Tags Posts tagged with "mang thai"

mang thai

0 706

Trầm cảm sau sinh là tình trạng liên quan đến suy nghĩ và cảm giác mệt mỏi, buồn chán, lo lắng của sản phụ xuất hiện sau sinh.

Những phụ nữ mắc bệnh trầm cảm sau sinh thường kèm theo trạng thái lo sợ con mình sẽ bị hại và bản thân mình là người mẹ xấu. Trầm cảm sau sinh có thể nhẹ, vừa hoặc nặng, có thể thoáng qua hoặc kéo dài. Tuy nhiên, bệnh có thể điều trị và trong một số trường hợp có thể dự phòng. Một số trường hợp tự tử sau sinh do bị trầm cảm.

hinh-1-4f720

Vì sao mắc bệnh?

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến trầm cảm sau sinh. Nhưng chủ yếu là các yếu tố sau đây:

Thay đổi về nội tiết: sau khi sinh, việc giảm đột ngột estrogen và progestrogen góp phần gây nên trạng thái trầm cảm. Hormones tuyến giáp giảm nhanh chóng gây ra cảm giác mệt mỏi và trầm cảm; Thay đổi về thể tích máu, huyết áp, hệ miễn dịch và chuyển hóa dẫn đến tình trạng mệt mỏi và dễ thay đổi cảm xúc.

Bản thân người phụ nữ: những phụ nữ sau sinh nếu rơi vào tình huống bạo hành gia đình thì nguy cơ bị trầm cảm cũng tăng gấp 5 lần. Những sản phụ có thai ngoài ý muốn cũng là nhóm có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh. Ngược lại, với những người có thai như mong muốn sẽ giảm đến 80% nguy cơ bị trầm cảm.

trang16-nhung-su-kien-gay-cang-thang-de-dan-den-tramcam-sau-sinh-o-phu-nu-1430102270244

Những sự kiện gây căng thẳng dễ dẫn đến trầm cảm sau sinh.

Về phía em bé: khó khăn trong chăm sóc bé. Tình trạng sức khỏe của đứa trẻ sinh ra cũng ảnh hưởng đến khả năng bị trầm cảm ở mẹ.

Yếu tố di truyền: trong gia đình có người bị trầm cảm (mẹ, chị, cha) thì nguy cơ bệnh cao.

Ai dễ mắc?

Tiền sử bị bệnh trầm cảm sau sinh, nguy cơ lặp lại 50%. Tiền sử trầm cảm ngoài thai kỳ, nguy cơ trầm cảm sau sinh 25%. Ngưng dùng thuốc chống trầm cảm lúc mang thai, 68% rơi vào trạng thái trầm cảm, nếu tiếp tục dùng thuốc thì 25% bị trầm cảm; Tuổi < 18.

Những sự kiện gây căng thẳng trong thời gian trước: bệnh tật, hiếm muộn, thất nghiệp; thiếu sự giúp đỡ, đồng cảm chia sẻ của người thân, đặc biệt là người chồng; mâu thuẫn vợ chồng, mâu thuẫn với mẹ chồng; thai kỳ không mong muốn; biến chứng thai kỳ: thai lưu, sẩy thai; trầm cảm dễ xuất hiện ở người con so, tuy nhiên vẫn có thể xảy ra ở con rạ.

Khi bị trầm cảm sau sinh, người mẹ dễ sụt cân, suy dinh dưỡng, suy nhược thần kinh, hoang tưởng, hành vi nguy hiểm. Người bị trầm cảm sau sinh có ý nghĩ hay hành vi tự tử (41.2%).

Bên cạnh đó, những người thân cũng bị ảnh hưởng: chồng và con không được chăm sóc tốt, gia đình không được vui vẻ.

Dấu hiệu nhận biết

Trầm cảm sau khi sinh biểu hiện khác nhau ở từng người nhưng có một số triệu chứng bạn có thể nhận thấy: bị hoảng loạn hoặc sợ hãi; thường xuyên lo lắng về sức khỏe, sự an toàn của bạn và những người thân; cảm thấy mình chưa là một người mẹ tốt; liên tục thấy mình bất hạnh, thường xuyên muốn khóc một cách vô cớ; lúc nào cũng muốn ngủ và không bao giờ cảm thấy thư thái; thấy khó ngủ; không thể nói chuyện về việc sinh con hoặc liên tục nói về nó vì bạn cảm thấy mất khả năng kiểm soát; cảm thấy cuộc sống vô vị kể từ khi sinh con, cảm thấy vô dụng, nghĩ rằng bạn không có mối gắn kết gì với bé hoặc không có chút tình cảm gì với bé; đánh mất khái niệm về thời gian và không thể nói lên sự khác biệt giữa một vài phút và một vài giờ.

1368850432-babau3

Làm gì khi bị trầm cảm sau khi sinh?

Nếu bạn cảm thấy mình có thể bị trầm cảm sau khi sinh, hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn, họ là những người tốt nhất có thể giúp bạn. Dưới đây là một số điều bạn có thể làm để giúp giảm bớt các triệu chứng trên: đừng kìm nén cảm xúc, hãy trò chuyện với chồng, bạn thân, bà con họ hàng hoặc những bà mẹ khác về những gì bạn đang trải qua; đừng cố gắng làm quá nhiều việc trong một ngày; đón nhận sự giúp đỡ từ những người xung quanh; dành thời gian để nghỉ ngơi; đừng cảm thấy tội lỗi với những gì bạn đang trải qua.

Điều trị

Khi người mẹ nghĩ rằng mình bị trầm cảm sau sinh thì nên đến bác sĩ càng sớm càng tốt. Một số thuốc thông thường được sử dụng trong trường hợp này là thuốc an thần hoặc thuốc chống trầm cảm, bao gồm những loại thuốc an toàn khi cho con bú. Bên cạnh việc dùng thuốc thì điều quan trọng là phải duy trì chế độ dinh dưỡng tốt, vitamin B6 hoặc vitamin tổng hợp nên được dùng.

Nếu thuốc thích hợp với bạn thì đừng nên rút ngắn thời gian điều trị bởi vì trầm cảm cần thời gian điều trị kéo dài để được phục hồi hoàn toàn. Nếu sau khi ngưng thuốc mà các triệu chứng tái phát thì đừng nên thất vọng mà nên đến bác sĩ tư vấn thêm. Thông thường bác sĩ tiếp tục điều trị với thuốc trước đó. Sau đó nếu có hiệu quả thì giảm liều dần, và điều này dự phòng được việc tái phát.

