Tags Posts tagged with "bà bầu"

bà bầu

0 691
Tập thể dục khi mang thai là một việc làm cần thiết. Các bà bầu hãy chú ý các quy tắc an toàn trong luyện tập để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.

Thể dục đúng cách khi mang bầu

Tập thể dục khi mang thai là một việc làm cần thiết nhưng không được thực hiện một cách tùy tiện. Các bà bầu hãy chú ý các quy tắc an toàn trong luyện tập để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.

Rất cần hỏi ý kiến bác sĩ: Cho dù bạn đã có thói quen tập thể dục từ trước khi mang thai thì bạn vẫn nên đi kiểm tra sức khỏe và hỏi ý kiến bác sĩ xem bài tập nào là phù hợp, bài tập nào gây nguy hiểm… Nếu bạn chưa luyện tập bao giờ, bạn càng nên trao đổi với bác sĩ để chọn những bài tập dành cho người mới bắt đầu.

Chọn trang phục phù hợp: Bạn nên chọn những loại trang phục rộng rãi để dễ thở trong quá trình tập luyện. Lúc mới khởi động, nên mặc thêm một chiếc áo khoác mỏng bên ngoài (khi mang thai, thân nhiệt cao hơn bình thường, nếu chủ quan sẽ dễ bị nhiễm lạnh). Nhưng bạn cũng không được để cơ thể quá nóng sẽ ảnh hưởng không tốt tới em bé. Nên chọn áo quần rộng thoáng, đi đôi giày tập phù hợp với kích cỡ chân trong giai đoạn chân bị phù.

pregnant-0e32f

Không quên khởi động: Dù bất kỳ lý do nào, bạn cũng không nên bỏ qua 5 – 10 phút khởi động trước khi tập luyện chính thức. Tác dụng của khởi động là khiến các mạch máu lưu thông, cung cấp ôxy tới các cơ bắp, “bôi trơn” các khớp xương và ngăn ngừa chấn thương.

Tập luyện nhẹ nhàng: Không tập những môn thể thao đòi hỏi phải di chuyển và thay đổi vị trí liên tục như bóng chuyền, cầu lông, tennis… Trong thời gian mang thai, các khớp xương dễ bị yếu, khả năng giữ cân bằng cũng thay đổi, nguy cơ bị chấn thương khi luyện tập là rất lớn. Nên chọn hình thức tập nhẹ như đi bộ, bơi lội…

Không nín thở lâu: Nên tránh nín thở trong những động tác thể dục thông thường (trừ những bài tập thở kiểu yoga), việc nhịn thở trong vòng vài giây (hoặc hơn) dễ làm giảm sự cung cấp ôxy tới bào thai. Bạn cũng nên đảm bảo giữ nhịp thở ổn định trong những phần bài tập khó.

Không thay đổi động tác đột ngột: Bụng càng lớn sẽ càng khó khăn trong việc giữ thăng bằng. Đó là lý do vì sao bạn nên đặc biệt cẩn thận khi chuyển các động tác hoặc thay đổi vị trí luyện tập. Thao tác quá nhanh sẽ khiến bạn bị chóng mặt, dễ bị ngã.

exercise-pregnancy-b66a5

Không tập đến kiệt sức: Thời gian mang thai không phải là giai đoạn bạn tập luyện với mục đích giảm cân, vì thế không nên ép cơ thể hoạt động quá công suất hoặc duy trì thời gian luyện tập dài hơn (dù chỉ là 5 phút).

Không ngồi ngay sau lúc tập luyện: Dành khoảng 5 – 10 phút để đi lại nhẹ nhàng, thả lỏng toàn thân trước khi kết thúc buổi tập sẽ khiến cho nhịp tim ổn định, các mạch máu tuần hoàn bình thường, tránh cho bạn cảm giác choáng váng.

