Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Tags Posts tagged with "sản phụ"

sản phụ

0 1641

Trẻ sinh non là khi trẻ chào đời trước 37 tuần mang thai của người mẹ. Trẻ sinh non thường có cân nặng dưới 2.500g, nếu trẻ sinh càng non thì cân nặng càng thấp và nguy cơ mắc một số bệnh lý càng cao. Sau đây là một số bệnh lý thường gặp ở trẻ sinh non.

Rối loạn thân nhiệt: Hạ thân nhiệt làm tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh lên rất cao, vì vậy, việc phòng chống hạ thân nhiệt cho trẻ sơ sinh là rất cần thiết.

mot-so-benh-ly-thuong-gap-o-tre-sinh-non

Bình thường thai nhi khi nằm trong tử cung thường có thân nhiệt cao hơn thân nhiệt người mẹ từ 0,5 đến 1 độ C, nên ngay khi ra đời, bé có nguy cơ bị giảm nhiệt rất nhanh, thường vào những đêm giá lạnh hay thậm chí cả ban ngày nóng nực. Đối với trẻ sơ sinh non tháng và thấp cân giảm lớp cách nhiệt và thiếu lớp mỡ dưới da nên nhiệt độ ngoài da tăng gây sự chênh nhiệt độ nhiều làm tăng sự mất nhiệt. Vì vậy, khi nuôi dưỡng cha mẹ cần để ý cách ủ ấm, mặc quần áo, quấn tã đúng cách, tránh để bé ướt, luôn lau khô và quấn tã lót cho bé, nếu không nhiệt lượng mất đi khiến bé dễ bị mất nhiệt. Nhiệt độ trong phòng bé nằm tối thiểu là 30-32 độ C trong tuần đầu và 28-29 độ C trong những tuần tiếp theo. Bé cần nằm chung với mẹ vì nhiệt độ ngoài da của mẹ cao hơn sẽ truyền hơi ấm cho con. Sử dụng các phương tiện ủ ấm như lồng ấp, túi chườm ấm… hoặc ủ vào lồng ngực mẹ theo phương pháp chuột túi trong trường hợp cần di chuyển bé.

Đối với trường hợp bé tăng thân nhiệt, là do trung tâm điều hòa nhiệt của trẻ sơ sinh chưa hoàn thiện, khi đó thân nhiệt trẻ trên 38 độ C, da sẽ nóng và rất đỏ, gây vã mồ hôi, tăng nhịp tim, nhịp thở, gây suy hô hấp và mất nước. Cha mẹ ngay lập tức cần hạ bớt nhiệt độ trong phòng và cởi bớt quần áo, tránh gió lùa và cho trẻ bú mẹ ngay. Sau đó cần kiểm tra bé có gì bất thường như: do ủ ấm và nhiệt độ trong phòng của trẻ quá cao hoặc viêm nhiễm ở rốn, họng,… nếu tình trạng không cải thiện cần cho bé tới cơ sở y tế để được kiểm tra.

Rối loạn tiêu hóa: Trẻ sơ sinh nhất là trẻ đẻ non rất dễ gặp các biểu hiện rối loạn tiêu hóa như trớ sữa, tiêu chảy, táo bón, đau bụng, bú kém… Biến chứng nguy hiểm nhất là viêm ruột hoại tử. Ruột của bé không được đủ máu nuôi sẽ mỏng dần rồi hoại tử hoặc thủng. Do đó, khi thấy bé có biểu hiện nghi ngờ như: trướng bụng, nôn dịch xanh thì phải đến bác sĩ ngay. Cần cho bé ăn sớm những giờ đầu sau sinh. Cần vệ sinh sạch sẽ khi chăm sóc, cho trẻ ăn. Theo dõi lượng sữa không bú hết mỗi bữa ăn. Theo dõi các rối loạn khác, để kịp thời có hướng xử trí: rối loạn hô hấp, thở nhanh, thở co kéo, màu da, môi trẻ, các chi ngón, phân, nước tiểu… Mọi hiện tượng bất thường, dù nhỏ, đều phải được phát hiện, ghi chép để xử trí kịp thời.