Việc điều trị cho bệnh nhân trầm cảm sau sinh có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của người thân. Động viên và cùng tham gia chăm sóc em bé sẽ giúp cho bệnh nhân nhanh chóng bình thường trở lại. Bạn bè và gia đình chắc chắn rằng người mẹ bị trầm cảm đang được bác sĩ chỉ định điều trị. Nếu đơn thuốc không thích hợp thì phải động viên bệnh nhân trở lại bác sĩ và yêu cầu thay đổi đơn thuốc.

Bên cạnh đó, các bà mẹ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các chuyên gia trị liệu hội chứng trầm cảm sau sinh

Bệnh nhân cần phải tin tưởng rằng tình trạng sức khỏe của mình sẽ tốt hơn, bạn cần sự kiên nhẫn và nhận thức rằng sự phục hồi sẽ đến sớm. Hãy thư giãn và quên đi đau đớn thì căn bệnh trầm cảm sẽ dần dần tan biến.

Hãy nghỉ ngơi nhiều bởi vì sự mệt mỏi sẽ làm cho bệnh trầm trọng hơn. Tránh thức khuya và có thể nhờ người khác cho con bú. Đừng quên ăn uống đầy đủ vì nếu hạ đường huyết cũng sẽ làm cho bệnh nặng nề hơn. Nên ăn nhiều trái cây và rau quả khi bạn cảm thấy đói. Nên uống viên đa sinh tố mỗi ngày.

Phòng tránh thế nào?

Vai trò của người thân

Có thể nói, trong giai đoạn nhạy cảm này, vai trò của người chồng chiếm vị trí rất quan trọng. rất nhiều ông chồng nghĩ rằng, chỉ cần cung cấp vật chất cho vợ là đủ mà không hề nhận thức được sự quan tâm, chia sẻ bằng hành động và lời nói động viên có thể giúp người vợ tránh được nguy cơ trầm cảm. Hơn ai hết, người chồng, gia đình, người thân… cần gần gũi chia sẻ với sản phụ trong thời kì hậu sản, để có thể tránh được những hệ quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Động viên, gần gũi và chia sẻ với thai phụ về cuộc chuyển dạ và chăm sóc bé sau sinh. Hướng dẫn thai phụ về việc nuôi con bằng sữa mẹ.

Bản thân người mẹ

Cố gắng tìm cho mình một giấc ngủ. Gắng đi ngủ sớm hơn nếu bạn phải thức dậy nửa đêm cho bé bú. Nên ngủ buổi trưa dù chỉ 30 phút. Nói chuyện và chia sẻ với bạn bè, gia đình hoặc các chuyên gia tâm lý để trút bỏ những cảm giác mệt mỏi trong người. Nên hỏi bạn bè và gia đình về kinh nghiệm chăm sóc em bé của họ. Sống tích cực, suy nghĩ lạc quan, đừng để những điều buồn chán làm ảnh hưởng đến tâm lý của bạn. Hãy nhớ rằng bạn luôn là người mẹ tốt nhất cho con của mình, đừng bao giờ so sánh mình hay con mình với người khác, đừng để áp lực đè nặng lên đôi vai của bạn.

Theo BS. Lê Anh (SKĐS)

0 693
Tập thể dục khi mang thai là một việc làm cần thiết. Các bà bầu hãy chú ý các quy tắc an toàn trong luyện tập để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.

Thể dục đúng cách khi mang bầu

Tập thể dục khi mang thai là một việc làm cần thiết nhưng không được thực hiện một cách tùy tiện. Các bà bầu hãy chú ý các quy tắc an toàn trong luyện tập để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.

Rất cần hỏi ý kiến bác sĩ: Cho dù bạn đã có thói quen tập thể dục từ trước khi mang thai thì bạn vẫn nên đi kiểm tra sức khỏe và hỏi ý kiến bác sĩ xem bài tập nào là phù hợp, bài tập nào gây nguy hiểm… Nếu bạn chưa luyện tập bao giờ, bạn càng nên trao đổi với bác sĩ để chọn những bài tập dành cho người mới bắt đầu.

Chọn trang phục phù hợp: Bạn nên chọn những loại trang phục rộng rãi để dễ thở trong quá trình tập luyện. Lúc mới khởi động, nên mặc thêm một chiếc áo khoác mỏng bên ngoài (khi mang thai, thân nhiệt cao hơn bình thường, nếu chủ quan sẽ dễ bị nhiễm lạnh). Nhưng bạn cũng không được để cơ thể quá nóng sẽ ảnh hưởng không tốt tới em bé. Nên chọn áo quần rộng thoáng, đi đôi giày tập phù hợp với kích cỡ chân trong giai đoạn chân bị phù.

pregnant-0e32f

Không quên khởi động: Dù bất kỳ lý do nào, bạn cũng không nên bỏ qua 5 – 10 phút khởi động trước khi tập luyện chính thức. Tác dụng của khởi động là khiến các mạch máu lưu thông, cung cấp ôxy tới các cơ bắp, “bôi trơn” các khớp xương và ngăn ngừa chấn thương.

Tập luyện nhẹ nhàng: Không tập những môn thể thao đòi hỏi phải di chuyển và thay đổi vị trí liên tục như bóng chuyền, cầu lông, tennis… Trong thời gian mang thai, các khớp xương dễ bị yếu, khả năng giữ cân bằng cũng thay đổi, nguy cơ bị chấn thương khi luyện tập là rất lớn. Nên chọn hình thức tập nhẹ như đi bộ, bơi lội…

Không nín thở lâu: Nên tránh nín thở trong những động tác thể dục thông thường (trừ những bài tập thở kiểu yoga), việc nhịn thở trong vòng vài giây (hoặc hơn) dễ làm giảm sự cung cấp ôxy tới bào thai. Bạn cũng nên đảm bảo giữ nhịp thở ổn định trong những phần bài tập khó.

Không thay đổi động tác đột ngột: Bụng càng lớn sẽ càng khó khăn trong việc giữ thăng bằng. Đó là lý do vì sao bạn nên đặc biệt cẩn thận khi chuyển các động tác hoặc thay đổi vị trí luyện tập. Thao tác quá nhanh sẽ khiến bạn bị chóng mặt, dễ bị ngã.

exercise-pregnancy-b66a5

Không tập đến kiệt sức: Thời gian mang thai không phải là giai đoạn bạn tập luyện với mục đích giảm cân, vì thế không nên ép cơ thể hoạt động quá công suất hoặc duy trì thời gian luyện tập dài hơn (dù chỉ là 5 phút).

