẹ nhàng. Trong trường hợp cần thiết, cần đi khám bệnh để được bác sĩ khám và cho thuốc điều trị chống viêm, giảm đau.

Đối với một số khớp quan trọng (trật khớp háng bẩm sinh, tiêu chỏm xương, nhuyễn sụn xương bánh chè, lệch trục đầu gối…), khi điều trị nội khoa không có kết quả có thể chuyển sang điều trị ngoại khoa.

Vấn đề dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với người bệnh khớp. Cần có chế dộ dinh dưỡng tốt, lý tưởng nhất là thức ăn có đầy đủ vitamin, khoáng chất, chất chống ôxy hóa và các chất dinh dưỡng khác. Với người béo phì, thực hiện chế độ ăn uống giảm cân. Trong khí đó, người gầy bị viêm đa khớp dạng thấp nên ăn nhiều bữa nhỏ để hấp thu dinh dưỡng tốt hơn. Đối với bệnh nhân bị thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp, cần cung cấp lượng đạm nhiều hơn, sử dụng dầu thực vật, dầu omega 3 và dầu cá. Tránh ăn các loại thịt có màu đỏ (trâu, bò, chó), nên ăn thịt có màu trắng (lợn, gà, vịt), cá, tôm, cua, sò, ốc, hến, ngao. Người bệnh khớp cũng nên ăn nhiều rau và trái cây tươi như đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái cây này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, các hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Cần uống đủ lượng nước cần thiết hàng ngày (khoảng 1,5 lít). Đối với bệnh nhân bị gút, cần hạn chế đạm, các loại phủ tạng động vật và không uống rượu, bia. Cần hạn chế các loại thức ăn chế biến sẵn (thịt hun khói, xúc xích, lạp sườn) bởi vì chúng tạo ra một số chất gây kích thích phản ứng viêm và thúc đẩy kết dính tiểu cầu, gây giãn mạch, sung huyết, tăng cảm giác đau. Hạn chế thực phẩm gây tăng lipid máu gây bất lợi cho người đang bị viêm khớp vì xúc tác phản ứng viêm tấy ở mặt trong bao khớp như thịt mỡ, bơ, xúc xích, dăm bông, bánh kẹo, đặc biệt ở người vừa bị bệnh khớp vừa bị tăng mỡ máu, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch. Điều quan trọng cần lưu ý là mọi loại thức ăn, nước uống cần có độ ấm, tránh lạnh.

Để phòng ngừa và hạn chế các cơn đau, nên tập luyện thể dục nhẹ nhàng có tác dụng thư giãn các khớp, tránh tình trạng gây cứng khớp, tuy vậy, cần nghỉ ngơi khi đau. Cần giữ ấm cơ thể bằng cách mặc đủ ấm và khi ra khỏi nhà, tay đi găng, chân có tất, cổ quàng khăn, đeo khẩu trang, đầu đội mũ ấm.

Theo Bác sĩ Việt Bắc (Sức khỏe và đời sống)

 Bệnh tim có thể bao gồm đau tim hoặc suy tim, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ, còn đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ ba…

Bệnh tim có thể bao gồm đau tim hoặc suy tim, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ, còn đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ ba, theo các số liệu thống kê của Chính phủ Mỹ. Dưới đây là 5 loại chất dinh dưỡng có thể giúp bảo vệ phụ nữ từ căn bệnh tim mạch cũng như hạ thấp nguy cơ mắc các điều kiện mạn tính khác như loãng xương, đái tháo đường, ung thư vú và tăng huyết áp.

Vitamin B9 (folic acid)

Folic acid là một chất dinh dưỡng quan trọng cho phụ nữ trong suốt thời kỳ mang thai, nó cũng cần thiết cho phụ nữ lớn tuổi. Folic acid giúp xây dựng các mô mới, rất hữu ích với tất cả các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt có tác dụng bảo vệ tim rất cao. Folic acid hay folate, là một loại vitamin B rất cần thiết để tạo ra các tế bào hồng cầu. Những dấu hiệu về lượng acid folic thấp bao gồm thiếu máu, sụt cân, suy nhược, đau đầu và nồng độ cao homocysteine trong máu, là một nhân tố rủi ro cho bệnh tim mạch. Thực vậy, phụ nữ tiêu thụ nhiều folic acid cũng sẽ làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tăng huyết áp, theo một nghiên cứu hồi năm 2005 được công bố trên thời báo Hiệp hội Y khoa Mỹ. Folic acid có nhiều trong các loại rau ăn lá, các loại quả chua, bí, các loại quả mọng, các loại hạt và dầu ô liu.

5 chất quan trọng bảo vệ sức khỏe phụ nữ

Bổ sung vi chất qua dung nạp thực phẩm có lợi cho sức khỏe.