Suy hô hấp và ngạt: Trẻ càng sinh non tháng càng dễ bị suy hô hấp. Nổi bật nhất của suy hô hấp là bệnh màng trong. Bệnh này do cơ thể bé sinh non thiếu surfactant – chất có chức năng giữ phế quản phổi không bị xẹp khi thở ra.

Ngoài ra, ở trẻ sinh non thường bị ngạt trong giai đoạn sơ sinh (khoảng 4 tuần sau khi chào đời). Ngạt có thể khiến bé tử vong nếu không được bác sĩ chẩn đoán trước tình hình và xử trí kịp thời.

Vàng da – nhiễm khuẩn: Vàng da rất dễ xảy ra do trẻ sinh non, bệnh rất nguy hiểm, diễn tiến nhanh, nếu không phát hiện và điều trị kịp sẽ gây nhiễm độc thần kinh khiến trẻ tử vong hoặc để lại di chứng suốt đời. Bệnh do gan của trẻ sinh non chưa phát triển đủ để thực hiện chức năng chuyển hóa. Mặt khác, do trẻ sinh non vốn có sức đề kháng yếu nên cũng dễ bị nhiễm khuẩn. Nhiễm khuẩn huyết ở trẻ liên quan nhiều đến bà mẹ trong thời kỳ mang thai, điều kiện và môi trường nuôi dưỡng trẻ, thời gian chuyển dạ, thời gian vỡ ối, tình trạng can thiệp trong lúc sinh… Vì vậy, mỗi bà mẹ cần nâng cao kiến thức về chăm sóc thai nghén, khám thai định kỳ; nếu có viêm nhiễm âm đạo (hoặc bệnh lây qua đường tình dục…) thì phải được chữa trị triệt để. Khi đẻ, phải đến cơ sở y tế để được nữ hộ sinh theo dõi và đỡ. Dụng cụ đỡ phải tiệt trùng, bàn tay người đỡ phải được rửa sạch bằng nước chín, đi găng vô trùng. Nếu thai phụ vỡ ối sớm, phải dùng ngay kháng sinh để phòng nhiễm khuẩn.

Khi chăm sóc trẻ, phải rửa tay thật sạch bằng xà phòng diệt khuẩn để tránh làm lây lan và tái nhiễm cho trẻ; dùng tã lót, áo mũ sạch sẽ vô trùng. Đặc biệt khi thấy trẻ có triệu chứng nêu trên, cần đưa đến bệnh viện ngay.

Bác sĩ Ngô Minh

Theo Suckhoedoisong.vn

0 1181

Thông thường sau khi sinh thường tại cơ sở y tế 1-2 ngày sản phụ sẽ được xuất viện. Sau khi về nhà cách chăm sóc sau sinh là vấn đề quan trọng, cần phải có sự theo dõi  chặt chẽ và tuân thủ hướng dẫn sau.

Sau sinh sản phụ thường bị mất máu nhiều nên cần được bồi dưỡng, ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng, không nên kiêng khem quá độ, ăn những thức ăn dễ tiêu, tránh các gia vị có chất kích thích như ớt, cà phê, trà sẽ gây ảnh hưởng đến việc tiết sữa. Để có đủ sữa cho con bú, ngoài việc tích cực cho con bú, các bà mẹ nên uống đủ 2-3 lít nước mỗi ngày và uống thêm nước hoa quả, sữa.

 cham-soc-dung-cach-san-phu-sau-sinh

Đối với vú, sau khi sinh từ 2-3 ngày, sữa bắt đầu tiết ra, nên cho bé bú ngay sữa non, bú nhiều lần trong ngày để kích thích tiết sữa. Nếu việc tiết sữa bị tắc nên tích cực cho bé bú, triệu chứng đó sẽ dần dần mất đi. Tránh vắt, bóp sai cách gây vỡ tuyến, tia sữa. Cho trẻ bú mẹ sẽ giúp tử cung người mẹ co bóp tốt, sớm trở lại kích thước bình thường và tạo trạng thái tinh thần phấn chấn, gắn bó với con nơi người mẹ.