Không ngồi ngay sau lúc tập luyện: Dành khoảng 5 – 10 phút để đi lại nhẹ nhàng, thả lỏng toàn thân trước khi kết thúc buổi tập sẽ khiến cho nhịp tim ổn định, các mạch máu tuần hoàn bình thường, tránh cho bạn cảm giác choáng váng.

Uống nhiều nước: Nên uống nước lọc trước, trong và sau quá trình luyện tập. Điều này sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mất nước – nguyên nhân của những cơn co bóp dạ con, thân nhiệt tăng. Nếu mất nước nghiêm trọng sẽ gây nguy hiểm cho cả bạn và bé. Tuy nhiên, cần uống từ từ. 

Theo Sức khỏe và Đời sống

0 709

Thiếu cân, tập thể dục quá sức hay làm việc trong môi trường căng thẳng là những nhân tố khiến chị em khó có thể thụ thai.

Béo phì

Theo Tiến sĩ William Schlaff, Trưởng khoa Sản và Phụ khoa, Đại học Y khoa Jefferson (Philadelphia, Mỹ), thừa cân có thể gây ra sự mất cân bằng nội tiết tố, ảnh hưởng đến sản xuất hormone và quá trình rụng trứng, cản trở khả năng thụ thai của nữ giới.

Một nghiên cứu về khả năng sinh sản và vô sinh cho thấy những người phụ nữ béo phì ở độ tuổi 18 có nguy cơ cao phát triển hội chứng buồng trứng đa nang, nguyên nhân chủ yếu gây vô sinh.

Thiếu cân

Theo Health, phụ nữ có chỉ số BMI (Body Mass Index) trên 18 khó thụ thai hơn những người bình thường. Do họ thiếu leptin, một hormone kiểm soát cơn đói và mang lại cảm giác no lâu. Điều này cản trở quá trình rụng trứng và làm chu kỳ kinh nguyệt thất thường, thậm chí mất kinh.

1-1-vo-sinh-1430962362057-1430997502085

Tiếp xúc với hóa chất độc hại

Một nghiên cứu của Tạp chí Environmental Health Perspectives cho biết tiếp xúc thường xuyên với các chất gây ô nhiễm, thuốc trừ sâu và các hợp chất độc hại trong công nghiệp có thể làm giảm 29% khả năng thụ thai của một cặp vợ chồng.

Ngoài ra, theo nghiên cứu của Đại học Washington, 15 loại hóa chất thông dụng có liên quan tới việc mãn kinh sớm ở nữ giới như phthalates (thường được tìm thấy trong các mỹ phẩm, nước hoa…), độc tố furan hay một số chất trong quá trình đốt công nghiệp.

Hút thuốc lá

Hút thuốc lá không chỉ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, mà còn cản trở quá trình thụ thai của người phụ nữ. Theo Hiệp hội Y học sinh sản Mỹ, hút thuốc chiếm 13% nguyên nhân của các trường hợp vô sinh. Tỷ lệ sảy thai cao hơn ở những người phụ nữ hút thuốc.

Hơn thế, khói thuốc còn gây rối loạn hormone và tiêu diệt AND ở cả nam và nữ giới. Khi phụ nữ tiếp xúc với khói thuốc, chức năng nội tiết bị phá vỡ, ảnh hưởng đến sự rụng trứng, gây vô sinh.

Uống rượu

Các bác sĩ cảnh báo một ly rượu mỗi ngày tăng nguy cơ rối loạn rụng trứng ở nữ giới. Thậm chí, phụ nữ mang thai uống rượu trong giai đoạn đầu của thai kỳ có khả năng sinh non.

Nhiều bác sĩ cho rằng một lượng nhỏ rượu trong giai đoạn sau của thai kỳ vẫn được chấp nhận, nhưng phụ nữ mang thai nên tránh xa rượu vì chưa có bằng chứng khẳng định nó không gây hại cho thai nhi.

Tiêm thuốc tránh thai

Khi dừng các biện pháp tránh thai nội tiết tố, bạn có thể mang bầu trong vòng một tháng. Tuy nhiên, tránh thai bằng cách tiêm lại là ngoại lệ. Mỗi mũi tiêm có thể phòng ngừa thụ thai từ 12-14 tuần. Bởi vậy, sau khi dừng tiêm thuốc, bạn phải mất một năm mới có thể thụ thai.

Do đó, các bác sĩ khuyên phụ nữ nên ngừng sử dụng thuốc tránh thai dạng tiêm khoảng vài tháng trước khi lên kế hoạch có thai.

Tập thể dục quá sức

Tập luyện quá nhiều có thể có tác động tiêu cực đến sự rụng trứng của phụ nữ. Một nghiên cứu về khả năng sinh sản và vô sinh cho biết phụ nữ tập luyện quá độ khó thụ thai gấp 3 lần so với những người rèn luyện vừa sức.

2-2-vo-sinh1-1430962357462-1430997501231

Rối loạn tuyến giáp

Rối loạn tuyến giáp ảnh hưởng đến sự rụng trứng và gây ra các vấn đề về vô sinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy những người phụ nữ khó thụ thai đều có tuyến giáp hoạt động kém.

Caffeine

Một nghiên cứu của Đại học Y Nevada cho thấy caffeine gây trở ngại cho sự co cơ, khiến trứng di chuyển khó khăn từ buồng trứng tới tử cung. Phụ nữ sử dụng hơn 500 mg caffeine mỗi ngày (tương đương khoảng 5 cốc cà phê) sẽ giảm đáng kể khả năng có thai. Lượng caffeine an toàn bạn nên tiêu thụ là khoảng 200 mg/ngày.

Các vấn đề sức khỏe

Hội chứng đa nang buồng trứng, lạc nội mạc tử cung hay u xơ tử cung có thể ảnh hưởng đến cơ hội mang thai của người phụ nữ. Ngoài ra, những người bị rối loạn tự miễn dịch (như lupus, viêm khớp dạng thấp) cũng khó có thai vì quá trình gặp nhau giữa trứng và tinh trùng không thể diễn ra.

Mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục

Các bệnh như lậu, giang mai hay chlamydia có thể gây ra các vấn đề viêm xương chậu. Thực tế, vi khuẩn chlamydia có thể gây ra sẹo ở ống dẫn trứng, đây là nguyên nhân khiến nhiều phụ nữ vô sinh.

Căng thẳng

Phụ nữ phải chịu áp lực trong thời gian dài sẽ khiến cho buồng trứng không tiếp tục bài tiết hormone nữ, rụng trứng, kinh nguyệt thất tường, thậm chí tắc kinh. Điều đó khiến quá trình thụ thai gặp khó khăn. Những người làm việc trong môi trường cạnh tranh ác liệt, lượng công việc luôn chồng chất, căng thẳng, khả năng sinh sản cũng bị ảnh hưởng cao.