Vitamin B12

Phụ nữ hậu mãn kinh thường thiếu các chất dinh dưỡng nhất định trong chế độ ăn hàng ngày của họ, bao gồm vitamin B12 và làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh thiếu máu. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những phụ nữ bị thiếu máu thường hấp thụ ít chất đạm, folate (hay vitamin B9), chất sắt, vitamin C và vitamin B12. Mức độ vitamin B12 thấp đã diễn ra khi phụ nữ lớn tuổi. Những người phụ nữ lớn tuổi có thể không có đủ hydrochloric acid trong dạ dày của họ để hấp thụ vitamin. Nếu phụ nữ không nhận đủ vitamin B12 có thể dẫn đến mệt mỏi, sụt cân, trí nhớ kém, mất trí nhớ và trầm cảm.

5 chất quan trọng bảo vệ sức khỏe phụ nữ

Mặc dù vitamin B12 đã được đề xuất như một cách để điều trị chứng mất trí nhớ, thúc đẩy cảm xúc, làm gia tăng năng lượng và sự tập trung, nhưng vẫn không có đủ bằng chứng cho thấy rằng nó đã cải thiện những điều kiện này. Lượng vitamin B12 được đề nghị dùng hàng ngày là 2,4 microgram cho người trưởng thành, đồng thời vitamin B12 có thể được tìm thấy trong các loại thực phẩm chẳng hạn như cá, thịt, gia cầm, trứng, sữa và các loại ngũ cốc. Đối với những phụ nữ ăn chay, nhu cầu thực phẩm bổ sung vitamin B12là cần thiết.

Acid béo omega – 3

Ăn một lượng lớn cá và các acid béo omega-3 sẽ làm hạ thấp nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở phụ nữ, đây là thông tin của một nghiên cứu được công bố hồi năm 2002 trên thời báo Hiệp hội Y khoa Mỹ. Vài cuộc nghiên cứu đã cho thấy, việc bổ sung dầu cá (từ 1 – 4gram/ngày) đã làm giảm lượng triglyceride xuống đến 50%. AHA khuyến khích tiêu thụ cá, đặc biệt là các loài cá béo như cá hồi, cá rô phi hoặc cá tuyết, ít nhất là 2 lần/tuần. Dầu ô liu có chứa các chất béo không bão hòa đơn, cũng mang lại những lợi ích sức khỏe thiết thực.

5 chất quan trọng bảo vệ sức khỏe phụ nữ

Canxi

Khi phụ nữ bước vào thời kỳ mãn kinh, khả năng tạo ra tế bào xương mới sẽ giảm. Uống sữa không tạo nên sự khác biệt đối với nhu cầu canxi của phụ nữ trong thời kỳ này. Phụ nữ lớn tuổi nên dùng 600milligram bổ sung canxi 2 lần/ngày. Có 2 dạng canxi chính trong các sản phẩm bổ sung là canxi carbonate và canxi citrate. Bên cạnh các sản phẩm sữa, canxi cũng có thể có trong đậu phụ, ngũ cốc, các loại đồ uống từ gạo và đậu nành, các loại rau củ như cải xoăn, bông cải xanh và bắp cải, các loài cá có xương mềm như cá mòi và cá hồi.

Vitamin D

Phụ nữ không nhận đủ vitamin D thì xương sẽ giòn, hay tệ hơn là loãng xương. Một nghiên cứu được công bố trên thời báo Y khoa New England đã cho thấy, việc dùng liều cao vitamin D hàng ngày (khoảng 800 đơn vị quốc tế) có thể làm giảm nguy cơ gãy xương hông ở phụ nữ lớn tuổi 30%. Có 3 cách hấp thụ vitamin D: từ da, từ chế độ ăn uống và bổ sung vitamin. Nhưng khi da lão hóa, khả năng hấp thụ vitamin D3 qua ánh nắng mặt trời cũng bị suy giảm, do đó phụ nữ lứa tuổi này cần bổ sung qua đường ăn uống với các loại thực phẩm chứa nhiều vitamin D3, vitamin tổng hợp, ăn các loại sữa chua ít béo hay phô mai, đặc biệt là phô mai cứng, nước cam và các loại đậu.

Theo ThS. Phan Dương (Sức khỏe và Đời sống)

0 536

Yoga là một trong các phương pháp luyện tâm và luyện thân của người Ấn Độ có lịch sử trên 5.000 năm. Phong trào tập yoga ngày càng lan rộng trong cộng đồng.

Yoga là một trong các phương pháp luyện tâm và luyện thân của người Ấn Độ có lịch sử trên 5.000 năm. Phong trào tập yoga ngày càng lan rộng trong cộng đồng. Liệu phong trào này có thực sự là một hoạt động thể dục thể thao rèn luyện sức khỏe thực sự bổ ích.

