Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Tags Posts tagged with "đau đầu"

đau đầu

0 534

Theo y học cổ truyền, cá chim có vị ngọt mặn, tính hơi ôn, có tác dụng kiện tỳ, dưỡng huyết, bổ vị cố tinh, nhu lợi cân cốt.

Thường được dùng cho người bệnh kém ăn, cơ thể suy nhược, hồi hộp, đau đầu, hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, đau nhức, tê bại vùng cổ, thắt lưng và tay chân…

dau-nhuc-xuong-nen-an-ca-chim

Cá chim.

Xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ cá chim để bạn đọc tham khảo và có thể áp dụng trong các trường hợp sau:

Bài 1: Tiêu hóa kém, chán ăn, gầy yếu: Cá chim 250g, đậu trắng hạt to 30g. Cách làm: Làm sạch cá, cắt khúc, cho đậu và gừng tươi đập dập, nấu thành canh, thêm hành sống và gia vị vừa đủ, ăn trong ngày.

Bài 2: Rối loạn tiêu hóa, thiếu máu: Cá chim 250g, bạch truật 15g, bạch thược 15g. Cách làm: Dược liệu sắc lấy nước bỏ bã; Cá chim làm sạch, cắt khúc, cho vào nước thuốc, nấu canh, thêm gia vị vừa ăn. Dùng cho các trường hợp rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy do tỳ vị hư nhược, thiếu máu do huyết hư thiểu dưỡng.

Bài 3: Đau đầu, chóng mặt mất ngủ: Cá chim 250g, đảng sâm 15g, đương quy 15g, thục địa 15g, sơn dược 20g. Cách làm: Dược liệu sắc lấy nước, bỏ bã; Cá chim rửa sạch, cắt khúc cho vào hầm. Dùng cho các trường hợp đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, xây xẩm do huyết hư, hồi hộp mất ngủ, suy nhược mỏi mệt.

Bài 4: Thoái hóa xương khớp, đau nhức chân tay, đau lưng, mỏi gối: Cá chim 250g, hạt dẻ 15 – 20 hạt. Cách làm: Làm sạch cá, hạt dẻ đập dập bỏ vỏ, cho gia vị vừa đủ nấu thành canh ăn trong bữa cơm, ngày 1 lần. Ăn liền 1 tuần.

Bài 5: Hỗ trợ điều trị thận hư, liệt dương, di tinh: Cá chim 250g, ngài tằm 20 con. Cách làm: Cá chim làm sạch cho cùng ngài tằm, nêm gia vị vừa đủ nấu thành canh ăn trong bữa cơm, ngày 1 lần. Ăn liền 1 tuần.

Bài 6: Bổ thận, ích khí, dưỡng huyết: Cá chim 1 con 500g, thịt nạc vai 50g, rau cải thìa 250g, gia vị vừa đủ. Cách làm: Cá chim làm sạch, ướp gia vị, cho dầu vào chảo rán sơ, sau đó cho vào nồi hấp chín, nhấc ra đĩa. Cho thịt nạc vai và rau cải thìa vào chảo xào chín, nêm 1 chút rượu, gia vị, nước bột năng, đun chín rồi tưới lên con cá, ăn trong bữa cơm. Công dụng: Bổ thận ích khí, dưỡng huyết bổ âm nhuận táo, dùng bồi bổ tỳ vị suy hàn, thể nhược tinh ít.

Chú ý: Người bị tăng huyết áp, tăng mỡ máu, bệnh tim mạch không nên dùng.

Lương y  Nguyễn Văn Quyết

Theo suckhoedoisong.vn

Thường người bệnh lo lắng, sợ hãi nhiều hơn là thực sự có một tổn thương thực thể. Gặp các loại chóng mặt kịch phát theo tư thế như trên, có thể chữa bệnh qua 3 giai đoạn:

1-nguoi-bi-dau-dau-nen-kieng-an-gi-8-1-1431221503185

Giai đoạn 1: Chữa triệu chứng, từ 2-3 ngày, làm giảm các biểu hiện khó chịu.

Khi đang cơn, người bệnh cần nằm yên ở nơi yên tĩnh, ít ánh sáng, nằm nghiêng về phía không gây cơn.

Dùng thuốc an thần nhẹ (như seduxen, valium). Có thể dùng thuốc chống chóng mặt như uống tanganil, mỗi ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 1 viên.

Ăn nhẹ, dễ tiêu.

Giai đoạn 2: Nâng đỡ sức khỏe, từ 10 ngày đến 2 tuần.

Có thể hoạt động nhẹ nhàng, tránh đi lại trên cao, cheo leo, tránh gần các vật chuyển động nhanh (như xe cộ…).

Có thể uống tiếp trong 7 ngày nữa, mỗi ngày 2 viên tanganil, chia ra 2 lần.

Chuẩn bị cho luyện tập ở giai đoạn 3.

Giai đoạn 3: Tập luyện là phương pháp chữa trị cơ bản. Giai đoạn này cần kéo dài trong nhiều tháng.

Bài tập nhằm rèn luyện cho tiền đình (bộ phận tai trong có chức năng cơ bản của thăng bằng) chịu đựng các thay đổi tư thế, dần dần phục hồi hoàn toàn.

Người bệnh ngồi trên mép giường, nhắm mắt thư giãn rồi dần dần nghiêng đầu về một bên cho đến khi đầu nằm ngang trên giường, giữ tư thế này ít nhất 30 giây, trả đầu về tư thế cũ, lại ngồi yên trong 30 giây, đoạn tiếp tục làm động tác nghiêng đầu về phía đối diện. Lần đầu tập chỉ làm 3-4 lần động tác trên, sau đó tiến lên làm mỗi buổi tập 5-7 lần. Mỗi ngày tập 2 buổi, vào sáng sớm và tối trước ngủ, kiên trì tập trong 4-5 tuần hoặc dài ngày hơn.

Hiện nay không có thuốc đặc trị chóng mặt. Cách rèn luyện nêu trên đã được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới và đã mang lại kết quả tốt trong 80% các trường hợp.

Song song với kiên trì luyện tập như trên, người bệnh cần tránh các yếu tố gây kích động tâm thần, tâm lý, thần kinh, tránh các chất kích thích như rượu, thuốc lá.