Theo SKĐS/Zing.vn

0 541

Hầu hết phụ nữ khi mang thai đều mong muốn có một thai kỳ khỏe mạnh. Tuy nhiên, do việc bổ sung thái quá chất dinh dưỡng đã khiến các bà bầu thừa cân trong thai kỳ. Việc bà bầu thừa cân ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé thế nào? Thai phụ làm gì để tránh nguy cơ thừa cân?

thua can khi mang thai

Cần kiểm soát cân nặng khi mang thai.

Ảnh hưởng thừa cân đến sức khỏe của mẹ và bé như thế nào?

Nếu bạn tăng cân nhanh và bị béo phì trong khi mang thai người mẹ sẽ dễ mắc các bệnh như tăng huyết áp, ối vỡ sớm, viêm tĩnh mạch, nguy cơ cao bị sảy thai và tiền sản giật… Trong khi sinh mẹ còn có nguy cơ chảy nhiều máu hơn những sản phụ khác do khi sinh lực co bóp tử cung yếu dẫn đến phải sinh mổ. Khi phẫu thuật mổ lấy thai cũng trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn đối với các bà bầu thừa cân. Lớp mỡ dày dưới da sẽ khiến bác sĩ khó khăn hơn trong việc gây tê, truyền tĩnh mạch… Ngoài ra, việc tăng cân quá mức trong thời kỳ mang thai cũng làm tăng nguy cơ mẹ bầu bị tiểu đường thai kỳ, hậu quả là đứa con sinh ra sẽ có nhiều nguy cơ mắc bệnh khi trưởng thành. Mặt khác, việc mẹ béo phì trong thai kỳ cũng làm tăng nguy cơ thai to và phải can thiệp khi sinh, nguy cơ hạ đường huyết sơ sinh, vàng da, hạ canxi máu… nguy hiểm cho mẹ và bé trong quá trình sinh nở tăng cao.

Theo BS. Trần Thanh Tâm (SKĐS)

0 772
Mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, đây là một quá trình sinh lý bình thường.

Mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, đây là một quá trình sinh lý bình thường. Tuy nhiên trong thời gian mang thai, chị em có thể gặp những khó chịu, khiến chị em ít nhiều lo lắng  nhưng tất cả những điều đó lại là chuyện hoàn toàn bình thường. Nguyên nhân của không ít các triệu chứng này là do sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể lúc mang thai. Sau đây là những bệnh thường gặp và cách khắc phục.

9bee8echuyennhungbabauxanhmatv

 

Ốm nghén: Là một trong những dấu hiệu thai kỳ xuất hiện đầu tiên, có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào trong ngày. Sự mệt mỏi có thể làm cho vấn đề trầm trọng hơn. Triệu chứng buồn nôn, nôn, sợ một số mùi vị nhưng lại thèm ăn của lạ (chua, chát, đắng…). Trong giai đoạn nghén, hãy chọn ăn những gì mình thích, tránh dùng các thức ăn và mùi làm cho cảm thấy buồn nôn. Bạn có thể ăn mỗi lần một ít, ăn nhiều lần trong ngày. Ợ chua và thấy đau rát ở ngay giữa lồng ngực cũng thường gặp khi nghén. Nguyên nhân liên quan đến nội tiết gây mềm và giãn van tâm vị (van giữa dạ dày và thực quản), vì vậy chất chua trong dạ dày trào ngược trở lại thực quản. Để hạn chế, bạn nên uống một cốc sữa nóng trước khi đi ngủ và nâng cao đầu giường hoặc sử dụng thêm gối để gối đầu.

ddd-1427217636730

Do tử cung mang thai sẽ to ra và đè ép lên bàng quang gây són tiểu.

Chảy máu chân răng: Thường khi có thai lợi dễ bị viêm và chảy máu chân răng, đặc biệt là sau khi đánh răng, vì các cơ vùng này trở nên mềm, phì đại hơn và dễ bị tổn thương trong lúc mang thai. Các tổ chức quanh cổ răng có thể sưng đỏ khiến cho bựa tích tụ ở chân răng. Ðiều này có thể dẫn tới viêm quanh răng (nha chu viêm) hoặc sâu răng. Nếu thường xuyên chảy máu mỗi khi đánh răng bạn nên đi khám nha sĩ.

mang-thai

Bị vọp bẻ (chuột rút): Là do co thắt cơ bắp gây đau, thường là xảy ra ở cẳng chân và bàn chân, nhiều khi vọp bẻ vào ban đêm làm thai phụ đau nên tỉnh giấc gây mất ngủ. Vọp bẻ thường xảy ra khi thai ở những tháng cuối cũng có khi ở 3 tháng đầu do nghén nặng nôn nhiều, không ăn được nên thiếu các vi chất, trong đó hay gặp là thiếu canxi. Triệu chứng khi vọp bẻ là cẳng chân duỗi đơ với các ngón chân quắp xuống gây đau buốt khó chịu. Nếu thường xuyên bị vọp bẻ gây mất ngủ ảnh hưởng sức khỏe thì bạn cần đi khám, có thể bác sĩ sẽ kê đơn thuốc bổ sung thêm canxi và vitamin D.

Chứng táo bón: Hormon progesterone của thời kỳ mang thai làm chùng giãn các cơ ruột khiến cho các nhu động ruột giảm đi và gây ra chứng táo bón. Bạn nên ăn thức ăn giàu chất xơ và uống nhiều nước. Chú ý chọn các loại rau củ có tính nhuận tràng như rau lang, mồng tơi, rau đay, khoai tây, bí đỏ, đu đủ chín, chuối chín… Hãy đi ngoài bất cứ lúc nào bạn cảm thấy có nhu cầu. Hãy đi khám bác sĩ nếu chứng táo bón kéo dài vì nếu để lâu có thể là nguyên nhân gây bệnh trĩ. Tuyệt đối không dùng thuốc nhuận tràng.