Yoga không phải một phương pháp như tập luyện thể dục làm tiêu hao năng lượng. Nhưng nó có công hiệu tương tự như tập thể dục. Một nghiên cứu đăng trên tờ Tim mạch dự phòng châu Âu cho thấy, tập yogacó hiệu quả tượng tự như tập thể dục, đi bộ hoặc đi xe đạp. Tuy nhiên, yoga không được tính như hoạt động thể lực mức độ vừa phải cần phải hoạt động 150 phút mỗi tuần (theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Hoa Kỳ). Yoga là một phần của thay đổi lối sống sau khi mắc bệnh tim mạch. Yoga có thể giúp hạ huyết áp, tăng dung tích phổi, cải thiện chức năng hô hấp và cải thiện trương lực tuần hoàn cũng như trương lực cơ.

yoga-1434353261260

Yoga có hiệu quả trên chuyển hóa và sức khỏe tim mạch.

Sau 12 tuần, tập yoga có thể làm cho giảm huyết áp và mức cholesterol. Yoga có khả năng điều chỉnh nhịp tim và huyết áp, tăng cường lưu lượng tuần hoàn vành, cải thiện sức co bóp cơ tim, nâng cao sức chịu đựng của cơ tim trong điều kiện thiếu ôxy, tập luyện đều đặn sẽ làm nhịp tim giảm khoảng 10%, huyết áp giảm từ 15 – 25%, phòng ngừa tích cực bệnh tăng huyết áp.

Chỉ số khối cơ thể (BMI) sẽ giảm, cholesterol xấu (LDL cholesterol) sẽ giảm và cholesterol tốt (HDL cholesterol) sẽ tăng, cholesterol toàn phần sẽ giảm. Tuy nhiên, yoga không làm thay đổi mức đường máu trên bệnh nhân đái tháo đường.

Giảm căng thẳng thần kinh với người bệnh nhồi máu cơ tim

Yoga đã được chứng minh hiệu quả trên bệnh nhân ngừng tim, nhồi máu cơ tim hay bệnh nhân có biến cố tim mạch. Với những bệnh nhân có nhồi máu cơ tim hoặc sau mổ bắc cầu nối chủ vành, hơn một nửa những bệnh nhân này gặp các vấn đề về căng thẳng thần kinh (stress). Tập luyện yoga là biện pháp có thể có hiệu quả rất tốt để điều trị căng thẳng thần kinh. Tác dụng làm bình an của yoga có thể giúp ngay cho bệnh nhân sau bị nhồi máu cơ tim. Lâu dài, tập luyện yoga thường xuyên cũng giúp cải thiện sức khỏe toàn bộ.

TS.BS. Phạm Như Hùng (Viện Tim mạch Việt Nam)

Theo SKĐS

3 659

Chứng phù nề đôi bàn chân thường gặp đối với phụ nữ mang thai, nhất là trong giai đoạn 3 tháng cuối. Có rất nhiều nguyên nhân gây phù chân ở phụ nữ mang thai…

Chứng phù nề đôi bàn chân thường gặp đối với phụ nữ mang thai, nhất là trong giai đoạn 3 tháng cuối. Có rất nhiều nguyên nhân gâyphù chân ở phụ nữ mang thai… Vậy, khi nào là dấu hiệu cần nhập viện?

Nếu phù chân do các nguyên nhân như: đứng, ngồi lâu nên lượng máu dồn về chân lớn hơn mức bình thường hãy dành thời gian cho đôi chân nghỉ ngơi, thư giãn đi lại. Không nên đứng quá lâu, hãy dành thời gian cho đôi chân nghỉ ngơi, thư giãn.

Nếu phù do chèn ép để giảm bớt hiện tượng phù chân, thai phụ nên nằm nghiêng sang trái để tử cung không chèn vào động mạch chủ và các tĩnh mạch ở khung chậu, khi nghỉ ngơi nên gác chân lên cao. Ngoài ra bạn có thể áp dụng một số bài thuốc y học cổ truyền như đun sôi râu ngô với một vài cốc nước, dùng để uống hàng ngày. Hoặc cũng có thể uống nhiều nước.

phu-chan-khi-mang-thai-1396858933501

Ngoài ra, dùng nước ấm để ngâm chân khoảng 10-15 phút, cũng là một cách giúp chân thư giãn hữu hiệu, có khả năng làm giảm sưng phù.