Uống nhiều nước: Nên uống nước lọc trước, trong và sau quá trình luyện tập. Điều này sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mất nước – nguyên nhân của những cơn co bóp dạ con, thân nhiệt tăng. Nếu mất nước nghiêm trọng sẽ gây nguy hiểm cho cả bạn và bé. Tuy nhiên, cần uống từ từ. 

Theo Sức khỏe và Đời sống

0 681

Từ khi mang thai đến tháng thứ 4, gia đình cho rằng, tôi phải tăng cường ăn thêm trứng ngỗng thì đẻ con mới to khỏe, thông minh. Xin hỏi bác sĩ, trứng ngỗng có chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho phụ nữ mang thai hay không? Chị Nguyễn Thị Yến (Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội)

mang-thai-3

Một quả trứng ngỗng thường có trọng lượng khoảng 300 gam, nặng gấp 4 lần trứng gà và 3 lần trứng vịt. Về giá trị dinh dưỡng, trứng ngỗng không thể so sánh với trứng gà, cũng như thịt ngỗng so với thịt gà. Về an toàn vệ sinh thực phẩm thì trứng gà sạch hơn trứng ngỗng, vì gà đẻ trứng ở nơi khô ráo, nơi ít có vi khuẩn và ký sinh trùng hơn trứng ngỗng. So với trứng gà, trứng ngỗng có tỷ lệ protein thấp hơn (tỷ lệ protein trong trứng gà toàn phần là 14,8%) nhưng lại có lượng lipid cao hơn (tỷ lệ lipid trong trứng gà là 11,6%).

Hàm lượng vitamin A trong trứng ngỗng chỉ bằng một nửa so với trứng gà (360mcg so với 700mcg trong trứng gà), đặc biệt là vitamin A rất cần cho phụ nữ có thai. Ngoài ra, trứng ngỗng có nhiều cholesterol và giàu lipid là những chất không tốt cho sức khỏe và hệ tim mạch của phụ nữ mang thai bị thừa cân, béo phì, rối loạn lipid máu, tiểu đường, cao huyết áp…
Nhiều người phụ nữ quan niệm rằng, khi có thai ăn nhiều trứng ngỗng thì thai phát triển khỏe mạnh, thông minh là không đúng. Mỗi loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng khác nhau – không có loại nào là hoàn thiện đủ các chất dinh dưỡng, vì vậy cần ăn đa dạng các loại thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày để bổ sung các chất dinh dưỡng cho nhau. Mỗi loại thực phẩm chỉ nên ăn 3 lần/tuần, phụ nữ mang thai không nên lạm dụng ăn trứng ngỗng, vì giá thành đắt, ăn vào khó tiêu.

Tuy nhiên, nếu bồi bổ bằng trứng gà cùng với chế độ ăn hằng ngày hợp lý cũng đã cung cấp đủ các thành phần dinh dưỡng cho thai phụ.

Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào chứng minh ăn trứng ngỗng sẽ sinh con thông minh hơn. Trẻ em thông minh hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Chế độ dinh dưỡng của người mẹ, bổ sung viên sắt/a xít folic trong thời gian mang thai, yếu tố di truyền, môi trường sống và giáo dục sau này… chứ không phụ thuộc vào ăn nhiều trứng ngỗng hay không.

 (Bác sĩ Nguyễn Văn Tiến Viện Dinh dưỡng quốc gia)

Theo baodansinh.vn/ hanoimoi.com.vn

0 595
Nguyên nhân gây viêm họng ở phụ nữ mang thai có thể do virut, vi khuẩn, nấm… Và chính sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai…
Nguyên nhân gây viêm họng ở phụ nữ mang thai có thể do virut, vi khuẩn, nấm… Và chính sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai cũng là một trong những yếu tố thuận lợi gây viêm họng ở thai phụ.

Bà bầu viêm họng, dùng thuốc như thế nào?