Đái dắt, đái són:  Đái dắt có thể gặp ở thai 3 tháng đầu là do tử cung to lên trong tiểu khung nên chèn ép vào bàng quang. Triệu chứng này sẽ thuyên giảm trong các tháng giữa của thai kỳ. Bạn nên đi khám bác sĩ nếu thấy buốt mỗi khi đi tiểu vì có thể là bạn đã nhiễm khuẩn đường tiểu. Són đái thường hay gặp trong 3 tháng cuối. Thường són một ít nước tiểu ra quần vào những lúc chạy, ho, hắt hơi hay cười. Là do các cơ sàn chậu yếu và do em bé ngày một lớn ép lên bàng quang. Để khắc phục tình trạng này bạn nên đi tiểu thường xuyên, nên tập luyện các cơ sàn xương chậu đều đặn, có thể theo một khóa học tiền sản do bác sĩ chuyên sản hướng dẫn.

bld150699_26993

Viêm âm đạo do nấm: Bình thường dịch âm đạo trong hoặc trắng đục không mùi. Khi mang thai, bạn sẽ thấy tiết ra hơi nhiều hơn, không đau hay rát. Bạn có thể nhận thấy cửa mình tăng tiết chất nhầy (huyết trắng) do có biến động nội tiết tố trong lúc mang thai. Tuy nhiên, nếu gây ngứa ngáy khó chịu cũng có khi bạn thấy đau rát khi đi tiểu là có viêm âm đạo và hay gặp là nấm âm đạo. Ðiều quan trọng là cần chữa cho hết chứng bệnh này trước khi em bé ra đời vì chứng bệnh này có thể lây qua miệng bé khi đẻ đường dưới làm cho em bé bị nấm miệng sơ sinh, việc nuôi bé trở thành khó. Vì vậy cần vệ sinh vùng kín bằng nước sạch, thường xuyên thay quần lót, tránh thụt rửa âm đạo, không nên dùng xà phòng có độ tẩy cao để rửa âm hộ vì dùng xà phòng để rửa sạch có thể làm cho chứng viêm âm đạo do nấm nặng hơn. Tránh mặc quần lót bằng vải nilon, nếu ngứa và khí hư ra nhiều kèm tiểu rát cần khám bác sĩ ngay để được chỉ định dùng thuốc đặt âm đạo.

Theo BS. Phạm Minh Nguyệt (Sức khỏe  và Đời sống)

Đông y cho rằng, thịt gà có vị ngọt, tính ấm, không độc, lành mạnh phổi, tác dụng ôn trung ích khí, bổ tinh tủy

 Đông y cho rằng, thịt gà có vị ngọt, tính ấm, không độc, lành mạnh phổi, tác dụng ôn trung ích khí, bổ tinh tủy; có tác dụng bồi bổ cho người bị bệnh lâu ngày, dạ dày bị phong hàn, suy yếu không hấp thu được thức ăn.

Thịt gà còn chữa được băng huyết, xích bạch đới, lỵ, ung nhọt, trừ phong. Do đó thường dùng cho các trường hợp gầy yếu sút cân, suy kiệt, đầy bụng không tiêu, ăn kém, tiêu chảy, lỵ, phù nề, tiểu rắt, di niệu, đái hạ, huyết trắng, sau đẻ ít sữa, bệnh đái tháo đường. Dưới đây xin giới thiệu một số cách sử dụng món ăn thuốc trị bệnh mà thịt gà là chủ vị.

Dùng cho người cao tuổi tỳ vị hư nhược, gầy còm, da khô nhẽo: thịt gà trống 150g, bột mì 210g, hành củ 15g, bột tiêu, gừng, các gia vị khác với liều lượng thích hợp. Thịt gà cùng với hành, tiêu, gừng và các gia vị khác được băm trộn sẵn để làm nhân. Bột mì thêm nước nhào trộn, cán thành bánh. Làm bánh có nhân là thịt gà cùng gia vị, luộc hay hấp chín, làm bữa ăn chính, cho ăn khi đói, ngày 1 lần trong 1 đợt 5 – 10 ngày.

Dùng cho các trường hợp thận hư, ù tai, chóng mặt: gà 1 con làm sạch, cho rượu vào hầm chín. Ăn trong ngày.

 Món ăn trị bệnh từ thịt gà

Dùng cho các trường hợp suy nhược gầy còm, huyết hư sau đẻ: gà mái 1 con, gạo trắng và bách hợp với một lượng thích hợp. Gà làm sạch, mổ moi, bỏ ruột, cho gạo và bách hợp vào bụng gà khâu lại, thêm nước, gia vị, nấu chín ăn.

Dùng cho người mắc chứng viêm gan, phụ nữ sau nạo thai, sau đẻ bị nôn ói ra thức ăn, ăn vào nôn ra: gà giò 1 con; nhân sâm, đương quy, muối ăn mỗi thứ đều 15g. Gà làm sạch, luộc chín, róc bỏ xương, cho nhân sâm, đương quy và muối ăn vào hầm chín nhừ. Chia ra ăn hết trong một vài lần.

Trị sa dạ dày, sa thận, sa trực tràng, sa tử cung: gồm gà mái giò 1 con, hoàng kỳ 60g. Làm sạch gà, cho vào nồi hấp cùng hoàng kỳ, thêm gừng, hành, muối, gia vị, hầm trong 3 giờ mang ra ăn.

Trị đau bụng, đầy hơi, mệt mỏi: gà 1 con, nhân sâm 10g, tiểu hồi 10g, xuyên tiêu 6g. Làm sạch gà mổ moi, cho các vị thuốc cùng với chút rượu, đường, dầu, mắm, gia vị vào bụng gà buộc lại, thêm nước, hầm cách thủy, ăn khi đói.

Trị suy nhược cơ thể, đầy bụng không tiêu: gà trống 1 con, thảo quả 2 quả, bột nghệ 3g (hoặc nghệ tươi), hồ tiêu 6g, vỏ quýt 3g, thêm hành, dấm, nước mắm và lượng nước thích hợp, nấu nhừ, ăn khi đói.

Trị các trường hợp suy nhược, ăn kém, chậm tiêu, đau bụng: gà trống 1 con, riềng, thảo quả mỗi thứ 6g, trần bì, hồ tiêu mỗi thứ 3g. Gà làm sạch chặt khúc, các dược liệu cho vào túi vải xô, thêm nước, hành, dấm, gia vị, đun nhỏ lửa cho chín nhừ, chia ăn nhiều lần.

Trị các trường hợp thiểu dưỡng gây phù mặt và chân tay: gà mái ri lông vàng 1 con, xích tiểu đậu 30g, thảo quả 3g. Gà làm sạch, tất cả cho vào nồi, thêm nước, muối, mắm, gừng tươi, hành sống; đun to lửa cho sôi, đun nhỏ lửa cho chín nhừ, chia ra ăn làm nhiều lần trong ngày.