Tập thể dục đều đặn cũng là một trong những phương thức hữu hiệu giúp nhanh chóng cải thiện tình trạng này. Các môn thể dục thích hợp như yoga giúp máu lưu thông một cách dễ dàng. Biện pháp thực hiện các động tác mát – xa cho đôi bàn chân như xoay bàn chân cũng rất hữu dụng, bằng cách xoay tròn cổ chân theo một vòng tròn lớn và gập bàn chân lại, tiếp theo là xoay từng ngón chân theo chiều kim đồng hồ, sau đó đổi chân. Nên tập đều đặn mỗi ngày 2 – 3 lần, mỗi lần trong 10 phút. Hoặc chỉ cần nằm dài ra trên đệm hay sàn nhà, từ từ nâng từng chân một lên cao, rồi lại hạ xuống đổi chân.

Cần tuân thủ theo một chế độ ăn uống cân bằng và khoa học. Ăn nhiều rau xanh như cải bắp, rau ngót… và các loại hoa quả, trái cây. Khuyến khích ăn nhiều các loại thực phẩm có chứa nhiều vitamin, canxi, và kẽm. Không ăn các loại thực phẩm hay món ăn có chứa lượng lớn muối. Nên hạn chế các loại đồ uống có chứa cafein và cồn, bởi chúng không chỉ là những loại đồ uống gây hại cho thai nhi, mà còn gây nên chứng phù nề ở cơ thể thai phụ.

Thai phụ nên chọn đi những loại giày dép thoải mái, có thể hở rộng một chút, đế thấp. Khi có điều kiện nên tháo giày dép để tạo cho chân cảm giác thoải mái, máu dễ dàng lưu thông vì mang giày hay dép quá chật chính là lý do gây phù nề đôi bàn chân hay nguy hiểm hơn còn là nguyên nhân gây nên chứng viêm tấy kẽ chân, chai, sần ngón chân.

Đối với thai phụ có tiền sử các bệnh mạn tính như :tim, thận, tăng huyết áp mà phù chân là rất nguy hiểm cho cả mẹ và con.

Chú ý: Nếu bạn bị sưng phù lâu ngày, dù đã nghỉ ngơi mà vẫn không giảm bớt, thậm chí kèm theo một số các triệu chứng như: đau đầu, khó chịu, mệt mỏi, rối loạn thị giác, mờ mắt, đau bụng thì tình hình trở nên rất nguy hiểm và bạn phải tới gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.

Theo Bác sĩ Nguyễn Chương (SKĐS)

0 642

Em mang thai ở tuần thứ 20, mỗi lần đi khám thai em đều được các bác sĩ đo huyết áp. Em nghe nói tăng huyết áp trong thời kỳ mang thai rất nguy hiểm. Xin bác sĩ tư vấn cụ thể.

Thu Trang (Quảng Ninh)

Khi mang thai, cơ thể của người mẹ có các thay đổi sinh lý về tim, mạch như nhịp tim nhanh, tăng lượng máu, một số bộ phận của cơ thể tăng sinh mạch máu nên cần lượng máu đi qua nhiều hơn như vú, tử cung, nhau thai… Do đó, người phụ nữ mang thai phải được theo dõi huyết áp thường xuyên, đặc biệt là khi thai từ 20 tuần tuổi trở đi.

600-400-hau-qua-cua-chung-tang-huyet-ap-trong-thai-ky-2d0c-1430836810900

Chính vì thế, việc theo dõi huyết áp ở người mang thai là vô cùng quan trọng, nếu không sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng của cả mẹ và thai nhi.

Hiện nay vẫn chưa tìm được nguyên nhân cụ thể, một số yếu tố thuận lợi dẫn đến tăng huyết áp như ăn nhiều muối, ít vận động thể lực, béo phì, tăng cholesterol, căng thẳng thần kinh, tâm lý… Bên cạnh đó, tuổi của sản phụ cao (trên 35 tuổi); dòng họ có người bị bệnh; chế độ dinh dưỡng lúc mang thai chưa tốt, kèm theo đó là chứng thiếu máu trầm trọng; chửa sinh đôi; lượng nước ối quá nhiều; thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh thất thường… cũng là những nguyên nhân có thể gây tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai.

Tăng huyết ápphụ nữ mang thai nếu không được kiểm soát tốt có thể gây ra các biến chứng, theo thống kê có khoảng 25% trường hợp đẻ non là do tăng huyết áp ở sản phụ, trong đó tiền sản giật là nguy hiểm nhất, thậm chí gây tử vong cho mẹ và con. Ngoài ra, khi người mẹ bị tăng huyết áp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Thai có thể bị chết lưu trong tử cung, bị ngạt thở và chết do thiếu máu cục bộ hoặc đẻ thiếu tháng…

Chính vì vậy, khi mang thai người phụ nữ cần phải khám thai thường kỳ và đo huyết áp mỗi lần khám thai. Nếu phát hiện bị tăng huyết áp trước khi mang thai (tăng huyết áp mạn tính) phải điều trị ổn định tùy theo căn nguyên gây tăng huyết áp.Tăng huyết áp đơn thuần không có các biểu hiện của tiền sản giật cần theo dõi huyết áp thường xuyên khi khám thai.