Đối với vệ sinh thân thể,  cần vệ sinh vùng âm hộ ít nhất là 3 lần/ngày vào sáng, chiều và tối trước khi đi ngủ. Nếu sản dịch ra nhiều, sản phụ nên vệ sinh nhiều lần hơn. Cần thay  băng, giấy vệ sinh, khăn, nước rửa cũng phải sạch sẽ, tốt nhất nên dùng nước đun sôi để nguội hoặc nước ấm. Có thể dùng dung dịch vệ sinh sát khuẩn pha loãng để rửa. Sau khi rửa xong thì dùng khăn thấm cho khô…

Trong quá trình sinh nở, cơ thể sản phụ tiết ra nhiều mồ hôi, nên cần phải tắm gội cho sạch sẽ. Nhất là vào mùa hè trời nóng, mồ hôi ra nhiều, để lâu không tắm, cơ thể càng bẩn, càng dễ nhiễm khuẩn gây nguy hiểm cho cả mẹ và bé. Tuy nhiên, sau khi sinh khoảng 2-3 ngày có thể tắm toàn thân nhưng cần tắm nhanh từ 5 – 10 phút, không nên tắm trong bồn hay trong chậu (đặc biệt là không nên ngâm mình trong nước). Phòng tắm phải kín gió và nên tắm bằng nước ấm dù ngoài trời nóng hay lạnh. Tắm xong phải lau khô người thật nhanh và mặc quần áo kín cổ, tay chân. Với các sản phụ đẻ mổ hay cắt tầng sinh môn, nên thận trọng với vết thương để tránh bung tuột mối chỉ. Cũng từ 3-4 ngày sau sinh, sản phụ có thể gội đầu nhưng nên gội nhanh và lau đầu cho nhanh khô, tốt nhất là dùng máy sấy để sấy khô tóc. Không tắm gội cùng lúc, mà nên tắm tầm 9 – 10 giờ sáng rồi gội đầu vào buổi trưa hoặc xế trưa để tránh phải tiếp xúc lâu với nước, tránh bị chóng mặt và có thể té ngã do phải vận động nhiều và cúi đầu lâu.

Duy trì và ổn định sức khỏe cho bà mẹ sau sinh là một trong những vấn đề quan trọng. Tập thể dục là một trong những cách tốt nhất. Để tránh tình trạng bị chứng són tiểu sau này, bà mẹ có thể tập hít thở; có thể dùng, tã cotton bó bụng để tránh xổ bụng, tập thể dục nhẹ nhàng để sớm lấy lại hình dáng thon thả.

Bác sĩ Phan Văn Thám

Theo Suckhoedoisong.vn

0 910
Để đứa trẻ sau này có hàm răng khỏe mạnh thì chế độ dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai là vô cùng quan trọng.

Trong thời kỳ thai nghén, nếu người mẹ thiếu chất dinh dưỡng, nhất là không được bổ sung đầy đủ canxi và khoáng chất, sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển răng của trẻ sau này.

Vì vậy, để đứa trẻ sau này có hàm răng khỏe mạnh thì chế độ dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai là vô cùng quan trọng. Dưới đây là một số chất người mẹ cần phải bổ sung trong thời kỳ thai nghén để đứa trẻ ra đời có hàm răng khỏe mạnh.