Viêm họng ở phụ nữ mang thai lại thường hay xuất hiện trong ba tháng đầu của thai kỳ với các biểu hiện sốt, kèm theo ho, đau rát họng… (giống như viêm họng ở người bình thường). Trong khi đó, ở khoảng thời gian này việc sử dụng thuốc phải hết sức thận trọng để tránh tác động xấu của thuốc tới thai nhi.

Trong trường hợp viêm họng do virut thì không cần dùng kháng sinh mà chỉ cần dùng các thuốc điều trị triệu chứng: hạ sốt (dùng paracetamol, không được dùng aspirin vì dễ gây quái thai trong 3 tháng đầu, còn 3 tháng cuối nếu dùng aspirin sẽ gây các rối loạn ở phổi, liên quan đến việc đóng ống động mạch của bào thai trong tử cung, mặt khác có thể kéo dài thời gian mang thai và chậm chuyển dạ). Thuốc giảm ho có thể dùng là dextromethorphan, nhưng chỉ sử dụng khi triệu chứng ho làm ảnh hưởng tới thai phụ như ho liên tục làm họ không ăn uống gì được, ho có thể ảnh hưởng đến thai như gây sảy thai… Để giảm đau họng, tốt nhất chỉ nên súc họng bằng nước muối pha loãng hoặc điều trị bằng thuốc chấm họng không ảnh hưởng tới thai nhi hoặc có thể sử dụng một số bài thuốc Đông y như chế phẩm viên ngậm từ xạ can, cao cồn xạ can, cát cánh, trần bì, la hán, kha tử… cũng có tác dụng tốt trong điều trị viêm họng, giảm đau, chống viêm tấy, làm mềm và ẩm niêm mạc họng, kích thích xuất tiết, giảm phản xạ ho…

Nếu viêm họng do vi khuẩn cần phải dùng đến kháng sinh để điều trị. Một số kháng sinh có thể dùng như nhóm kháng sinh beta-lactam (các penicilin, cefalosporin và car- bapenem). Nếu bị dị ứng với các thuốc kháng sinh trên có thể dùng nhóm macrolid như erythromycin, clarithromycin, azithromycin… Tuy nhiên, cần lưu ý, phụ nữ có thai không được tự điều trị viêm họng mà việc dùng các thuốc trên phải do bác sĩ chỉ định và được sự theo dõi của bác sĩ.

Theo DS. Nguyễn Thị An (Sức khỏe và Đời sống)

0 829

Trong ba tháng đầu dinh dưỡng cho bà bầu rất quan trọng. Cùng tham khảo một số loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe của mẹ bầu dưới đây nhé

Dinh dưỡng cho bà bầu trong 3 tháng đầu rất quan trọng

Quá trình mang thai của người phụ nữ khá vất vả và nhiều thử thách, chính vì vậy người nhà phải chiều bất cứ đồ ăn, thức uống nào bà bầu muốn, dù là đêm hay ngày cũng phải đáp ứng đầy đủ, đây giống như một “đặc quyền” riêng vậy. Chọn chế độ ăn uống xanh, sạch tốt sẽ giúp cả mẹ và bé mạnh khỏe, đây cũng như món quà tặng bé trước khi bé chào đời.

sua_chua_hanh_nhan

Giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ bà bầu không cần phải ăn ráng thật nhiều, bởi đang trong quá trình ốm nghén rất dễ nôn. Mà chỉ cần chia nhỏ khẩu phần ăn của mình khoảng 5-6 bữa/ngày và duy trì được mức năng lượng này ổn định, bổ sung thêm thuốc bổ (sắt, acid folic, B12), protein, chất đạm dễ tiêu hóa và hấp thụ như: sữa, trứng, cá, đậu và thịt gia cầm… bởi rất cần cho sự phát triển não bộ và hệ thần kinh của bé trong giai đoạn này.

Các chất cần thiết cho cơ thế bà bầu:

Một ngày cần 3 bữa chính + 3 bữa phụ đầy đủ các chất như: thịt, cá, trứng, đậu… ăn nhiều trái cây, rau xanh để cung cấp đủ vitamin tăng sức đề kháng.