Theo BS. Nguyễn Văn Tuấn (SKĐS)

0 421
Ngoài việc là tác nhân gây nên 8 loại ung thư, thuốc lá còn là thủ phạm gây nên nhiều bệnh, trong đó có bệnh tim mạch.

Khói thuốc  khi vào cơ thể sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch máu. Trong phút đầu của quá trình hút thuốc nhịp tim bắt đầu tăng lên, có thể tăng tới 30% trong 10 phút đầu hút thuốc. Nhịp tim có thể giảm xuống từ từ nếu tiếp tục hút thuốc, nhưng không bao giờ trở về bình thường nếu chưa ngừng hút.

Từ năm 1940, các nhà khoa học đã phát hiện mối liên hệ giữa hút thuốc lá và nguy cơ bị bệnh tim mạch, dù hút một vài điếu thuốc trong ngày cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch không chỉ thấy ở cả hai giới, trong người trẻ và người già mà còn thấy ở tất cả các chủng tộc.

Những bệnh mà người hút thuốc có nguy cơ mắc cao là xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, đột quỵ, rối loạn nhịp tim, đột tử, nhồi máu cơ tim, phình động mạch chủ.

Thuốc lá và bệnh tim mạch

Xơ vữa động mạch

Chứng xơ vữa động mạch xuất phát từ việc cơ thể tích luỹ nhiều chất béo trong động mạch, gây cản trở và làm hẹp các động mạch. Xơ vữa động mạch là nguyên nhân dẫn đến bệnh mạch vành do lớp nội mạch bị phá huỷ bởi các hóa chất trong khói thuốc.

Một nghiên cứu trên cộng đồng ở Pháp năm 1991 cho thấy, nhóm nữ hút thuốc có nguy cơ mắc xơ vữa động mạch cao gấp 3,9 lần so với nhóm nữ không hút thuốc. Một nghiên cứu khác tại Hoa Kỳ kết luận: nhóm đang hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn gấp 2,8 lần (ở nam) và 3,1 lần (ở nữ) so với nhóm không hút thuốc.

Bệnh mạch vành

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa hút thuốc lá và nhồi máu cơ tim. Hút thuốc lá còn được xác định là yếu tố nguy cơ nghiêm trọng nhất của bệnh nhồi máu cơ tim ở phụ nữ dưới 50 tuổi. So với người không hút thuốc, nguy cơ mắc bệnh mạch vành tăng lên 1,6 lần ở người đã từng hút thuốc, lên 3 lần ở người hút từ 1-14 điếu/ngày và lên 5,5 lần ở người hút trên 14 điếu thuốc/ngày. Nguy cơ mắc và chết do bệnh mạch vành ở người hút thuốc cao hơn người không hút thuốc từ 2,5 lần đến 75 lần tùy theo mức độ hút thuốc, theo giới và tuổi.

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ chết đột ngột do kết dính tiểu cầu, giải phóng những chất catecholamines gây ra huyết khối cấp tính và loạn nhịp tim. Các bằng chứng cho thấy nicotine ảnh hưởng đến khả năng dẫn chuyền của tế bào cơ tim, thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa hút thuốc lá với loạn nhịp tim và chết đột ngột.

Bệnh mạch máu não 

Bệnh mạch máu não là một hội chứng tổn thương thần kinh do máu chạy lên não bị ngắt quãng. Tổn thương có thể từ nhẹ đến nặng tùy theo vùng não bộ nào bị tổn thương và có thể là tạm thời (thiếu máu cục bộ tam thời) hay vĩnh viễn (đột quỵ). Qua nhiều nghiên cứu, các nhà khoa đã khẳng định hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây nên bệnh mạch máu não. Một nghiên cứu theo dõi 40 năm từ 1951 đến 1991 của Doll và cs. năm 1994 khẳng định liên quan giữa hút thuốc và chết do đột quỵ. Nguy cơ chết do đột quỵ ở người hút thuốc cao hơn người không hút thuốc từ 1,3 đến 2,1 lần tùy vào loại đột quỵ. Với những người hút thuốc nhiều hơn, nguy cơ bị đột quy cao hơn, cụ thể là nguy cơ chảy máu dưới màng não tăng lên từ 1,4 đến 1,7 và 3,4 lần ở ba nhóm ương ứng hút từ 1-14 điếu thuốc lá/ngày, hút từ 15-24 điếu/ngày và hút từ trên 24 điếu/ngày.