Chất đạm:

Đạm, chất căn bản của mọi loại tế bào, trong đó có răng, là chất phải có trong thời kỳ mẹ mang thai. Lượng protein (chất đạm) của người mẹ có thai tăng lên so với bình thường trung bình là 10g/ngày, vào 6 tháng cuối tăng thêm là 15g/ngày. Thiếu đạm, răng sữa có thể không nhú được mà sau này còn dễ bị hỏng.

Chất xơ:

Chất xơ trong loại thực phẩm này có tác dụng tẩy cọ, chải sạch răng, kích thích hệ thống tuần hoàn ở niêm mạc miệng, lợi và mô quanh răng, kích thích nước bọt chảy nhiều để tiêu hóa tốt thức ăn. Nhờ đó, nó tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa bệnh răng miệng.

Dinh dưỡng cho sản phụ và sức khỏe răng miệng của bé

Chất xơ có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa bệnh răng miệng

Canxi:

Ngay trong khi còn nằm trong bụng mẹ, mầm răng của thai nhi bắt đầu hình thành khoảng từ cuối quý hai và quý ba của thai kỳ. Cùng với hình thành cung hàm, mầm răng được hình thành tồn tại suốt trong khi thai nằm trong bụng mẹ. Mầm răng chủ yếu là canxi. Trong thời kỳ này mầm răng tích lũy dần canxi để 4 hoặc 5 tháng sau khi sinh, răng sữa bắt đầu xuất hiện trong đó hai răng cửa của hàm trên xuất hiện trước. Nếu thiếu chất canxi, răng sẽ mọc chậm hoặc không mọc. Trong thời kỳ mang thai mà mẹ không được cung cấp đủ canxi thì không những mầm răng phát triển không tốt, sau sinh đứa trẻ sẽ chậm mọc răng, chất lượng răng không tốt, dễ sún, dòn hay bị vỡ. Điều này không những ảnh hưởng đến sức nhai, khả năng khiến trẻ tiêu hóa chậm lên cân. Vì vậy, trong khi có thai, thai phụ phải được cung cấp đầy đủ một lượng canxi từ 1.500 – 2.000mg để đảm bảo cho thai nhi phát triển về bộ xương cũng như về mầm răng. Nếu chứa nhiều thai thì liều lượng canxi phải tăng nhiều hơn trong thời kỳ thai nghén và cho con bú để đáp ứng nhu cầu phát triển của tất cả các thai. Nếu không được cung cấp đầy đủ, để phục vụ nhu cầu cho thai nhi phát triển và nuôi con bằng sữa mẹ, theo lẽ tự nhiên, cơ thể tự điều bằng cách lấy bớt canxin, gây nên tình trạng loãng xương, có khi gây dính cột sống, dễ bị gãy xương. Nguồn thực phẩm tốt nhất chứa canxi là sữa và những sản phẩm làm từ bơ sữa. Tuy nhiên, nếu bạn không chịu được đường lactose hoặc không thích sữa và những sản phẩm từ sữa, bạn cần hỏi bác sĩ về loại thuốc bổ sung canxi. (Những dấu hiệu cho thấy không chịu được đường lactose là tiêu chảy, sưng phù hay đầy khi sau khi uống sữa hoặc sản phẩm làm từ sữa).

Vitamin D:

Vitamin D là chất xúc tác giúp cho cơ thể hấp thu canxi, phốt pho (những chất rất cần thiết cho sự cấu tạo xương, răng và duy trì mọi hoạt động của cơ thể). Nếu thiếu vitamin D, trẻ sẽ chậm mọc răng, men và ngà răng bị mềm hơn bình thường nên răng dễ bị sâu và bệnh này sẽ tiến triển nhanh hơn bình thường. Vitamin D có nhiều trong gan cá và gan các động vật khác, lòng đỏ trứng, dầu thực vật… Liều dùng cần thiết 400 – 800 IU/ngày.

