Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Tags Posts tagged with "nội tiết"

nội tiết

1 779
Các bác sĩ cảnh báo rất nhiều thói quen sinh hoạt mới trong cuộc sống hiện đại đang làm tăng nguy cơ ung thư vú ở chị em phụ nữ.
  1. Tự ý dùng thuốc nội tiết kéo dài

Hiện nay, rất nhiều chị em, đặc biệt là những người trên 40 tuổi đã vội vàng và tự ý dùng các thuốc thay thế nội tiết, với mục đích nhằm trẻ hóa, kéo dài thời gian kinh nguyệt, chất lượng cuộc sống vợ chồng. Họ thường mua và uống theo phong trào, theo kiểu: “Các chị, các cô ở cùng cơ quan ai cũng dùng như thế”.

4 thói quen tưởng vô hại có thể gây ung thư vú

Theo Bác sĩ sản khoa Nguyễn Thị Tân Sinh, nhu cầu được kéo dài tuổi thanh xuân là hoàn toàn chính đáng. Nhưng các thuốc thay thế nội tiết chỉ được sử dụng trong thời gian nhất định theo chỉ định của thầy thuốc, khi đã loại trừ các yếu tố nguy cơ. Nếu không, đây sẽ là một nguy cơ gia tăng ung thư vú.

  1. Thường xuyên làm việc ban đêm

Theo BS Tân Sinh, với những người thường xuyên phải làm việc ban đêm – rất nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng đã chứng minh – có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn. Họ có thể là những người quét đường, công nhân làm ca kíp, thậm chí các nhân viên y tế.

4 thói quen tưởng vô hại có thể gây ung thư vú

Ban đêm là thời gian để cơ thể nghỉ ngơi, tái tạo các tế bào theo cơ chế sinh học bình thường. Thế nhưng khi làm việc, họ vẫn bị ánh sáng chiếu, làm gia tăng sự biến đổi bất thường của tế bào dẫn đến ung thư.

  1. Quá “tích cực” bôi kem chống nắng

Tình trạng chị em quá “tích cực” bôi kem chống nắng, che chắn quá kỹ khi ra đường vì sợ ung thư da, sợ má không còn hồng, da không còn mịn dưới ánh sáng mặt trời đang diễn ra phổ biến. Điều đó dẫn đến cơ thể thiếu vitamin D, và cũng là một nguy cơ đối với ung thư vú.

4 thói quen tưởng vô hại có thể gây ung thư vú

Chị em phụ nữ đương nhiên có quyền làm đẹp. Tuy nhiên, khi sử dụng hóa mỹ phẩm, thuốc nhuộm tóc, khử mùi cần có sự chọn lọc. Các nghiên cứu đã chứng minh, hóa mỹ phẩm càng ít mùi thơm càng an toàn, bởi trong các hóa chất tạo mùi thơm thường là các benzen vòng có nguy cơ gây ung thư.

  1. Thói quen lạm dụng đồ ăn nhanh

Thói quen lạm dụng đồ ăn nhanh, ít vận động dẫn đến béo phì được coi là nguy cơ rất cao. Nội tiết tố nữ không chỉ sinh ra từ buồng trứng mà còn từ các mô mỡ. Chính vì thế, ở những người phụ nữ thừa cân, béo phì, hàm lượng estrogen cao cũng có thể kích thích tế bào vú trở thành ung thư.

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy ở những người có nguy cơ cao, thậm chí ở những người đã bị ung thư vú rồi, việc tập thể thao 4-7 giờ/tuần thì giảm hẳn mức độ nguy cơ hoặc tình trạng bệnh so với người không tập, hoặc tập ít hơn 4 giờ/tuần. Các bài tập này nhiều khi đơn giản chỉ là đi bộ, hoặc các động tác vận động phù hợp với cơ thể.