Hạ huyết áp: gà giò (trống) một con, quyết minh tử 12g, ngũ vị tử 10g, gừng 5g, hành 10g, muối vừa đủ. Gà trống làm sạch, bỏ lòng. Hai vị kia rửa sạch, gừng đập dập, hành cắt nhuyễn, ướp muối lên thịt gà, bỏ gừng, hành, quyết minh tử, ngũ vị tử cho vào bụng gà. Nấu với một lít nước, đun to lửa sau vặn nhỏ. Hầm 60 phút. Mỗi ngày ăn một lần.

Tăng huyết áp, đái tháo đường kèm béo phì: thịt gà 100g, bí đao 200g, đảng sâm 3g, muối một ít. Thịt gà cắt miếng nhỏ cho vào nồi với đảng sâm, nước nửa lít, đun nhỏ lửa, hầm chín. Cho bí đao cắt miếng vào với gia vị vừa đủ. Ăn thịt, uống canh, dùng cùng trong bữa ăn.

Người ốm thiếu máu: gà giò một con, mổ bỏ ruột, nhét một nắm lá ngải cứu tươi, rửa sạch, khâu lại, nấu kỹ, mỗi ngày ăn một con. Ăn một tuần liền.

Ho lâu ngày, khó ngủ: cũng làm như bài thuốc trên nhưng thay lá ngải cứu bằng lá dâu tằm non và nửa chén gạo nếp (nấu ăn).

Tinh thần mệt mỏi, xương khớp tê nhức: gà ác một con, táo tàu đen 10 quả, hoài sơn (củ mài) 15g, kỷ tử 10g, ý dĩ 30g, vài củ hành tím, gia vị vừa đủ. Gà làm sạch, để nguyên con. Hành tím bóc vỏ, nướng chín; ý dĩ ngâm nước cho nở; ngâm táo tàu 10 phút, vớt ra để ráo. Đặt gà vào thố sứ, cho táo và ba vị kia vào, đổ nước vừa bằng, đậy nắp thố, chưng cách thủy chừng một tiếng rưỡi. Nêm ít đường, muối, rồi thả hành tím nướng vào. 30 phút sau ăn được, rắc ít tiêu bột cho thơm. Ăn nóng, mỗi ngày một lần, từ 7 – 10 ngày.

Suy nhược cơ thể, ho lao, sau khi đẻ gầy yếu: gà mái một con, gạo lứt 100g. Mổ gà, bỏ ruột, nấu lấy nước đặc. Cho gạo lứt đãi sạch vào nồi, đun lửa to, sau nhỏ dần. Nấu cháo loãng, nêm gia vị vừa ăn. Ăn nóng hai bữa sáng, tối.

Chữa đầy bụng: màng mề gà 10g, lá lốt 30g, mộc hương 20g. Các vị thuốc này sao vàng, tán bột, cho bệnh nhân uống ngày 3 lần, mỗi lần 5g với nước sôi để nguội.

Chữa sỏi mật: màng mề gà 15g, kim tiền thảo 30g, nghệ 15g, hoàng liên 6g, đại hoàng 6g, trần bì 15g, cam thảo 10g. Những vị này sắc lấy 200ml nước thuốc đặc, chia 3 lần uống trong ngày và uống kiên trì nhiều ngày.

Chữa bệnh trĩ, lòi dom: gà mái già hầm với 15g hà thủ ô, cho một chút nước vừa đủ hầm cách thủy 2 giờ trở lên, ăn cả nước và cái. 2, 3 ngày ăn 1 lần. Tác dụng hòa khí hoạt huyết giữ cho tử cung khỏi sa, khỏi trĩ.

Chữa thiếu máu do thiếu sắt (phụ nữ mang thai, sinh đẻ): màng mề gà 10g, thổ đại hoàng 30g, đan sâm 15g sắc lấy 150ml nước thuốc đặc, chia 2 lần uống trong ngày, uống khoảng 15 ngày.

Chữa chứng mất ngủ: gan gà 1 bộ, bạch thược 60g tán bột rắc đều vào gan gà đem hấp cách thủy, khi chín cho bệnh nhân ăn, ngày 1 lần.

Chữa ho gà: gà 1 con nhỏ 400g, bối mẫu 3g, củ cải trắng 100g. Gà làm sạch mổ moi bỏ nội tạng, bối mẫu tán bột mịn, củ cải trắng rửa sạch cắt nhỏ, cho tất cả vào bụng gà khâu kín đem hấp cách thủy, khi chín chia 2 lần cho bệnh nhân ăn trong ngày, ăn 3 ngày liền sẽ thấy hiệu quả.

Lưu ý: người có cơ địa mẫn cảm, dị ứng như hen suyễn, phong thấp dễ có phản ứng mẩn ngứa, nổi ban, khó thở khi ăn da gà, gan gà; khi làm các món gà kho, gà hầm, thêm gừng tươi đập dập hoặc thái mỏng làm gia vị và giải mẫn cảm theo kinh nghiệm dân gian.

Theo HOÀNG TUẤN LINH (Sức khỏe và đời sống)

 

0 596
Nguyên nhân gây viêm họng ở phụ nữ mang thai có thể do virut, vi khuẩn, nấm… Và chính sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai…
Nguyên nhân gây viêm họng ở phụ nữ mang thai có thể do virut, vi khuẩn, nấm… Và chính sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai cũng là một trong những yếu tố thuận lợi gây viêm họng ở thai phụ.

Bà bầu viêm họng, dùng thuốc như thế nào?

Viêm họng ở phụ nữ mang thai lại thường hay xuất hiện trong ba tháng đầu của thai kỳ với các biểu hiện sốt, kèm theo ho, đau rát họng… (giống như viêm họng ở người bình thường). Trong khi đó, ở khoảng thời gian này việc sử dụng thuốc phải hết sức thận trọng để tránh tác động xấu của thuốc tới thai nhi.

Trong trường hợp viêm họng do virut thì không cần dùng kháng sinh mà chỉ cần dùng các thuốc điều trị triệu chứng: hạ sốt (dùng paracetamol, không được dùng aspirin vì dễ gây quái thai trong 3 tháng đầu, còn 3 tháng cuối nếu dùng aspirin sẽ gây các rối loạn ở phổi, liên quan đến việc đóng ống động mạch của bào thai trong tử cung, mặt khác có thể kéo dài thời gian mang thai và chậm chuyển dạ). Thuốc giảm ho có thể dùng là dextromethorphan, nhưng chỉ sử dụng khi triệu chứng ho làm ảnh hưởng tới thai phụ như ho liên tục làm họ không ăn uống gì được, ho có thể ảnh hưởng đến thai như gây sảy thai… Để giảm đau họng, tốt nhất chỉ nên súc họng bằng nước muối pha loãng hoặc điều trị bằng thuốc chấm họng không ảnh hưởng tới thai nhi hoặc có thể sử dụng một số bài thuốc Đông y như chế phẩm viên ngậm từ xạ can, cao cồn xạ can, cát cánh, trần bì, la hán, kha tử… cũng có tác dụng tốt trong điều trị viêm họng, giảm đau, chống viêm tấy, làm mềm và ẩm niêm mạc họng, kích thích xuất tiết, giảm phản xạ ho…

Nếu viêm họng do vi khuẩn cần phải dùng đến kháng sinh để điều trị. Một số kháng sinh có thể dùng như nhóm kháng sinh beta-lactam (các penicilin, cefalosporin và car- bapenem). Nếu bị dị ứng với các thuốc kháng sinh trên có thể dùng nhóm macrolid như erythromycin, clarithromycin, azithromycin… Tuy nhiên, cần lưu ý, phụ nữ có thai không được tự điều trị viêm họng mà việc dùng các thuốc trên phải do bác sĩ chỉ định và được sự theo dõi của bác sĩ.