Theo GS. Đặng Hiếu Trưng (SKĐS)

0 520

Đau đầu do thời tiết thường gặp ở những người quá mẫn cảm với thời tiết. Thường biểu hiện này không kéo dài mà chỉ sau vài giờ là khỏi nhưng cũng gây không ít phiền toái cho người bệnh trong cuộc sống.

Vào những ngày thời tiết thay đổi tôi hay bị đau đầu, nhiều lần phải dùng thuốc giảm đau. Vậy xin hỏi nguyên nhân và cách khắc phục hiệu quả.

Nguyễn Thị Lan (Yên Bái)

Đau đầu do thời tiết thường gặp ở những người quá mẫn cảm với thời tiết. Thường biểu hiện này không kéo dài mà chỉ sau vài giờ là khỏi nhưng cũng gây không ít phiền toái cho người bệnh trong cuộc sống.

 tri dau dau khi thay doi thoi tiet

Khi bị ù tai cần đến cơ sở y tế để khám và điều trị. Ảnh minh họa

Các nhà nghiên cứu cho rằng với mức tăng nhiệt khoảng 5 độ C thì ngày hôm sau, tỉ lệ người đau đầu gia tăng lên 7,5% và khi áp suất không khí giảm, hiện tượng xảy ra trước khi trời mưa cũng liên quan đến việc gia tăng số người bị đau đầu trong 48-72 giờ sau đó. Nguyên nhân là do mạch máu bị giãn khi có sự thay đổi của khí hậu như từ nóng sang lạnh, từ lạnh sang nóng, đang nắng chuyển sang mưa, hướng gió thay đổi…

Bệnh này thường chỉ điều trị được về triệu chứng và hầu như không điều trị dứt điểm. Uống thuốc giảm đau chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng nhưng lưu ý không lạm dụng thuốc giảm đau, chỉ nên uống khi cơn đau quá dữ dội. Cách phòng bệnh đơn giản, hiệu quả là tăng cường thể lực, bồi bổ cơ thể bằng các loại thuốc bổ như vitamin B1, B6, B12…; ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi… Khi đi ngoài trời nắng nên đội mũ rộng vành, hạn chế ánh nắng chiếu trực tiếp vào đầu. Luyện tập các môn thể dục nhẹ nhàng giúp cho nâng cao thể trạng để thích nghi với thời tiết sẽ giảm được đau đầu.

Theo Bác sĩ Nguyễn Văn Dũng (SKĐS)

Cúc hoa được dùng trong nhân dân làm thuốc chữa các chứng nhức đầu, đau mắt, chảy nước mắt, cao huyết áp, sốt.

Hỏi: Xin cho hỏi cách thu hái cúc hoa để làm thuốc như thế nào?

(Trần Văn Cường – Hà Nội)

Trả lời: Cúc hoa còn gọi là cam cúc hoa, bạch cúc hoa, cúc hoa trắng, cúc điểm vàng, Hoàng cúc.

Tên khoa học Chrysanthemum sinense Sabine.

Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).

Cúc hoa (Flox Chrysanthemi) là hoa cúc phơi hay sấy khô. Người ta còn dùng cả hoa của cây cúc hoa vàng hay dã cúc, kim cúc, cúc riềng vàng Chrysanthemum indicum L. (Chrysanthemum procumbens Lour.) cùng họ.

Cúc là cùng tận: tháng 9 hoa cúc nở sau cùng.

Mô tả cây

Cây hoa cúc trắng (Chrysanthemum sinense là một cây sống hai năm hay sống dai, thân mọc thẳng đứng, có thể cao 0,5 – 1,4m, toàn thân có lông trắng mềm. Lá mọc so le, cuống dài 1 – 2,5cm có lông trắng, phiến lá hình trứng hay hơi thuôn hai đầu tù dài 3,5 – 5cm, rộng 3 – 4cm, chia thành 3 – 5 thùy mép có răng cưa và lượn sóng, mặt dưới nhiều lông màu trắng mốc. Cụm hoa hình đầu, màu trắng hay hơi tía ở phía ngoài, vàng ở giữa, mọc ở đầu cành hay kẽ lá.

Cúc hoa làm thuốc

Cây cúc hoa vàng (Chrysanthemum indicum) là một cây mọc thẳng đứng cao chừng 90cm. Phiến lá hình 3 cạnh tròn, thùy xẻ sâu. Cụm hoa hình cầu, đường kính nhỏ hơn loài hoa cúc nói trên, thường chỉ độ từ 1 – 1,5cm (loài trên đo được 2,5 – 5cm). Hoa trong và ngoài đều màu vàng.

Phân bố thu hái và chế biến

Cây hoa cúc được trồng nhiều ở ta để lấy hoa làm thuốc hay ướp chè, nấu rượu.

Trồng bằng mẩu thân, dài chừng 20cm. Mùa trồng tốt nhất là các tháng 5 – 6. Sau 4 – 5 tháng bắt đầu thu hoạch (trồng cuối tháng 5 thu hhoạch tháng 9, trồng trong tháng 6 thu hoạch tháng 10 – 11). Có thể trồng ngay từ tháng 3, đến tháng 6 thì phát trụi bằng đi, sau đó cây lại nẩy mầm, tháng 10 thu hoạch hoa nhiều và tốt hơn.

Thu hoạch hoa bắt đầu từ tháng 9 hay tháng 10. Tùy theo sự chăm sóc, thu hoạch được nhiều hay ít đợt. Làng Nhật Tân do tưới bằng khô dầu nên thu hoạch được nhiều đợt từ lứa đầu thu hoạch vào tháng 9 đến tháng 3 năm sau là lứa cuối cũng có thể hái tới 7 đợt. Làng Nghĩa Trai (Hưng Yên) bón bằng phân trâu bò nên chỉ thu hoạch có 4 đợt. Lứa thu hoạch đầu và cuối kém.

Cúc hoa làm thuốc

Cây cúc hoa vàng (Chrysanthemum indicum

Hiệu suất trồng vườn là 2 tấn khô một hecta, cúc ruộng là 850kg hoa khô 1 hecta. Sau khi thu hoạch lứa cuối cùng , người ta cuốc từng bụi thu vào một góc vườn. Không để giống ở ruộng hay ở vườn. Vì cây cúc vàng hiệu suất cao hơn cho nên hiện nay người ta thường hay trồng loại cúc vàng. Hiệu suất cúc trắng chỉ bằng 1/3 cúc vàng.