– Chất sắt: giúp phòng ngừa bệnh thiếu máu và tăng thể tích máu, có nhiều trong tim, gan, thịt, cật, rau xanh và các loại hạt…

3 sai lam khi an rau xanh

Bà bầu nên ăn nhiều rau xanh để cung cấp chất sắt cho cơ thể

– Canxi: giúp đồng máu bình thường và hoạt động hệ thần kinh tốt, hình thành hệ xương và răng vững chắc cho bé, có nhiều trong cá, cua, tôm, trứng, sữa, đậu đỗ, rau xanh…

– Acid folic (vitamin B9): giúp giảm nguy cơ bị tật nứt đốt sống trong bào thài và dị tật ống thần kinh cho trẻ, có trong các loại rau màu xanh thẫm như rau muống, cải xanh, súp lơ xanh…hoặc một số loại hạt.

– Vitamin D: có trong trứng, sữa và ánh nắng mặt trời, mỗi ngày nên phơi nắng khoảng 15 phút và để ánh nắng chiếu trực tiếp vào cơ thể, không nên phơi nắng sau cửa kính.

– Vitamin C: giúp hỗ trợ phát triển cơ, mạch máu và xương sụn cho bào thai, tạo bánh nhau bền chắc, cũng là một chất chống oxy hóa giúp tăng cường sức đề kháng, có trong các loại rau xanh, trái cây…

Theo suckhoedoisong.vn

Bị chứng ho lâu ngày làm tổn thương phổi, phế khí phù tán dẫn đến ho khan khó khỏi: Có thể dùng ô mai kết hợp với bán hạ, hạnh nhân, bách hợp, tử uyển, túc xác, hoàn phác hoa điều trị.

Mơ xanh được gọi là thanh mai, đem ngâm rượu gọi là rượu thanh mai, có thể chữa viêm dạ dày, nôn mửa, đau bụng, phong thấp, đau khớp xương, phòng cảm nắng, cảm nóng.

umeboshi3_060aa

Quả  được sấy khô có màu sẫm gọi là ô mai.

Quả mơ được sấy khô có màu sẫm gọi là ô mai, là vị thuốc thường dùng trong điều trị lâm sàng của Đông y. Ô mai vị chua, tính bình, vào đường kinh can, tì phế, đại tràng, có công hiệu nhiều mặt, chữa được nhiều bệnh.

Trong thịt mơ có chừng 2,5% acid chủ yếu acid citric, acid tactric, khoảng 27% đường chủ yếu đường sacaroza, một ít dextrin, tinh bột quexetin, izoquexetin, caroten, lycopen, vitamin C, tanin, pec-tin, metylsalicylat, men peroxydaza và ureaza. Ngoài ra, từ quả mơ có một chất có tác dụng với vi trùng lao myco-bacterium, tác dụng này có liên quan đến sự có mặt của acid citric và malic.

Ngoài ra trong dung dịch mơ có axit pangamic chính là vitamin B15 có tỷ lện khá cao. Vì vitamin 15 có tác dụng rất tốt trong quá trình chuyển hoá trong tế bào, chống sự già nua của tế bào, trong nhóm bệnh tim mạch, hô hấp như: nhồi máu cơ tim, xơ vỡ động mạch, viêm xơ gan trong thời kỳ đầu.

 có tác dụng tốt hơn khi cho thêm đường đó là một nước giải khát quý hiếm và tăng sức đề kháng cho cơ thể, vì trong mơ có nhiều acid hữu cơ, đường và vitamin C.

1-qua-mo-2-1431504608555

Bị chứng ho lâu ngày làm tổn thương phổi, phế khí phù tán dẫn đến ho khan khó khỏi: Có thể dùng ô mai kết hợp với bán hạ, hạnh nhân, bách hợp, tử uyển, túc xác, hoàn phác hoa điều trị.