Theo DS. Nguyễn Thị An (Sức khỏe và Đời sống)

0 830

Trong ba tháng đầu dinh dưỡng cho bà bầu rất quan trọng. Cùng tham khảo một số loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe của mẹ bầu dưới đây nhé

Dinh dưỡng cho bà bầu trong 3 tháng đầu rất quan trọng

Quá trình mang thai của người phụ nữ khá vất vả và nhiều thử thách, chính vì vậy người nhà phải chiều bất cứ đồ ăn, thức uống nào bà bầu muốn, dù là đêm hay ngày cũng phải đáp ứng đầy đủ, đây giống như một “đặc quyền” riêng vậy. Chọn chế độ ăn uống xanh, sạch tốt sẽ giúp cả mẹ và bé mạnh khỏe, đây cũng như món quà tặng bé trước khi bé chào đời.

sua_chua_hanh_nhan

Giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ bà bầu không cần phải ăn ráng thật nhiều, bởi đang trong quá trình ốm nghén rất dễ nôn. Mà chỉ cần chia nhỏ khẩu phần ăn của mình khoảng 5-6 bữa/ngày và duy trì được mức năng lượng này ổn định, bổ sung thêm thuốc bổ (sắt, acid folic, B12), protein, chất đạm dễ tiêu hóa và hấp thụ như: sữa, trứng, cá, đậu và thịt gia cầm… bởi rất cần cho sự phát triển não bộ và hệ thần kinh của bé trong giai đoạn này.

Các chất cần thiết cho cơ thế bà bầu:

Một ngày cần 3 bữa chính + 3 bữa phụ đầy đủ các chất như: thịt, cá, trứng, đậu… ăn nhiều trái cây, rau xanh để cung cấp đủ vitamin tăng sức đề kháng.

– Chất sắt: giúp phòng ngừa bệnh thiếu máu và tăng thể tích máu, có nhiều trong tim, gan, thịt, cật, rau xanh và các loại hạt…

3 sai lam khi an rau xanh

Bà bầu nên ăn nhiều rau xanh để cung cấp chất sắt cho cơ thể

– Canxi: giúp đồng máu bình thường và hoạt động hệ thần kinh tốt, hình thành hệ xương và răng vững chắc cho bé, có nhiều trong cá, cua, tôm, trứng, sữa, đậu đỗ, rau xanh…

– Acid folic (vitamin B9): giúp giảm nguy cơ bị tật nứt đốt sống trong bào thài và dị tật ống thần kinh cho trẻ, có trong các loại rau màu xanh thẫm như rau muống, cải xanh, súp lơ xanh…hoặc một số loại hạt.

– Vitamin D: có trong trứng, sữa và ánh nắng mặt trời, mỗi ngày nên phơi nắng khoảng 15 phút và để ánh nắng chiếu trực tiếp vào cơ thể, không nên phơi nắng sau cửa kính.

– Vitamin C: giúp hỗ trợ phát triển cơ, mạch máu và xương sụn cho bào thai, tạo bánh nhau bền chắc, cũng là một chất chống oxy hóa giúp tăng cường sức đề kháng, có trong các loại rau xanh, trái cây…

Theo suckhoedoisong.vn

1 598
Các nhà khoa học Mỹ đã đưa ra kết luận rằng những những thói quen của mẹ bầu có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển về trí tuệ, tính cách, thói quen của bé sau này.

Đi ngủ muộn

Đồng hồ sinh học của trẻ được thiết lập từ khi còn là bào thai, chính vì vậy, việc mẹ thức khuya, dậy sớm cũng ảnh hưởng đến bé. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, người mẹ thường xuyên thức khuya, chơi đêm sẽ sinh ra những đứa trẻ có xu hướng ngủ đêm ít hơn và thậm chí còn khó tính hơn. Bà mẹ mang thai đi ngủ đúng giờ và có giấc ngủ đêm đủ giấc cũng giúp trẻ sau khi chào đời có thói quen ăn ngủ giống bố mẹ.

Trong thời gian mang thai, mẹ nên từ bỏ những thói quen xấu, dành thời gian nghỉ ngơi đặc biệt là đi ngủ đủ giấc và đúng giờ. Mẹ cần ngủ ít nhất 8 giờ mỗi ngày và có thêm 1 giờ nghỉ trưa. Ngoài ra, mẹ bầu cũng cần tránh xa rượu, thuốc lá, những nơi quá ồn ào để không ảnh hưởng xấu đến bé.

Những thói quen xấu của mẹ bầu ảnh hưởng đến trẻ

Hay cáu gắt, căng thẳng

Chúng ta đều biết rằng tính cách của thai nhi bị ảnh hưởng rất lớn từ tính cách và tâm trạng của mẹ bầu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tâm trạng của mẹ thường xuyên stress khi mang bầu có thể dẫn đến những thay đổi trong môi trường vật lý và truyền đến bé qua nhau thai, đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến tính cách của trẻ.

Những thói quen xấu của mẹ bầu ảnh hưởng đến trẻ

Nếu mẹ bầu thường xuyên ủ rũ, chán nản hay buồn bã thì đứa trẻ sau này sinh ra chắc chắn sẽ không thể hay cười và cũng buồn như mẹ.

Việc duy trì một tâm trạng tốt khi mang thai là rất cần thiết. Mẹ nên tạo tâm lý thoải mái, tránh căng thẳng trong công việc và cuộc sống, đồng thời nên chăm chỉ tập luyện thể thao. Mẹ nên dành 30 phút mỗi ngày để đi bộ hoặc tập những môn thể thao mình yêu thích. Nếu mẹ thực sự cảm thấy mệt mỏi, chán nản, hãy dành thời gian nghỉ ngơi hoặc tâm sự với người thân, bạn bè. Trong sinh hoạt hàng ngày, mẹ bầu cũng nên cải thiện tâm trạng bằng cách xem phim hài, đọc truyện cười hoặc làm những hoạt động mình yêu thích… sẽ giúp cải thiện tâm trạng rất tốt.