Hái hoa về, đem quây cót rồi sấy diêm sinh độ 2 – 3 giờ, thấy hoa chín mềm là được, nếu hoa còn sống sẽ hỏng). Sau khi sấy diêm sinh, đem nén, trên đè càng nặng càng tốt. Nén độ 1 đêm thấy nước chảy ra đen là được, đem phơi độ 3 – 4 nắng nữa mới được. Nếu trời râm thì đêm phải sấy diêm sinh. Cứ 5 – 6kg hoa tươi cho 1kg khô.

Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ, hoa cúc trắng có vị ngọt, đắng, tính hơi hàn, cúc hoa vàng có vị đắng cay, tính ôn vào 3 kinh phế, can và thận. Có tác dụng tán phong, thấp, thanh đầu, mục, giáng hỏa, giải độc. Dùng chữa phong mà sinh hoa mắt, nhức đầu, mắt đỏ đau, nhiều nước mắt, đinh nhọt.

Hiện nay cúc hoa được dùng trong nhân dân làm thuốc chữa các chứng nhức đầu, đau mắt, chảy nước mắt, cao huyết áp, sốt.

Liều dùng 6 – 15g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài rửa đắp mụn nhọt.

Còn dùng để ướp chè hay ngâm rượu uống.

Theo Sức khỏe và đời sống/(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

của GS. ĐỖ TẤT LỢI

Đông y cho rằng, thịt gà có vị ngọt, tính ấm, không độc, lành mạnh phổi, tác dụng ôn trung ích khí, bổ tinh tủy

 Đông y cho rằng, thịt gà có vị ngọt, tính ấm, không độc, lành mạnh phổi, tác dụng ôn trung ích khí, bổ tinh tủy; có tác dụng bồi bổ cho người bị bệnh lâu ngày, dạ dày bị phong hàn, suy yếu không hấp thu được thức ăn.

Thịt gà còn chữa được băng huyết, xích bạch đới, lỵ, ung nhọt, trừ phong. Do đó thường dùng cho các trường hợp gầy yếu sút cân, suy kiệt, đầy bụng không tiêu, ăn kém, tiêu chảy, lỵ, phù nề, tiểu rắt, di niệu, đái hạ, huyết trắng, sau đẻ ít sữa, bệnh đái tháo đường. Dưới đây xin giới thiệu một số cách sử dụng món ăn thuốc trị bệnh mà thịt gà là chủ vị.

Dùng cho người cao tuổi tỳ vị hư nhược, gầy còm, da khô nhẽo: thịt gà trống 150g, bột mì 210g, hành củ 15g, bột tiêu, gừng, các gia vị khác với liều lượng thích hợp. Thịt gà cùng với hành, tiêu, gừng và các gia vị khác được băm trộn sẵn để làm nhân. Bột mì thêm nước nhào trộn, cán thành bánh. Làm bánh có nhân là thịt gà cùng gia vị, luộc hay hấp chín, làm bữa ăn chính, cho ăn khi đói, ngày 1 lần trong 1 đợt 5 – 10 ngày.

Dùng cho các trường hợp thận hư, ù tai, chóng mặt: gà 1 con làm sạch, cho rượu vào hầm chín. Ăn trong ngày.

 Món ăn trị bệnh từ thịt gà

Dùng cho các trường hợp suy nhược gầy còm, huyết hư sau đẻ: gà mái 1 con, gạo trắng và bách hợp với một lượng thích hợp. Gà làm sạch, mổ moi, bỏ ruột, cho gạo và bách hợp vào bụng gà khâu lại, thêm nước, gia vị, nấu chín ăn.

Dùng cho người mắc chứng viêm gan, phụ nữ sau nạo thai, sau đẻ bị nôn ói ra thức ăn, ăn vào nôn ra: gà giò 1 con; nhân sâm, đương quy, muối ăn mỗi thứ đều 15g. Gà làm sạch, luộc chín, róc bỏ xương, cho nhân sâm, đương quy và muối ăn vào hầm chín nhừ. Chia ra ăn hết trong một vài lần.

Trị sa dạ dày, sa thận, sa trực tràng, sa tử cung: gồm gà mái giò 1 con, hoàng kỳ 60g. Làm sạch gà, cho vào nồi hấp cùng hoàng kỳ, thêm gừng, hành, muối, gia vị, hầm trong 3 giờ mang ra ăn.

Trị đau bụng, đầy hơi, mệt mỏi: gà 1 con, nhân sâm 10g, tiểu hồi 10g, xuyên tiêu 6g. Làm sạch gà mổ moi, cho các vị thuốc cùng với chút rượu, đường, dầu, mắm, gia vị vào bụng gà buộc lại, thêm nước, hầm cách thủy, ăn khi đói.

Trị suy nhược cơ thể, đầy bụng không tiêu: gà trống 1 con, thảo quả 2 quả, bột nghệ 3g (hoặc nghệ tươi), hồ tiêu 6g, vỏ quýt 3g, thêm hành, dấm, nước mắm và lượng nước thích hợp, nấu nhừ, ăn khi đói.

Trị các trường hợp suy nhược, ăn kém, chậm tiêu, đau bụng: gà trống 1 con, riềng, thảo quả mỗi thứ 6g, trần bì, hồ tiêu mỗi thứ 3g. Gà làm sạch chặt khúc, các dược liệu cho vào túi vải xô, thêm nước, hành, dấm, gia vị, đun nhỏ lửa cho chín nhừ, chia ăn nhiều lần.

Trị các trường hợp thiểu dưỡng gây phù mặt và chân tay: gà mái ri lông vàng 1 con, xích tiểu đậu 30g, thảo quả 3g. Gà làm sạch, tất cả cho vào nồi, thêm nước, muối, mắm, gừng tươi, hành sống; đun to lửa cho sôi, đun nhỏ lửa cho chín nhừ, chia ra ăn làm nhiều lần trong ngày.

Hạ huyết áp: gà giò (trống) một con, quyết minh tử 12g, ngũ vị tử 10g, gừng 5g, hành 10g, muối vừa đủ. Gà trống làm sạch, bỏ lòng. Hai vị kia rửa sạch, gừng đập dập, hành cắt nhuyễn, ướp muối lên thịt gà, bỏ gừng, hành, quyết minh tử, ngũ vị tử cho vào bụng gà. Nấu với một lít nước, đun to lửa sau vặn nhỏ. Hầm 60 phút. Mỗi ngày ăn một lần.