Đại tiện phân nát, tiêu chảy do tì hư, viêm đại tràng, sa hậu môn: Dùng ô mai kết hợp với đẳng sâm, bạch truật, kha tử. Đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều cũng có thể dùng ô mai kết hợp địa du, hoa hòe, ngải thán, thược dược, đẳng sâm để chữa. Ra mồ hôi trộm thì kết hợp ô mai với hoàng kì, đương quy, ma hoàng căn, cũng có hiệu quả điều trị khá tốt.

Những lợi ích khác của quả mơ với bà bầu

– Các chất dinh dưỡng trong quả mơ giúp duy trì hàm lượng đường ổn định trong máu. Từ đó, có tác dụng phòng tránh bệnh tiểu đường thai kỳ.

– Hàm lượng sắt có trong quả mơ giúp ngăn ngừa thiếu máu, đồng thời có tác dụng giảm căng thẳng cho người mẹ.

– Mơ cũng chứa axit folic, có tác dụng ngừa xuất hiện dị tật bẩm sinh như nứt đốt sống.

– Các vitamin và chất khoáng trong mơ giúp bào thai phát triển.

Theo SKĐS/VTC

0 825

Phụ nữ có thai mắc cảm cúm có thể sinh con bị dị dạng như: sứt môi, hở hàm ếch, thừa ngón tay, chân…

bo-tui-meo-hay-tri-nam-cho-ba-bau8

Trước khi mang bầu, các bà mẹ thường phải tiêm phòng cúm và sởi rubella. Những người chưa tiêm thì căng thẳng như trên đống lửa. Vậy, sốt virus, sởi rubella nguy hiểm như thế nào với bà bầu?

Hậu quả đau lòng
Theo BS chuyên khoa I Vũ Văn Quế, Phó giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Hải Hậu – tỉnh Nam Định, khác với cảm lạnh thường nhẹ, không lây, không để lại di chứng; cảm cúm rất nguy hiểm, lây lan rất nhanh thành dịch và có thể gây dị tật cho thai nhi.
Với bà bầu, khi sốt cao trên 38 độ C mà do nguyên nhân nhiễm trùng như nhiễm vi khuẩn, virus cúm, rubella… có thể tấn công trực tiếp vào thai nhi gây nhiều biến chứng đáng lo ngại.

Nếu nhiệt độ cơ thể trên 38 độ C, sốt cao kéo dài thì hết sức nguy hiểm và có thể là một dấu hiệu báo trước mẹ bị nhiễm trùng nghiêm trọng gây dị dạng, dị tật ở con. Do vậy, nhiều trường hợp các bà bầu đã phải bỏ thai nhi chỉ vì không may mắc cảm cúm, sốt virus.

Lý giải về sự nguy hiểm của bệnh do virus, các nghiên cứu khoa học cho thấy: Các bệnh nhiễm trùng do virus có thể là cấp tính, mạn tính, tiềm tàng hoặc nhiễm trùng chậm và cũng có thể gây ung thư.

Khi virus nhân lên bên trong tế bào, nhiễm sắc thể của tế bào có thể bị gẫy, bị phân mảnh hoặc có sự sắp xếp lại, gây ra hậu quả sau nhiễm virus. Sự sai lệch nhiễm sắc thể thường gây ra tai biến cho thai nhi ở phụ nữ có thai trong những tháng đầu.

cam-cum

Phụ nữ có thai mắc cảm cúm có thể sinh con bị dị dạng như: sứt môi, hở hàm ếch, thừa ngón tay, chân…

Mặc dù bệnh nguy hiểm vậy song phần lớn các thuốc tân dược hiện nay đều chỉ làm giảm các triệu chứng của cúm: thuốc giảm đau hạ sốt, thuốc chống ngạt mũi, thuốc chống dị ứng để giảm ho, và giảm tiết chất nhày, thuốc xịt co mạch để dễ thở…

Sau khi sử dụng, các triệu chứng của bệnh giảm rất nhanh, người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng thực tế, trong cơ thể các virus gây ra cúm vẫn còn tồn tại và phát triển. Sau 2 – 4 giờ, người bệnh lại cảm thấy uể oải, mệt mỏi, ngạt tắc mũi, chảy mũi… như khi chưa dùng thuốc. Trong lúc ấy, hệ miễn dịch của cơ thể vẫn tiếp tục làm việc để tiêu diệt virus.