Cao huyết áp

Một tác động nguy hiểm khác của khói thuốc là gây tăng huyết áp cấp tính. Trong vòng vài phút hút thuốc, nhịp tim bắt đầu tăng. Để phản ứng lại sự kích thích này, mạch máu co bóp buộc tim phải hoạt động nhiều hơn để luân chuyển ô xy. Một số nghiên cứu cho thấy huyết áp trở về bình thường giữa các lần hút thuốc nhưng nếu hút nhiều lần trong ngày làm tăng huyết áp trung bình, dẫn đến các bệnh về tim mạch.

Hút thuốc còn làm giảm tác dụng của việc điều trị tăng huyết áp do các chất hóa học trong khói thuốc kích thích gan sản xuất enzym vào trong máu làm hạn chế tác dụng của thuốc.

                                                                     Theo Kim Ngân (gia đình & trẻ em)

 

0 6388
Theo quan niệm y học cổ truyền thịt thỏ còn có tên thỏ nhục, vị ngọt, cay, tính bình, không độc, có tác dụng bổ trung ích khí, hoạt huyết giải độc, chống đau tê,

Theo quan niệm y học cổ truyền thịt thỏ còn có tên thỏ nhục,  vị ngọt, cay, tính bình, không độc, có tác dụng bổ trung ích khí, hoạt huyết giải độc, chống đau tê, chữa suy nhược gầy yếu, chứng tiêu khát (nhất là những người vừa ốm dậy),…

Một số bài thuốc thường dùng:

Bài 1: Suy nhược cơ thể sau khi ốm, gầy yếu: Thịt thỏ 200g, thái nhỏ, hấp cách thủy hoặc nấu chín nhừ với táo tàu 15 – 20g, rồi ăn nóng. Ngày làm một lần, một tuần ăn 2 lần. Mỗi liệu trình ăn 10 ngày.

 Thỏ nhục trị suy nhược cơ thể

Thịt thỏ có tác dụng bổ trung ích khí chữa suy nhược gầy yếu.

Hoặc: Thịt thỏ 200g, đại táo 20g. Thịt thỏ chặt nhỏ, đại táo xé. Hấp cách thủy hay nấu chín, ngày ăn 1 lần ăn liền 10 ngày.

Bài 2: Phục hồi cho người bệnh mỡ trong máu cao: Thịt thỏ 200g, vỏ quít (trần bì) 8g. Thịt thỏ chặt miếng to, cho muối, dầu, rượu, hành, gừng trộn đều, ướp trong 30 phút; vỏ quýt ngâm rửa, thái lát. Đun sôi dầu rán, cho thịt thỏ vào rán vừa chín; tiếp tục cho vỏ quýt, ớt tươi, gừng, hành vào xào với thịt thỏ, sau đó  nêm gia vị, đảo đều, đun đến khi thịt khô chuyển màu đỏ nâu sậm, đổ ra đĩa, gắp bỏ gừng hành, đổ ít dầu vừng lên. Ăn nóng, ngày ăn 1 lần, ăn liền 1 tuần.

Bài 3: Chữa thiếu máu, bổ ích gan thận, bổ trung ích khí: Câu kỷ tử 15g, thịt thỏ 250g. Rửa sạch câu kỷ tử cùng thịt thỏ thái miếng cho vào nồi với lượng nước vừa, dùng lửa nhỏ đun đến nhừ, nêm gia vị vừa đủ là được. Ngày một bữa, làm thức ăn vào bữa cơm.

Bài 4: Chữa chứng bệnh mất ngủ ở người bệnh tăng huyết áp: Thịt thỏ 500g, bách hợp, tam thất mỗi vị 12g, rửa sạch thịt thỏ, thái thành miếng, bách hợp, thái tam thất rửa sạch. Cho cả ba thứ vào trong nồi, cho nước vừa đủ ngập, đun sôi xong để nhỏ lửa cho sôi lăn tăn đến khi thịt chín nhừ, cho các gia vị vào là được. Dùng ăn nóng, ngày một lần, dùng liền 10 ngày.

Bài 5:  Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Thịt thỏ 200g, câu kỷ tử 15g. Đun nhỏ lửa với nước đến khi thịt nhừ, thêm ít muối, ăn làm một lần trong ngày. Dùng 12 ngày.

 Thỏ nhục trị suy nhược cơ thể

Bên cạnh đó, các bộ phận của thỏ đều được dùng làm thuốc  như xương thỏ (thỏ cốt) có vị ngọt, chua, tính bình, có tác dụng trấn tĩnh, giải độc, tiêu sưng, háo khát dưới dạng nước sắc. Gan thỏ (thỏ can) có vị ngọt, đắng, mặn, tính hàn, có tác dụng bổ gan, làm sáng mắt chữa choáng váng do gan yếu. Tuy nhiên, muốn sử dụng các bài thuốc trên cho hiệu quả và phù hợp với từng cơ địa phải đến các cơ sở Đông y để được bắt mạch và điều trị.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn không dùng.