Tăng huyết áp, đái tháo đường kèm béo phì: thịt gà 100g, bí đao 200g, đảng sâm 3g, muối một ít. Thịt gà cắt miếng nhỏ cho vào nồi với đảng sâm, nước nửa lít, đun nhỏ lửa, hầm chín. Cho bí đao cắt miếng vào với gia vị vừa đủ. Ăn thịt, uống canh, dùng cùng trong bữa ăn.

Người ốm thiếu máu: gà giò một con, mổ bỏ ruột, nhét một nắm lá ngải cứu tươi, rửa sạch, khâu lại, nấu kỹ, mỗi ngày ăn một con. Ăn một tuần liền.

Ho lâu ngày, khó ngủ: cũng làm như bài thuốc trên nhưng thay lá ngải cứu bằng lá dâu tằm non và nửa chén gạo nếp (nấu ăn).

Tinh thần mệt mỏi, xương khớp tê nhức: gà ác một con, táo tàu đen 10 quả, hoài sơn (củ mài) 15g, kỷ tử 10g, ý dĩ 30g, vài củ hành tím, gia vị vừa đủ. Gà làm sạch, để nguyên con. Hành tím bóc vỏ, nướng chín; ý dĩ ngâm nước cho nở; ngâm táo tàu 10 phút, vớt ra để ráo. Đặt gà vào thố sứ, cho táo và ba vị kia vào, đổ nước vừa bằng, đậy nắp thố, chưng cách thủy chừng một tiếng rưỡi. Nêm ít đường, muối, rồi thả hành tím nướng vào. 30 phút sau ăn được, rắc ít tiêu bột cho thơm. Ăn nóng, mỗi ngày một lần, từ 7 – 10 ngày.

Suy nhược cơ thể, ho lao, sau khi đẻ gầy yếu: gà mái một con, gạo lứt 100g. Mổ gà, bỏ ruột, nấu lấy nước đặc. Cho gạo lứt đãi sạch vào nồi, đun lửa to, sau nhỏ dần. Nấu cháo loãng, nêm gia vị vừa ăn. Ăn nóng hai bữa sáng, tối.

Chữa đầy bụng: màng mề gà 10g, lá lốt 30g, mộc hương 20g. Các vị thuốc này sao vàng, tán bột, cho bệnh nhân uống ngày 3 lần, mỗi lần 5g với nước sôi để nguội.

Chữa sỏi mật: màng mề gà 15g, kim tiền thảo 30g, nghệ 15g, hoàng liên 6g, đại hoàng 6g, trần bì 15g, cam thảo 10g. Những vị này sắc lấy 200ml nước thuốc đặc, chia 3 lần uống trong ngày và uống kiên trì nhiều ngày.

Chữa bệnh trĩ, lòi dom: gà mái già hầm với 15g hà thủ ô, cho một chút nước vừa đủ hầm cách thủy 2 giờ trở lên, ăn cả nước và cái. 2, 3 ngày ăn 1 lần. Tác dụng hòa khí hoạt huyết giữ cho tử cung khỏi sa, khỏi trĩ.

Chữa thiếu máu do thiếu sắt (phụ nữ mang thai, sinh đẻ): màng mề gà 10g, thổ đại hoàng 30g, đan sâm 15g sắc lấy 150ml nước thuốc đặc, chia 2 lần uống trong ngày, uống khoảng 15 ngày.

Chữa chứng mất ngủ: gan gà 1 bộ, bạch thược 60g tán bột rắc đều vào gan gà đem hấp cách thủy, khi chín cho bệnh nhân ăn, ngày 1 lần.

Chữa ho gà: gà 1 con nhỏ 400g, bối mẫu 3g, củ cải trắng 100g. Gà làm sạch mổ moi bỏ nội tạng, bối mẫu tán bột mịn, củ cải trắng rửa sạch cắt nhỏ, cho tất cả vào bụng gà khâu kín đem hấp cách thủy, khi chín chia 2 lần cho bệnh nhân ăn trong ngày, ăn 3 ngày liền sẽ thấy hiệu quả.

Lưu ý: người có cơ địa mẫn cảm, dị ứng như hen suyễn, phong thấp dễ có phản ứng mẩn ngứa, nổi ban, khó thở khi ăn da gà, gan gà; khi làm các món gà kho, gà hầm, thêm gừng tươi đập dập hoặc thái mỏng làm gia vị và giải mẫn cảm theo kinh nghiệm dân gian.

Theo HOÀNG TUẤN LINH (Sức khỏe và đời sống)

 

1 756
 Cúc là loài hoa nhiều màu sắc thường nở vào mùa thu. Đây cũng là loại mỹ phẩm thiên nhiên có tác dụng làm đẹp. Xin giới thiệu với chị em vài cách làm đẹp từ loài hoa này.

Làm đẹp từ hoa cúc

 * Làm da mịn màng và hồng hào: Dùng 500g hoa cúc trắng và 500g phục linh trộn đều, nghiền mịn. Pha 6g bột với nước ấm và chút rượu để uống ngày 3 lần. Dùng một thời gian, da sẽ rất mịn màng và tươi trẻ.

Trước khi tắm, dùng hoa cúc tươi thả vào bồn hoặc chậu nước nóng để trong 20 phút. Sau đó ngâm mình và thư giãn. Một tuần nên tắm nước hoa cúc hai lần, sẽ giúp cơ thể giải nhiệt và lưu thông máu rất tốt làm sắc tố da hồng hào.

* Chữa da bị mẩn ngứa, dị ứng: Vùng da mặt và cổ thường khá nhạy cảm, rất hay bị mẩn ngứa và dị ứng. Có thể dùng 100g hoa cúc và một nhúm lá hương thảo (tươi hoặc khô) cho vào li nước lạnh, sau đó đun sôi để nguội dùng rửa lên những vùng da bị ngứa. Da sẽ hết sần và mịn trở lại.

* Chữa nám da: Lấy 10 bông hoa cúc rửa sạch cho vào 250ml nước tinh khiết, cho thêm 1,3 thìa muối tinh rồi đun sôi, để nguội, lọc sạch xác hoa và hòa thêm hai muỗng nhỏ mật ong. Dùng hỗn hợp nước này rửa da mặt bị nám hàng ngày. Một thời gian sau, da sẽ có màu sáng trở lại.