Ít vận động

Khi mang thai, nhiều thai phụ thường nghĩ rằng đây là thời gian mình cần được nghỉ ngơi nhiều và gia đình cũng ưu tiên hết mức. Vì vậy, thai phụ thường không làm việc và chỉ nằm một chỗ. Đây chính là quan niệm hoàn toàn sai lầm và dễ sinh ra những đứa trẻ kém phát triển.

Thực tế, thai phụ và em bé có sự kết nối thông tin rất mật thiết. Khi mẹ làm việc, suy nghĩ đầu óc hay vận động chân tay thì em bé đều cảm nhận được và đó như sợi dây vô tình kết nối hai mẹ con. Mẹ lười học tập, lao động sẽ sinh ra những em bé cũng sẽ lười biếng, kém phát triển trí não.

Những thói quen xấu của mẹ bầu ảnh hưởng đến trẻ

Hãy để bộ não của bạn làm việc cho dù bạn đang bầu bí vì như thế sẽ giúp não bộ của bé cũng được kích thích đấy. Mẹ hãy cứ đọc sách, nghe nhạc, thậm chí là suy nghĩ về công việc để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của thai nhi.

Ăn uống không đủ hoặc không đúng bữa

 Việc mẹ kén ăn có thể ảnh hưởng đến sự dung nạp dinh dưỡng cho cơ thể, khiến cơ thể không đủ chất. Hơn thế nữa, chế độ ăn không đủ chất của mẹ còn ảnh hưởng đến sở thích ăn uống của bé nữa. Vì thế, mẹ tuyệt đối không nên chỉ ưu tiên những thực phẩm mình thích mà bỏ qua những món ăn giàu dưỡng chất khác. Điều này không tốt với sự hình thành sở thích ăn uống của bé chút nào.

Một số thai phụ kén ăn cũng có thể khiến thai phụ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng nhất định. Chẳng hạn như thiếu axit folic vào đầu thai kỳ có thể gây dị tật thai nhi, dị tật ống thần kinh. Vì vậy, trong quá trình mang thai, bà mẹ nên cố gắng ăn đủ bữa, đúng giờ, sinh hoạt điều độ và nên kiểm tra sức khỏe thường xuyên để phát hiện bệnh và được tư vấn các biện pháp phòng và điều trị để bé khi sinh ra phát triển hoàn thiện.

 Theo Sức khỏe và Đời sống/(Tatra, Metrol, The Time)

 

0 942

Thức ăn có vị chua cay giúp tăng cảm giác ngon miệng, trong khi canh nấu bằng hoa quả lại có thể gây tiểu đường thai kỳ.

Theo các bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng Bệnh viện Từ Dũ (TP HCM), trong những tháng đầu thai kỳ, để tăng cảm giác thèm ăn, thai phụ có thể chọn ăn những thức ăn hơi có vị chua cay để kích thích tiết axit gastric. Đây là yếu tố gây giúp cảm thấy ăn ngon miệng hơn.

1-shutterstock-pregnant-cooking-1206-1431331311-1431395515775

Tăng cường thực phẩm có nhiều vitamin, hạn chế thức ăn mặn và nhiều mỡ là điều cần thiết cho các bà bầu.

Với những thai phụ bị nghén, thường xuyên nôn ói, nên ăn thức ăn có tính kiềm như rau quả, ăn chuối, khoai tây, cải bó xôi vốn chứa nhiều vitamine B. Cũng nên bổ sung nhiều thức ăn có chứa vitamin C để giảm cảm giác khó chịu như dưa lưới, dâu tây, súp lơ trắng, ớt xanh. Các loại rau quả có màu sậm càng giàu khoáng chất.

Ở giai đoạn giữa và cuối thai kỳ, thức ăn giàu protein, calcium, vitamine như cá, thịt, trứng, các loại đậu, rong biển, canh xương thịt và các loại rau quả tươi là thực sự cần thiết.

Nếu không thể ăn được cùng lúc số lượng nhiều, các bác sĩ khuyên người mang thai nên chia nhỏ bữa ăn và ăn nhiều bữa trong ngày. Nước lọc và rau xanh là hai thứ không thể thiếu bởi nó sẽ giúp tránh chứng táo bón.

Bên cạnh các loại thực phẩm có lợi, các bác sĩ khuyến cáo thai phụ không nên ăn canh nấu bằng hoa quả là món phải cân nhắc bởi hàm lượng đường trong hoa quả thường rất cao và đây là yếu tố làm trao đổi đường trong thời gian mang thai bất thường, gây bệnh tiểu đường.

Các nghiên cứu khoa học cho thấy, trong thực tế, phần lớn người bị tiểu đường thai kỳ là do ăn uống nhiều thức ăn có hàm lượng đường cao. Các loại quả giàu chất đường như sầu riêng cũng cần hạn chế, nhất là những tháng giữa thai kỳ.

Bà bầu cũng không nên ăn thực phẩm quá nhiều mỡ động vật vì lượng mỡ thừa có thể khiến thai nhi quá to gây khó sinh hoặc băng huyết sau sinh.

Cũng cần tránh các loại thức ăn mặn như khô mắm, các loại nước chấm như nước mắm, nước tương, muối tiêu vì có thể gây phù thũng do cơ thể bị trữ nước và các biến chứng khác.

Không nên ăn theo sở thích, kiểu thèm món nào thì chỉ tập trung ăn nhiều món ấy mà không ăn các món khác vì tình trạng này sẽ khiến thai phụ không đủ sức khỏe còn thai nhi thì bị bé còi.

Nhiều người, nhất là các thai phụ trẻ tuổi do sợ mất vóc dáng sau sinh nên kiêng ăn mà không biết rằng việc kiêng khem sẽ gây cản trở cho sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên các chuyên gia cũng khuyên không được ăn quá nhiều, phải khống chế lượng thức ăn đưa vào cơ thể sao cho cân bằng để tránh gây bất thường cho quá trình trao đổi chất.

Bổ sung canxi là điều cần thiết bởi nó giúp xương của thai nhi phát triển, song nếu dùng quá liều thì canxi cũng sẽ khiến việc sinh nở gặp khó do xương thai nhi quá cứng.

Theo SKĐS/Ngôi sao