Vitamin A:

Vitamin A để tạo chất keratin cho men răng (enamel). Thiếu sinh tố A làm men nứt, xương hàm kém phát triển khiến cho răng mọc không ngay hàng. Vitamin A có nhiều trong các loại rau trái có màu đỏ như cà rốt, cà chua, gấc, bí đỏ… hay các thực phẩm như: gan lợn, gan cá, lòng đỏ trứng, bầu dục lợn, sữa… Loại vitamin này tan trong dầu, khá bền, khó bị tiêu hủy bởi nấu nướng. Mỗi người cần 1.500 – 4.000 IU/ngày; phụ nữ có thai cần 5.000 – 6.000 IU/ngày.

Iod:

Người mẹ trước và trong quá trình mang thai bị thiếu iod sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển thai nhi có khi dẫn tới những dị tật bẩm sinh với bệnh trì độn. Đồng thời, iod còn giúp răng mau nhú.

Theo  BS. ANH ĐỨC (Sức khỏe và Đời sống)

0 889

Cây mít rất thân thuộc với người Việt Nam. Trái mít giàu dinh dưỡng, các bộ phận của cây mít, trái mít nếu biết sử dụng đều là “nam dược thần hiệu”. Múi mít vị ngọt, mùi thơm, tác dụng bổ tỳ, ích khí, khỏi phiền, giải khát, giải rượu, làm đẹp da.

Cây mít rất thân thuộc với người Việt Nam. Trái mít giàu dinh dưỡng, các bộ phận của cây mít, trái mít nếu biết sử dụng đều là “nam dược thần hiệu”. Múi mít vị ngọt, mùi thơm, tác dụng bổ tỳ, ích khí, khỏi phiền, giải khát, giải rượu, làm đẹp da. Gỗ mít, nhựa mít tác dụng tiêu sưng, giải độc, chữa sưng tấy mụn nhọt, chùm gửi mít chữa phong tê thấp, đặc biệt, các món ăn từ mít non rất tốt cho bà mẹ sau khi bị thiếu sữatắc tia sữa.

tải xuống

Xin giới thiệu một số món ăn từ cây mít cho sản phụ thiếu sữa, tắc sữa.

Móng giò lợn 1 cái, bì lợn 100g, gạo nếp 100g, ngô non 100g, trái mít non 50g, đu đủ non 1 quả 50g, gia vị vừa đủ. Móng giò làm sạch, đổ vào nồi cùng với bì lợn ninh nhừ rồi cho các nguyên liệu khác vào, nấu tiếp cho chín nhừ là được. Ăn nóng ngày 2 – 3 lần, ăn trong vài ngày.

  1. Quả mít non 1 quả 50g, thịt lợn nạc băm nhỏ 200g, hạt sen 100g, gạo nếp 100g, gia vị vừa đủ. Các nguyên liệu làm sạch, cho vào nồi trừ thịt nạc, đổ nước vừa đủ nấu chín nhừ, cho thịt lợn băm vào quấy đều đến khi sôi là được. Ăn nóng ngày 2 – 3 lần, ăn trong vài ngày.
  2. Quả mít non 200g bỏ vỏ thái nhỏ, thịt lợn nạc 100g, gia vị vừa đủ. Cho thịt vào nồi xào chín tới thì cho mít đã thái nhỏ vào. Ăn nóng với cơm trong vài ngày.
  3. Hạt mít 120g luộc chín bóc vỏ, nấu với thịt nạc (hoặc ninh với móng giò lợn) thật chín, nêm gia vị. Ăn suông hoặc ăn với cơm.
  4. Lá mít non 50g, cá quả 1 con 200g, gạo nếp 100g, gừng tươi 3 lát, gia vị vừa đủ. Cá quả lấy phần nửa con phần dưới, ướp cá với gừng và gia vị. Lá mít thái chỉ. Cho gạo vo sạch vào nồi, đổ nước vừa đủ nấu cháo, gần chín, cho cá vào nấu tiếp cho nhừ rồi cho các nguyên liệu khác vào, đun sôi lại là được. Ăn nóng ngày 2 – 3 lần trong vài ngày.
  5. Lá mít tươi 40g sắc uống, có thể thêm hạt cây gạo (sao vàng) 15g sắc uống.
  6. truyen-cuoi-dan-gian-muoi-qua-mit