Làm đẹp từ hoa cúc

* Làm sáng mắt, chữa đau đầu: Dùng vài bông cúc vạn thọ vàng rửa sạch, sau đó hãm thêm vào ấm chè để uống. Uống trà hoa cúc thường xuyên mắt sẽ thêm sáng. Ngoài ra, nước hoa cúc còn chữa được bệnh nhức đầu, đau mắt, hạn chế bệnh tiểu đường làm dịu căng thẳng, giúp ngủ ngon.

Theo Tuấn Anh (Gia đình và Trẻ em)

0 646
Trong guồng quay gấp gáp của cuộc sống hiện đại, cộng thêm áp lực học hành quá tải, trẻ em bị stress là điều khó tránh khỏi. Cha mẹ cần dạy trẻ cách đối phó với stress và không nên bỏ mặc trẻ với các vấn đề vướng mắc của chúng.

học quá nhiều

Biểu hiện của trẻ bị stress

 Đối với trẻ em tuổi mẫu giáo, những hoàn cảnh phổ biến dẫn đến stress là: những thay đổi trong lịch sinh hoạt hàng ngày, việc đi học ở nhà trẻ hay mẫu giáo, sự ra đời của em bé trong gia đình, chưa quen những yêu cầu và nội quy của nhà trẻ hoặc mẫu giáo, khoảng thời gian dài xa cách bố mẹ trong ngày… Để biết con mình có đang bị stress hay không, các bậc phụ huynh có thể nhận biết theo các biểu hiện say đây: trẻ hay cáu kỉnh, hay đòi hỏi, vòi vĩnh hơn và nhất là trẻ hay làm nũng, khóc nhè, có các biểu hiện khó khăn về lời nói, ngôn ngữ, hay “lên cơn” nổi cáu, đôi khi trẻ hay nói dối, thái độ sợ hãi, không hòa đồng với những người xung quanh, sống thu mình lại, bắt đầu sợ phải ở đâu đó một mình, đôi khi chúng có cảm giác đói mặc dù vừa được ăn xong… Ngoài ra, còn xuất hiện thêm các triệu chứng thể chất như đái dầm, mất ngủ, giảm sự thèm ăn, nói lắp, đau bụng, đau đầu, gặp ác mộng ban đêm, ngủ mê, lười vận động… Hậu quả của stress đối với trẻ nhỏ là trẻ phát triển tư duy chậm. Cảm giác như trẻ không khôn lớn thêm mà ngược lại, ngây ngô hơn …

b9e9bce92c994ff781599ee83bf0d969

Trẻ từ 6 đến 16 tuổi khi bị stress luôn mệt mỏi, cáu kỉnh, không thích giao tiếp, sống thu mình. Trẻ cũng buồn chán, không quan tâm thích thú với các hoạt động thường yêu thích; Giảm khả năng tập trung, chú ý; Thất vọng, bi quan; Giảm năng lượng, dễ mệt mỏi, thiếu khả năng chăm sóc bản thân; Hay khóc nhưng không có lý do; Chán ăn, ăn ít hoặc ăn quá nhiều; Rối loạn cơ thể như đau bụng, đau đầu…; Ngủ ít hoặc ngủ nhiều, có ác mộng vào ban đêm; Hoạt động chậm chạp, ức chế tâm thần vận động, đôi khi giận dữ thái quá; Tự ti, kém tự tin, cảm giác tội lỗi, có hành vi nổi loạn, phản ứng thái quá với các vấn đề nhỏ, không có khả năng tập trung hoàn thành việc học ở trường, và có sa sút quá rõ ràng trong thành tích học tập; Thích được  ở một mình trong một thời gian dài; xuất hiện những thói quen mới như mút ngón tay cái, quấn tóc, hoặc ngoáy mũi… Nguy cơ lớn nhất đối với trẻ vị thành niên bị stress là có ý định tự sát.

Cha mẹ hãy dành thời gian quan tâm tới trẻ vì những đứa trẻ bị bỏ rơi hay không nhận được sự trợ giúp từ bố mẹ đều không cảm thấy tự tin vào chính mình, không thể đối phó với stress và khắc phục tình trạng này.

 

Sở dĩ như vậy, bởi vì trẻ ở độ tuổi này phải đối phó với những áp lực từ gia đình và nhà trường. Do kì vọng vào con quá lớn, cha mẹ thường đặt ra mốc phấn đấu, làm các em lo lắng về bài kiểm tra và kết quả học tập. Cũng có em bị stress do chưa quen bạn bè mới, ghen tỵ với mọi người, mặc cảm về ngoại hình hay sự phát triển trí não của mình, tranh đua với anh chị em trong gia đình hay bạn bè, chịu những lời phê phán qua những cuộc tranh cãi với cha mẹ hay bạn bè, thay đổi tâm sinh lý theo tuổi, bị bạn bè hắt hủi, cảm giác e thẹn, bịcha mẹ hay người khác đối xử thô bạo về thể xác và tinh thần…

tre-bi-stress2 Trẻ dễ bị stress do áp lực học hành. Ảnh: KT

 Làm gì để giúp con không bị stress 

 Theo các nhà tâm lí, giáo dục, trẻ em tuổi mẫu giáo bị stress đặc biệt cần đến tình thương yêu và trợ giúp của cha mẹ. Vì trẻ chưa đủ khả năng để kiểm soát hành động của mình, chưa hình thành thói quen giải quyết các vướng mắc cả trong thế giới tuổi thơ và thế giới của người lớn. Cha mẹ hãy giải thích cho trẻ hiểu đúng sự việc, bằng ngôn ngữ đơn giản nhất mà trẻ có thể tiếp thu được. Cố gắng tạo niềm tin để trẻ kể cho bạn những điều làm cho trẻ sợ hãi (ví dụ như: “con sợ phải bước ra ngoài vào ban đêm” hay “con sợ nghe tiếng kẹt cửa”) và giúp trẻ hết sợ hãi, bằng cách giải thích cho trẻ biết rằng điều đó hoàn toàn bình thường, không có gì đáng phải sợ hãi như thế. Qua đó, sẽ tạo cho trẻ cảm giác tự tin và an toàn. Cha mẹ cũng đừng quên dành cho trẻ thật nhiều tình cảm yêu thương và quan tâm. Nếu tình hình quá nghiêm trọng, hãy đưa con đến các chuyên gia tâm lý và bác sĩ để nghe lời tư vấn hoặc chữa trị cho trẻ.

quan tam den con

Những trẻ học tiểu học, trung học cơ sở khi bị stress mà không được điều trị kịp thời, sẽ dễ dẫn tới bệnh trầm cảm. Do đó, cha mẹ hãy để mắt đến con nhiều hơn và thông cảm, luôn tạo cơ hội, chỉ hướng cho trẻ để trẻ thử tự phân tích tình huống, giúp trẻ hiểu được những điều mà tự bản thân trẻ còn chưa biết trong hoàn cảnh của mình. Cần khen ngợi trẻ vì sự dũng cảm, khi trẻ chia sẻ với bạn những vấn đề của mình. Không nên để trẻ thu mình lại, mà khuyến khích để chúng nói ra những vấn đề gặp phải.