Theo Bác sĩ Nguyễn Nam (Sức khỏe và đời sống)

 

Huyết áp (HA) là áp lực máu lưu thông tác động lên thành mạch. Huyết áp tối đa (HA tâm thu) là khi tim bóp tống máu (bình thường khoảng 120mmHg)…

Huyết áp (HA) là áp lực máu lưu thông tác động lên thành mạch. Huyết áp tối đa (HA tâm thu) là khi tim bóp tống máu (bình thường khoảng 120mmHg), huyết áp tối thiểu (HA tâm trương) là khi tim giãn (bình thường khoảng 80mmHg). 

Hiểu đúng và đủ về tăng huyết áp

Cần kiểm tra huyết áp thường xuyên để phát hiện sớm THA.

Tất cả các hướng dẫn điều trị tăng huyết áp (THA) trên thế giới đều chọn ngưỡng gọi là THA đối với người từ 18 tuổi trở lên khi người đó có ít nhất một trong hai số huyết áp sau:

(1) HA tối đa lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và/hoặc (2) HA tối thiểu lớn hơn hoặc bằng 90mmHg. Như vậy, nếu con số HA là 150/80, 130/100 hoặc 150/90mmHg… sau nhiều lần đo thì đều gọi là tăng huyết áp.

Một số khuyến cáo về chẩn đoán THA gần đây còn lưu ý rằng, THA là một hội chứng tim mạch tiến triển được khẳng định khi: (1) HA đo tại cơ sở y tế lớn hơn hoặc bằng 140/90mmHg hoặc khi đo tại nhà và khi theo dõi HA lưu động 24 giờ lớn hơn hoặc bằng 135/85mmHg hoặc (2) chỉ số HA không tăng nhưng có bằng chứng của tăng huyết áp như đang dùng thuốc hạ HA hoặc có biến chứng như bệnh tim do tăng huyết áp, tai biến mạch máu não…

THA được chia làm hai loại là tăng huyết áp nguyên phát và tăng huyết áp thứ phát, trong đó THA nguyên phát (THA không rõ nguyên nhân) chiếm đến 93 – 95%. Còn THA thứ phát là từ một nguyên nhân nào đó, chẳng hạn do: U tủy thượng thận; U lớp cầu của vỏ thượng thận; Hẹp động mạch thận; Hẹp eo động mạch chủ; Hở van động mạch chủ; Viêm cầu thận mạn, sỏi thận; Sử dụng một số loại thuốc làm tăng giữ muối và nước trong cơ thể…

Thực hiện lối sống lành mạnh phòng chống THA

Hàng ngày, tập thể dục, đi bộ 30-45 phút.

Ăn nhạt.

Tăng cường ăn rau xanh và hoa quả tươi.

Hạn chế ăn mỡ động vật và thức ăn chứa nhiều cholesterol.

Hạn chế uống rượu bia.

Không hút thuốc lá, thuốc lào

Có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý.

Tránh lo âu hoặc căng thẳng thần kinh.

Ở những trường hợp tăng huyết áp không rõ nguyên nhân, người ta nghĩ đến nhiều yếu tố nguy cơ có thể phối hợp với nhau gây tăng huyết áp như: tuổi tác cao, nam giới, yếu tố di truyền (cha mẹ mắc bệnh THA, sẽ có một tỷ lệ con cũng bị THA), béo phì, tiểu đường, hút thuốc lá, ít vận động, stress, thói quen ăn mặn

Điểm khác biệt là tăng huyết áp có nguyên nhân thì có thể điều trị triệt để được, ví dụ tăng huyết áp do hẹp động mạch thận thì sau khi nong động mạch bị hẹp, HA có thể trở về mức bình thường, không phải uống thuốc lâu dài.

Việc đo kiểm tra HA thường xuyên là cách đơn giản nhất, duy nhất để phát hiện sớm tăng huyết áp. Để đo HA, người được đo cần được nghỉ khoảng 5 phút trước khi đo; không sử dụng các chất kích thích trước đó 2 giờ (rượu, thuốc lá, cà phê…); không dùng thuốc cường giao cảm (như một số thuốc nhỏ mũi)… Khi thấy xuất hiện các triệu chứng sau thì nên đo HA, đó là: nhức đầu (thường là sau gáy); xây xẩm; hồi hộp; dễ mệt; bất lực (ở nam giới); mờ mắt; dễ toát mồ hôi; yếu nửa người hay một chi; đau ngực; khó thở; tiểu nhiều; dễ xúc động; tăng cân… Với người lớn, dù trong người thấy bình thường nhưng cũng cần kiểm tra định kỳ số đo huyết áp.