4 thói quen tưởng vô hại có thể gây ung thư vú

Nguyên nhân dẫn đến nguy cơ ung thư vú từ lâu đã được nói đến là tuổi tác, phụ nữ không có con hoặc sinh con muộn, không cho con bú, từng có bệnh vú lành tính, có người thân bị ung thư, dậy thì sớm hoặc mãn kinh muộn. Nhưng những thói quen mới trong cuộc sống nói trên cũng làm gia tăng nguy cơ mắc căn bệnh này. Hiện nay, đây vẫn là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ, gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam. Việc phát hiện sớm bệnh ở giai đoạn I và II có thể chữa khỏi cho 90% ca bệnh. Nhưng để bệnh ở giai đoạn III và IV, tỉ lệ sống được 5 năm chỉ còn khoảng 20%. Do đó, chị em cần có ý thức về phát hiện sớm bệnh, thông qua việc tự khám vú, chụp X – quang, siêu âm, và gần đây là xét nghiệm phát hiện gen BRCA1, BRCA2 và p53 đột biến, nhất là sau độ tuổi 35. Kèm theo đó là duy trì cân nặng hợp lý, tích cực hoạt động thể chất, chế độ ăn lành mạnh, hạn chế sử dụng đồ uống có cồn.

Cũng theo PGS – TS Đoàn Hữu Nghị, chuyên gia U bướu và xạ trị: Phác đồ kết hợp cả 5 phương pháp phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, nội tiết, điều trị đích có thể khỏi 50-85% ca bệnh ở mọi giai đoạn. Tuy nhiên, việc phát hiện sớm có thể bảo tồn vú, thay đổi quá trình điều trị và luôn có thể đem lại chất lượng sống cho người bệnh hơn.

Theo D.Hải (suckhoedoisong.vn)

 

Giá đậu tương giúp cân bằng nội tiết, bảo đảm sức khỏe làm cho cơ thể trở nên mượt mà gợi cảm, kéo dài tuổi xuân.

Trong giá đậu tương có chứa một lượng khá lớn các hoóc-môn nữ như estradiol, genistein và daidzein. Nhờ vậy, việc dùng loại thực phẩm này sẽ giúp các em gái đang tuổi dậy thì hay phụ nữ tuổi mãn kinh cân bằng nội tiết, bảo đảm sức khỏe làm cho cơ thể trở nên mượt mà gợi cảm, kéo dài tuổi xuân.

1376972416-Mam-dau-3a42c

Công dụng của giá đậu tương

Cây đậu tương còn gọi đỗ tương hay đậu nành (tên khoa học Glycine max) là loại cây họ Đậu (Fabaceae). Hạt đậu tương giàu hàm lượng protein.​

Đặc biệt, khi hạt đậu tương trở thành giá đậu tương thì trong quá trình chuyển hóa sẽ cho hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn hẳn so với hạt lúc ban đầu gấp nhiều lần, như: vitamin Bgấp 2 – 4 lần, B12 gấp 10 lần, C gấp 40 lần, caroten (tiền sinh tố A) gấp 2 – 3 lần, vitamin nhóm B tăng 30 lần. Giá đậu tương chứa nhiều protein và protein này rất tốt để thay thế cho protein động vật vì ít chất béo, đặc biệt trong mầm đậu tương chứa chất isoflavones tương tự kích tố nữ estrogen có tác dụng phòng chữa một số bệnh của phụ nữ, đồng thời giảm các nguy cơ bệnh tim, loãng xương và duy trì thời xuân sắc… Trong quá trình nảy mầm, hạt đỗ tương đã sản sinh thêm hàm lượng vitamin E tăng cao, vitamin K, beta caroten, vitamin C, các vitamin nhóm B cũng tăng theo, ngoài ra còn gia tăng sự sinh tổng hợp enzim SOD là chất chống oxy hóa mạnh nhất hiện nay. Vitamin C, E và caroten có khả năng ngăn chặn tiến trình lão hóa (nhất là lão hóa mạch máu), củng cố hệ miễn dịch suy yếu do tuổi tác, trị bệnh eczheimer, thoái hóa các khớp xương. Trong giá đậu tương có chứa một lượng khá lớn các hoóc-môn nữ như: estradiol, genistein và daidzein. Nhờ vậy, việc dùng loại thực phẩm này sẽ giúp các em gái đang tuổi dậy thì hay phụ nữ tuổi mãn kinh cân bằng nội tiết, bảo đảm sức khỏe làm cho cơ thể trở nên mượt mà gợi cảm, kéo dài tuổi xuân.