 Theo PGS.TS Hoàng Bá Thịnh  Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Công tác xã hội, Chủ nhiệm Bộ môn Xã hội học Giới và Gia đình – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội: Phần lớn nguyên nhân dẫn đến stress và nặng hơn là bệnh trầm cảm ở trẻ đều xuất phát từ gia đình. Sự quan tâm của cha mẹ, người thân về mặt tinh thần đối với trẻ là rất quan trọng. Cha mẹ cần hiểu rõ những lo âu và cảm xúc của trẻ; Dành thời gian nói chuyện với con về những gì đang diễn ra trong chúng; Không nên phán xét và đưa ra nhiều lời khuyên với trẻ; Không xem thường các lo lắng của trẻ; Giúp trẻ có cảm giác hy vọng và từ bỏ ý nghĩ mình là người bất hạnh, cô đơn; Nếu trẻ có ý nghĩ tự tử hay làm tổn thương mình, cần trò chuyện với con về việc đó một cách nghiêm túc; Đưa ra sự lựa chọn khác cho con thay việc tự tử và chỉ cho con thấy con không bị cô độc mà sẽ nhận được sự giúp đỡ từ gia đình bất cứ lúc nào. Đồng thời, luôn ở bên cạnh trẻ nếu thấy nguy cơ trẻ tự làm tổn thương.

 Quan trọng nhất là các bậc cha mẹ không bao giờ được gây áp lực cho trẻ, nhất là trong việc học hành, không nên bắt trẻ luôn phải đạt thành tích cao và so sánh trẻ với bạn bè của trẻ, trách móc trẻ vì sự thua kém của mình. Chú ý đến từng thay đổi nhỏ trong lời nói, hành vi, tâm lí của trẻ để phát hiện kịp thời các trạng thái của trẻ. Khi trẻ bị stress nặng, cần đưa trẻ tới phòng khám, sẽ được các bác sĩ, chuyên gia khám, tư vấn phân tích tình hình sức khỏe, tìm ra nguyên nhân để được tư vấn và điều trị sớm.

                                                                                                     Theo Bích Hòa (Gia đình và Trẻ em)

Thực phẩm hàng ngày là một trong nhiều yếu tố có ảnh hưởng nghiêm trọng tới bệnh đau đầu.

1-nguoi-bi-dau-dau-nen-kieng-an-gi-1-1431221305691

Các thực phẩm thay thế đường: Đường hóa học không tốt cho bệnh đau đầu. Đường hóa học sẽ kích thích quá mức hoặc gây cản trở cho các dây thần kinh, căng cơ tăng, dẫn tới chứng đau nửa đầu. Đường hóa học thường có trong một số thực phẩm như nước ngọt, kem, kẹo cao su… và những loại thuốc có chứa đường aspartam.

1-nguoi-bi-dau-dau-nen-kieng-an-gi-2-1431221336502

Thức ăn nhanh: Đồ ăn nhanh chứa monosodium glutamate, là muối natri của axit glutamic, vốn là một trong những tác nhân gây đau đầu. Ngoài ra, đồ ăn nhanh cũng tiêu hóa lâu hơn, khiến máu dồn lên não nhanh gây đau đầu.

 Pho mát: Pho mát chứa hàm lượng cao protein. Thực phẩm có hàm lượng protein cao làm tăng tyramine, một chất gây đau đầu. Do vậy bạn nên lựa chọn loại pho-mát phù hợp và tránh ăn quá nhiều.

Chocolate -dược phẩm tình yêu

Sô cô la: Nếu bạn bị dị ứng ca cao thì bạn có thể cảm thấy đau đầu nếu chỉ ăn một chút sô cô la. Phenylethylamine và theobromine là hai thành phần có trong sô cô la có thể làm giãn nở các mạch máu khiến cơn đau đầu xuất hiện ngay sau khi bạn ăn sô cô la.

1-nguoi-bi-dau-dau-nen-kieng-an-gi-5-1431221402987

Nho đỏ: Trong số những loại thực phẩm nên tránh, nho đỏ là loại quả mà người bệnh không nên dùng đầu tiên. Theo các nhà khoa học loại quả này chứa nhiều tyramine, một acid amin tự nhiên hình thành từ sự phân hủy của protein trong thực phẩm. Acid này khiến huyết áp của người dùng tăng và gây ra các cơn đau đầu.

1-nguoi-bi-dau-dau-nen-kieng-an-gi-6-1431221454975

Rượu bia: Rượu bia, đặc biệt là rượu vang đỏ là thức uống phổ biến gây đau đầu cho bạn do chúng chứa chất cồn. Mặc dù nó làm tăng sức đề kháng và miễn dịch cần thiết khi uống với số lượng nhất định, nhưng nó thực sự có thể trở thành một lý do gây nhức đầu khi bạn lạm dụng quá mức. Tất cả những đồ uống có cồn đều gây ra đau đầu, đặc biệt là rượu vang đỏ chứa rất nhiều chất hóa học gây đau đầu.

1-nguoi-bi-dau-dau-nen-kieng-an-gi-3-1431221358009

Thực phẩm chứa tyramin: Chất tyramine có trong một số loại thực phẩm như cà chua, thịt lợn, một số loại pho mát, sô cô la, sữa có thể là nguyên nhân dẫn đến chứng đau đầu của bạn. Bơ, chuối và quả hạch cũng chứa khá nhiều tyramine.

Uống cà phê mỗi ngày giảm nguy cơ ung thư hắc tố

Cà phê: Đây là một chủ đề gây tranh cãi khá nhiều. Một số người sẽ cảm thấy cơn đau đầu giảm nhẹ khi uống một tách cà phê nhỏ, nhưng với nhiều người khác cà phê hay những sản phẩm có chứa caffein có thể gây ra cơn đau. Cà phê có thể gây kích thích hệ thần kinh mạnh, cũng có thể gây ảnh hưởng đến giấc ngủ và nếu dùng nhiều có thể dẫn đến chứng đau nửa đầu.