Cây và quả mít đều là vị thuốc

 

Ngoài ra, các bộ phận khác của cây mít cũng là những vị thuốc chữa nhiều bệnh:

Mít chín ăn tươi, làm nước giải khát, rượu mít, mứt mít ướt, mít khô bổ dưỡng, chứa nhiều đường bột, khoáng, vitamin chữa đầy bụng khó tiêu.

– Chùm gửi cây mít chữa tê thấp, đau lưng, tê mỏi chân tay và lợi sữa; dùng tươi hoặc khô dưới dạng cao, đơn, hoàn, tán, thang, trà, rượu.

– Vỏ thân cây mít 20g dùng làm thuốc an thần, giãn cơ, hạ huyết áp bằng cách sắc hoặc mài hòa nước uống.

– Lá mít mật già 30g chữa chứng đái đục (cặn trắng) ở trẻ em bằng cách sao vàng hạ thổ nấu nước uống.

Lá mít non giã với ít dấm đắp nhọt cho vỡ mủ.

– Lá mít, lá mía, than tre lượng bằng nhau sắc uống chữa hen suyễn.

Theo BS. Phó Đức Thuần (SKĐS)

0 642

Sau khi sinh, một số sản phụ có biểu hiện đau tức âm ỉ bụng dưới. Theo quan niệm của y học cổ truyền, nguyên nhân thường do khí huyết hư, do huyết ứ hoặc hàn (lạnh) gây nên. Tùy từng nguyên nhân mà có cách điều trị phù hợp.

Nếu nguyên nhân do khí huyết hư, dùng bài thuốc:

Gừng, đương quy, mỗi vị 15g, thịt dê 250g. Thịt dê rửa sạch, chặt miếng, đương quy, gừng, dùng vải thưa túm lại để chung với thịt dê, thêm 500ml nước, nấu cho đến khi thịt mềm, vớt bỏ thuốc, nêm gia vị vừa ăn. Mỗi ngày ăn 1 lần, ăn liền 4 – 5 ngày.

Hoặc đường đỏ nấu với 1 – 2 quả trứng gà để ăn, mỗi ngày ăn một lần, ăn liền 4 – 5 ngày

Công dụng tuyệt vời của gừng khi trời lạnh

Công hiệu: Bổ huyết, hoạt huyết. Chủ trị chứng đau bụng sau khi sinh do khí huyết hư.

Nếu nguyên nhân do huyết ứ, dùng bài:

Đương quy 9g, xuyên khung 9g, đào nhân 9g, gừng rang 6g, cam thảo nướng 5g, ích mẫu thảo 9g, ngũ linh chi 9g, bồ hoàng 9g, sắc lấy nước uống. Dùng liên tục 3 ngày.

Hoặc cây gai 120g, thái nhỏ, dùng rượu sao nóng, lấy cho vào túi vải chườm lên bụng, ngày làm 2 lần.

Công hiệu: Hoạt huyết trừ ứ, thông lạc chỉ thống. Chủ trị đau bụng sau sinh do huyết ứ.

image-thumb-ndt1410839862

Nếu nguyên nhân do hàn (lạnh), dùng bài:

Gừng 3g, tiêu sơn tra, đường đỏ, mỗi thứ 30g. Ba vị thuốc trên cho vào ấm, chế nước sôi vào, đậy nắp ngâm khoảng 15 phút là uống được, dùng thay trà trong ngày.

Hoặc gừng sấy, xuyên khung, mỗi thứ 3g; đương quy, đào nhân, mỗi thứ 9g. Tất cả sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Uống 3 ngày.