Cần thay đổi hành vi, lối sống không có lợi cho sức khỏe như hút thuốc lá, uống rượu, bia quá độ…; chế độ dinh dưỡng cần giảm muối, bớt mỡ, tăng cường rau, quả, trái cây tươi; vận động thể lực đều đặn… là biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh tăng huyết áp.

Theo suckhoedoisong.vn/Dự án Phòng chống THA-Viện Tim Quốc gia

0 500

Đột quỵ não (còn gọi là tai biến mạch máu não) là do lượng máu lên não bị gián đoạn một cách đột ngột, gây thiếu máu não. Bệnh gặp nhiều nhất ở người cao tuổi. Nếu xử trí đúng cách, kịp thời sẽ giúp người bệnh hạn chế tử vong và có tiên lượng tốt hơn.

Đột quỵ não có thể khiến một người đang khỏe mạnh bỗng dưng gục xuống, liệt nửa người, sống với các di chứng rất nặng nề hoặc bị hôn mê, thậm chí dẫn đến tử vong. Đột quỵ não thường xảy ra bởi 2 nguyên nhân chính, đó là do động mạch não bị tắc (bởi mạch máu não bị xơ vữa làm lòng mạch hẹp dần cản trở dòng máu đi lên nuôi dưỡng não và tắc tại chỗ hoặc do cục máu đông, mảng xơ vữa động mạch di chuyển từ những vị trí khác đến động mạch não gây tắc mạch). Nguyên nhân thứ hai là do mạch máu bị vỡ bởi tăng huyết áp (THA) đột ngột làm vỡ động mạch não hoặc do dị dạng động mạch não.

thoi-diem-de-dot-quy-1438744984033

Trong 2 nguyên nhân chính đó, vai trò của THA là yếu tố quan trọng nhất gây xuất huyết não, làm tăng nguy cơ đột quỵ. Một số người cứ nghĩ rằng THA mới là đáng nguy hại vì có khả năng gây đột quỵ não, ít ai nghĩ rằng, người có chứng huyết áp thấp cũng có khả năng gây tai biến mạch máu não. Nhiều trường hợp bị huyết áp thấp dẫn đến tai biến mạch máu não, trong đó phần lớn là nhồi máu não, tỷ lệ này chiếm khoảng 30%. Bệnh đái tháo đường cũng là một loại bệnh có khả năng làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Theo thống kê, nguy cơ đột quỵ não tăng dần theo tuổi, tuổi càng cao, mắc các bệnh về THA, bệnh xơ vữa động mạch, đái tháo đường hoặc huyết áp thấp càng gia tăng, trong đó người cao tuổi là nam giới có nguy cơ cao hơn nữ giới, tuy vậy, tỷ lệ tử vong ở nữ giới lại cao hơn nam giới. Ngoài ra, những người lạm dụng rượu, bia, chất gây nghiện (thuốc lá, cà phê, trà đặc,…) cũng là đối tượng có nguy cơ đột quỵ não.

Làm thế nào có thể nhận biết đột quỵ não?

Đột quỵ não nếu phát hiện sớm sẽ rất có lợi cho người bệnh, bởi vì, có thể chữa được và hạn chế các di chứng sau tai biến.

Biểu hiện sớm nhất của người đột quỵ não là đau đầu dữ dội, nói khó, mắt nhìn không rõ ở một hoặc hai mắt, liệt mặt, miệng méo, nhân trung lệch sang một bên. Khi đang trong cơn đột quỵ, một triệu chứng khá phổ biến là một cánh tay hoặc một chân sẽ dần yếu đi và bị tê liệt (thông thường, các chi bị liệt nằm ở phía đối diện của vùng não bị đột quỵ), tê tay, yếu tay cho nên cầm nắm khó khăn, đi đứng không vững, thậm chí bị ngã khuỵu.

Nếu thấy người bệnh đau đột ngột ở cánh tay, một chân, một bên mặt hay một bên ngực, không nên chủ quan, bỏ qua nó, nhất là nữ giới, bởi vì, phụ nữ có những triệu chứng đột quỵ bất thường hơn nam giới và phổ biến nhất là chứng đau. Một số có thể có chóng mặt, buồn nôn, nôn, đi lại khó khăn, tiểu không tự chủ coi chừng là những dấu hiệu của đột quỵ não, nhất là người có bệnh THA, đái tháo đường, xơ vữa động mạch hoặc huyết áp thấp mạn tính.

Theo BS. Đặng Bùi Phương Linh (SKĐS)

phim thuyet minh