1-nguoi-bi-dau-dau-nen-kieng-an-gi-9-1431221520709Thực phẩm được nấu với nhiều gia vị: Khá thật vọng khi những món ăn cầu kì, đặc sắc ở cách nêm nếm gia vị lại nằm trong danh sách những đồ ăn có khả năng dẫn đến cơn đau nhức đầu nghiêm trọng. Nguyên do món ăn nhiều gia vị thường chứa một loại enzym có tác dụng phụ này.

 Theo SKĐS/VTC news

Đau đầu, thiên đầu thống, rối loạn tiền đình là do ngoại tà phạm lên trên, hoặc do đàm ẩm, ứ huyết, âm hư, hoả vượng, tinh khí không đưa được lên não gây ra.

oc-lon-ky-tu-thien-ma

Óc lợn nấu kỷ tử thiên ma.

Đau đầu, thiên đầu thống, rối loạn tiền đình là do ngoại tà phạm lên trên, hoặc do đàm ẩm, ứ huyết, âm hư, hoả vượng, tinh khí không đưa được lên não gây ra.

Triệu chứng thường gặp là đau đầu, cứng cổ gáy, đau mình mây hoặc đau một bên đầu, tinh thần không tỉnh táo, bụng đầy, ngực tức, hoa mắt, chóng mặt, đôi khi có tiếng ve kêu trong tai.

Chữa đau đầu do thiên đầu thống bằng món ăn, bài thuốc là cách chữa an toàn, hiệu quả.

Óc lợn, thiên ma: Lấy óc lợn 1 bộ, thiên ma 10 – 30g (thái lát) hầm nhỏ lửa thành dạng canh rồi bỏ bã, uống vài lần trong ngày. Cũng có thể lấy óc dê 1 bộ, rửa sạch huyết rồi hầm trong 30 phút, thêm gia vị ăn trong ngày.

Óc-heo-hầm-hà-thủ-ô

Óc lợn hầm: Óc lợn 1 bộ, dùng nước sôi để nguội rửa sạch huyết, đem hầm kỹ trong 30 phút rồi ăn trong ngày, một liệu trình kéo dài 7 ngày.

Hoặc:

Óc lợn 100g, hành 20g, gừng tươi 10g, rượu vang 10g, dầu vừng 10g, tỏi 20g, xì dầu vừa đủ. Óc lợn rửa sạch, loại bỏ gân máu, hành thái nhỏ, gừng và tỏi giã nát. Đặt óc lợn lên một cái đĩa cùng gừng và hành, vay rượu vang lên trên rồi đem hấp cách thuỷ chừng 30 phút, sau đó chế thêm dầu vừng, tỏi, xì dầu, trộn đều, ăn trong ngày.

Tác dụng: Chữa phong huyễn não minh (Tây y gọi là thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình). Triệu trứng: Hoa mắt, chóng mặt, kèm theo có những âm thanh bất thường trong đầu như tiếng ve kêu, tiếng xay lúa.

Óc lợn, trứng gà: Óc lợn 1 bộ, trứng gà 1 – 2 quả, óc lợn rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu, đánh đều với trứng gà rồi tráng chín ăn trong ngày.

Hoặc: óc lợn 1 bộ, nhục thung dung 12g, thỏ ty tử 12g, thục địa 12g, kỷ tử 15g, các vị thuốc sắc kỹ, bỏ bã, lấy nước rồi cho óc lợn vào đun chín, chế thêm gia vị, ăn trong ngày.

Tác dụng: Chữa hội chứng suy nhược thần kinh, đau đầu.

Óc lợn, thiên ma, kỷ tử: Óc lợn 1 bộ, thiên ma 9g (thái lát) kỷ tử 15g. Óc lợn rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu, hấp cách thuỷ cùng thiên ma và kỷ tử, chế thêm gia vị ăn trong ngày. Hoặc óc lợn 1 bộ, thiên ma 10g, gạo tẻ 250g, đem gạo và thiên ma nấu thành cháo rồi cho óc lợn vào đun chín, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

Tác dụng: Chữa di chứng chấn thương sọ não, đau đầu.

Óc lợn, mộc nhĩ đen: Óc lợn 1 bộ, mộc nhĩ đen 15g. Óc lợn rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu. Mộc nhĩ ngâm nước lạnh 15 phút rồi rửa sạch, cho vào chảo xào trong 30 phút với 1 thìa dầu thực vật. Cho thêm một thìa rượu vang, muối, gia vị vừa đủ và một chút nước đun sôi. Sau đó cho óc lợn vào, chế thêm một bát nước nhỏ rồi đun nhỏ lửa trong 40 phút nữa. Khi ăn, có thể cho thêm hạt tiêu và các gia vị khác.

Tác dụng: Chữa rối loạn thần kinh chức năng gây đau đầu.

Óc lợn, đông trùng hạ thảo: Óc lợn 1 bộ, rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu; đông trùng hạ thảo 10g rửa sạch, để ráo nước. Hai thứ đặt lên đĩa, cho thêm một thìa rượu vang, 2 thìa nước lạnh và một chút muối ăn rồi hấp cách thuỷ, ăn trong ngày.

Hoặc: Óc lợn 1 bộ, tiểu mạch 30g, đại táo 1 quả. Cho tiểu mạch vào 2 bát nước to, sắc kỹ tiểu mạch bằng lửa nhỏ trong nửa giờ rồi bỏ bã, lấy nước. Cho đại táo và óc lợn (đã ngâm kỹ bằng nước ấm) vào cùng với 2 thìa đường trắng, nửa thìa rượu vang, hầm kỹ trong 30 – 60 phút là được. Chia ăn 2 lần trong ngày.

Tác dụng: Chữa rối loạn tiền đình do tổn thương tai trong.

Óc dê, kỷ tử: Óc dê 1 bộ, kỷ tử 50g, óc dê rửa sạch, hấp cách thuỷ cùng kỷ tử rồi chế thêm gia vị ăn trong ngày.

Hoặc: Óc lợn 1 bộ rửa sạch huyết, loại bỏ gân máu, hoài sơn 15g, kỷ tử 15g. Tất cả đem hấp cách thuỷ rồi chế thêm gia vị, ăn trong ngày.