Hoặc: Muối ăn một muôi rang nóng, cho vào túi vải chườm vùng bụng dưới. Hoặc rang khô lá ngải cứu, đắp vào rốn lúc đang còn nóng.

22-3-1395888630143

Gừng, ngải cứu, đương quy chữa đau bụng sau sinh do lạnh.

Công hiệu: Tán hàn, làm ấm bên trong, giúp giảm đau nhanh. Chủ trị chứng đau bụng sau khi sinh do lạnh.

Sản phụ cần lưu ý phải vệ sinh vùng kín sạch sẽ và giữ ấm cơ thể theo hướng dẫn của cán bộ y tế. Khi dùng các bài thuốc trên cần tham khảo ý kiến của bác sĩ Đông y hoặc lương y có uy tín. Nếu không đỡ hoặc đau bụng kèm theo sốt cần đến ngay cơ sở y tế khám để và có chỉ định điều trị phù hợp.

Theo Bác sĩ Thúy An (SKĐS)

0 495

Tôi đang nuôi con bú. Gần đây tôi hay bị đau nửa đầu, vậy tôi có thể dùng thuốc ergotamin chữa đau nửa đầu được không. Mong bác sĩ cho lời khuyên

Tôi đang nuôi con bú. Gần đây tôi hay bị đau nửa đầu, vậy tôi có thể dùng thuốc ergotamin chữa đau nửa đầu được không. Mong bác sĩ cho lời khuyên

Nguyễn Thị Hân (Bắc Giang)

Chứng đau nửa đầu (migraine) do nhiều nguyên nhân khác nhau, gây ra migraine hay gặp ở lứa tuổi trưởng thành, nữ bị nhiều gấp 3 lần nam, bệnh có tính chất gia đình, đau thường biểu hiện khu trú ở một bên đầu, cơn xảy ra bất kỳ lúc nào khiến bệnh nhân luôn trong tình trạng lo lắng, giảm sút nghiêm trọng chất lượng cuộc sống. Hiệp hội Nhức đầu Quốc tế (IHS) đã thống nhất phân ra hai loại nhức đầu migraine là migraine không có aura và migraine có aura (aura là những triệu chứng xảy ra trước hoặc đồng thời với cơn nhức đầu).

dau nua dau

​Đau nửa đầu có rối loạn vận mạch.

Loại thuốc chống đau nửa đầu có tên quốc tế là ergotamin tartrate dùng để điều trị đau đầu nặng, đau nửa đầu và đau đầu do vận mạch. Tuy nhiên thuốc có chống chỉ định đối với các bệnh nhân bị rối loạn mạch ngoại biên, bệnh mạch ngoại biên, tăng huyết áp, thiếu máu cục bộ cơ tim, tiền sử đau thắt tim do gắng sức, bệnh loét dạ dày, bệnh thận hoặc gan, suy dinh dưỡng, quá mẫn với nấm cựa gà, nhiễm khuẩn, và người mang thai do tác dụng trợ đẻ của thuốc. Thuốc cũng không nên dùng để dự phòng cơn đau nửa đầu. Không dùng ergotamin cho trẻ em. Ngoài ra cần thận trọng dùng cho người bị bệnh thiếu máu hoặc cường giáp nặng, suy giảm chức năng gan. Trong thai kỳ cũng không dùng ergotamin.

Khi đang trong thời kỳ cho con bú như chị cũng không nên dùng ergotamin vì thuốc bài tiết vào sữa và có thể gây những tác dụng không mong muốn như buồn nôn, tiêu chảy, mạch yếu, huyết áp không ổn định hoặc cơn co giật và có thể ngăn cản bài tiết sữa do ức chế bài tiết prolactin ở tuyến yên của người mẹ. Vì thế chị không nên dùng loại thuốc này. Tốt nhất chị nên đi khám để được bác sĩ chuyên khoa khám và tư vấn điều trị. Chúc chị mau lành bệnh.

Theo BS.Bồng Trung (SKĐS)