 goi-cam-hon-nho-an-gia-dau-tuong (1)

Giá đậu tương

 goi-cam-hon-nho-an-gia-dau-tuong (2)

Đậu tương

Ngoài việc bổ sung các hoóc môn nữ, thực phẩm này còn cung cấp nhiều chất bổ dưỡng, chất chống oxy hóa, phòng chống bệnh tim mạch, bệnh ung thư và béo phì.

Nhưng cũng cần lưu ý, trong đậu tương có hàm lượng protein khác với thịt động vật như: trứng, thịt, cá, sữa bò ở chỗ chứa đựng hai acid amin là methionin và triptophan ở lượng thấp (thông thường các loại protein được hình thành do hơn 20 acid amin tạo nên). Cũng có thể sự thiếu hụt này ở hạt đậu tương khi dùng làm thức ăn có thể được bổ sung thay thế bằng cystein, một loại acid amin có chứa gốc sulfure giống methionin mà cơ thể có thể tổng hợp được, hoặc bổ sung thêm bắp có chứa axít amin không thay thế như triptophan.

Cách dùng giá đậu tương phòng và điều trị

Dưới đây là vài cách sử dụng giá đậu tương để phòng trị một số bệnh chứng.

Cách tự làm giá đậu tương: có thể tự chế lấy giá đậu tương bằng cách ủ hạt đậu cho nẩy mầm (cách làm tương tự như ủ giá đậu xanh, nhưng tuyệt đối không dùng chất kích thích), khi thấy mầm trắng dài 2 – 3cm thì ngừng lại vì đây là giai đoạn sản phẩm chứa nhiều hoóc-môn nữ nhất. Sau đó đem nghiền nhỏ để làm sữa uống hay sấy khô, rang chín, tán thành bột để dự trữ ăn dần. Có thể dùng hằng ngày để ăn sống hoặc đem nghiền nhỏ lấy nước uống.

Trị viêm họng, ho khan, tiểu ít: sắc giá đậu tương với ít trần bì (vỏ quýt lâu năm) dùng để ngậm, uống.

Trị dạ dày tích nhiệt: giá đậu tương 500g, tiết lợn sống 500g. Nấu canh ăn.

 goi-cam-hon-nho-an-gia-dau-tuong

Gỏi giá đậu tương

Hạ mỡ máu, chống béo, hạ huyết áp, chữa suy nhược: giá đậu tương 250g, đậu phụ 200g, dưa cải 100g, dầu đậu tương, gia vị. Xào giá rồi cho nước đun sôi, cho giá chín, tiếp đến cho đậu phụ, dưa cải, hầm kỹ để ăn.

Phụ nữ có thai, tăng huyết áp: dùng giá đậu tương đun kỹ lấy nước uống nóng. Ngày 2 lần.

Da khô, nếp nhăn, đồi mồi: giá đậu tương khô 500g rang tán nhỏ mịn trộn ít rượu trắng. Uống 3g mỗi lần. Ngày 3 lần liên tục 3 tháng.

Hỗ trợ điều trị ung thư: nấu giá đậu tương với cam thảo uống nâng cao hiệu quả các trị liệu ung thư, giảm thiểu độc hại của hóa trị, xạ trị.

Theo BS. Hoàng Xuân Đại (SKĐS)