Lưu ý: Các loại óc động vật có tác dụng tương tự như nhau, tuỳ theo điều kiện có thể linh hoạt sử dụng. Tác dụng: Chữa chứng chậm phát triển trí tuệ của trẻ em, làm tăng trí nhớ và khả năng hoạt động của não bộ.

Theo Lương y Quốc Trung (suckhoedowisong.vn)

Là cây rau quen thuc trong các ba ăn hng ngày, rau cn nước còn là v thuc cha được nhiu loại bnh mà ít ai biết.

Công dụng chữa bệnh thần kỳ của rau cần

Về thành phần hóa học, rau cần có chứa tinh dầu, acid hữu cơ, caroten, vitamin P, C, đạm, đường, canxi, phôtpho, sắt… Nghiên cứu dược lý cho thấy, loại rau này có tác dụng giảm ho, chống viêm, long đờm, kháng nấm, hạ huyết áp, giảm đường và mỡ máu.

Ngoài ra, theo y học cổ truyền, rau cần có vị ngọt, tính mát, có tác dụng bình can, thanh nhiệt, trừ phong lợi thấp, nhuận phế, ngưng ho, sáng mắt, giảm áp suất máu… Tất cả các bộ phận của cây rau này đều có tác dụng chữa bệnh.

Với đặc tính là cung cấp nhiều chất xơ nên rau cần có tác dụng loại trừ các chất thải có độc trong hệ tiêu hóa. Bên cạnh đó, hương thơm của rau cần còn kích thích và lưu thông các tuyến mồ hôi, giảm huyết áp.

 Dưới đây là những cách dùng rau cần để trị bệnh mời các bạn theo dõi:

Hạ huyết áp:

Người bệnh có thể dùng bằng cách nấu ăn đơn thuần và cũng có thể dùng nấu cháo rau cần ăn 1 tuần 2 – 3 bữa trong một thời gian huyết áp sẽ ổn định hơn. Mặt khác, đối với người muốn giảm béo cũng có thể dùng rau cần thường xuyên giúp tăng chất xơ, giảm lượng mỡ dư thừa trong cơ thể.

Giúp giải độc cơ thể:

Hàm lượng albumin có trong rau cần là một chất rất ít trong các loại rau khác giúp giải độc cơ thể, chống tiêu khát, đặc biệt là ngộ độc kim loại nặng. Trong những trường hợp này bạn có thể dùng nước ép rau cần cả rễ sẽ có tác dụng.

Cải thiện chứng thiếu máu:

Lượng chất sắt, phốt pho có trong rau cần tương đối nhiều giúp cho những người chứng thiếu máu cải thiện được bệnh tật. Bạn có thể dùng rau cần ta xào với thịt bò càng có tác dụng hơn.

Đái tháo đường:

Rau cần nước 500g, rửa sạch, vò nát, ép lấy nước, chia uống 2 lần trong ngày. Có thể dùng nước sôi chần qua rồi vớt ra thái khúc trộn gia vị ăn thường xuyên.

Công dụng chữa bệnh thần kỳ của rau cần

Rau cn là món ăn d chế biến ngon ming lại có công dụng cha được nhiu bnh. Ảnh: internet

Viêm gan mạn tính, tiểu tiện ra máu:

Rau cần nước tươi 200g rửa sạch, vò nát, ép lấy nước, chế thêm 50ml mật ong, chia uống 2 lần trong ngày, dùng liên tục trong nhiều ngày.

Máu nhiễm mỡ:

Lấy 10 cây rau cần giã nát với 10 trái táo tàu, vắt lấy nước, đun sôi chia uống 2 lần trong ngày, uống khoảng 15 – 20 ngày cho một đợt điều trị.

Viêm gan mãn tính:

Lấy 200g rau cần giã nát, vắt lấy nước cốt, pha thêm với 50g mật ong, ngày uống 2 lần liên tục trong một thời gian dài.

Viêm khớp tay và chân; bệnh thần kinh do phong thấp:

Dùng rau cần tươi ép lấy nước cho thêm một ít đường trắng vừa đủ, rồi đun sôi lấy nước uống trong ngày.

Mất ngủ:

Rễ rau cần 90g, toan táo nhân 9g, sắc uống hàng ngày.

Đau đầu:

Rễ rau cần lượng vừa đủ, rửa sạch vò nát, đem tráng với trứng gà ăn thường xuyên.

Đau bụng sau khi đẻ:

Rau cần nước 60g, nấu chín chế thêm đường đỏ và một chút rượu mùi, uống lúc đói bụng.

Viêm phế quản:

Rễ rau cần 100g, vỏ quýt 9g, đường 30g. Cho đường vào nồi thắng rồi cho các vị thuốc đã sấy khô sao hơi cháy vào sắc với nước uống trong ngày.

Ho lâu ngày:

Rau cần nước để cả rễ 500g, rửa sạch vò nát, ép lấy nước, cho thêm một chút muối, đem hấp cách thủy rồi uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần một chén, dùng liên tục vài ngày.

Công dụng chữa bệnh thần kỳ của rau cần

R rau cn có th cha được chng ho lâu ngày không khỏi. Ảnh: internet

Kinh nguyệt có sớm:

Rau cần tươi 100g (rau khô thì khoảng 30g) đem nấu nước uống. Ngày một liều, liên tục trong 1 – 2 tháng.

Bị mưng nhọt do nhiệt độc:

Rau cần tươi 50 – 100g, bồ công anh, bại tương thảo lượng vừa đủ cùng giã nát đắp vào chỗ đau.

Khó đi tiểu:

Dùng rau cần tươi từ 50 – 100g đem luộc lấy nước uống.

Trẻ con nôn ói và tả:

Rau cần đem nấu nước, cho thêm đường uống.

Lưu ý, người có bệnh vảy nến thì không nên dùng rau cần; còn người có tỳ vị hư nên ăn ít rau cần.

Tuy nhiên, người mắc chứng ngứa hoặc bị bệnh vẩy nên thì không nên dùng nhiều rau cần, bởi nó chứa arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy khiến bệnh lâu khỏi hơn.

Hoặc nếu thấy diễn biến bệnh ngày càng xấu đi hay xuất hiện những biểu hiện bất thường, cần phải đi thăm khám tại các bệnh viện hoặc phòng khám chuyên khoa để đề phòng những tai biến có thể xảy ra

Theo Sức khỏe và Đời sống/VTC news