Thời gian trung bình các kháng thể tiêu diệt hoàn toàn virus cúm thường kéo dài hàng tuần. Do đó người mắc cúm chỉ khỏi hoàn toàn sau khoảng 10 -14 ngày. Nhưng hậu quả virus tàn phá các cơ quan nội tạng làm người bệnh mệt mỏi, chán ăn, suy giảm sức đề kháng, cảm giác khó chịu kéo dài hàng tháng làm ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và làm việc.

dau_hieu_mang_thai_be_gai_2

Sử dụng thuốc gì để điều trị?
Theo Ths – Bs Hoàng Khánh Toàn – Trưởng khoa đông y bệnh viện 108, y học hiện đại chưa có thuốc điều trị triệt để các bệnh do virus gây ra, lý do cơ bản là các virus gây bệnh có khả năng tự biến đổi liên tục để kháng thuốc.
Việc điều trị chủ yếu vẫn tập trung vào chữa các triệu chứng, hỗ trợ chức năng sống và nâng cao chức năng hệ miễn dịch. Bệnh chỉ khỏi hoàn toàn khi các virus bị tiêu diệt hết trong cơ thể. Tuy nhiên, gần đây xu hướng sử dụng tinh chất tự nhiên cho thấy có hiệu quả cao trong các bệnh virus và an toàn hơn với sức khỏe người bệnh.

Theo Sức khỏe Đời sống

0 9220

Theo ThS.BS. Nguyễn Kiên Cường khoảng một nửa những người phụ nữ mang thai có triệu chứng đau lưng, nguyên nhân do tăng trọng lượng cơ thể trong thời kỳ mang thai khiến cho cột sống chịu sức tải nặng hơn.

Chị gái chị Nguyễn Diệu Linh hiện đang trong thời kỳ mang thai, thường xuyên bị đau thắt lưng và khó ngủ, ảnh hưởng đến sức khoẻ của mẹ và thai nhi. Sau khi chia sẻ những lo lắng trên với Sức khoẻ và Đời sống, chị đã được ThS.BS. Nguyễn Kiên Cường tư vấn một số nguyên tắc giúp giảm thiểu tình trạng đau lưng và mất ngủ. Theo ThS.BS. Nguyễn Kiên Cường “khoảng một nửa những người phụ nữ mang thai có triệu chứng đau lưng, nguyên nhân do tăng trọng lượng cơ thể trong thời kỳ mang thai khiến cho cột sống chịu sức tải nặng hơn”. Ngoài ra, khi mang thai, cơ thể mẹ sẽ có một số thay đổi về nội tiết, tâm lý nên dễ trở nên lo lắng, mất ngủ, ốm nghén…

Áp dụng một số nguyên tắc sau có thể giúp cho phụ nữ mang thai tránh được tình trạng đau lưng và mất ngủ.

Nên mang giày bệt để giảm tải trọng lượng cho cột sống, vì khi mang thai cột sống phải chịu sức nặng của cơ thể mẹ (do tăng cân) cùng với sự phát triển của thai nhi. Việc đi giày không phù hợp với sinh lý cột sống sẽ chỉ làm cho tình trạng đau lưng thêm nặng nề.

1-b8dd0bf9-8959-4fdf-8684-0666fa5c570a-1436238209987

Không mang vật nặng bởi bụng bầu càng lớn thì áp lực lên vùng lưng dưới của bạn càng nặng nề nên bạn sẽ dễ bị chấn thương và tăng nguy cơ sảy thai nếu mang vác nặng.

1-khong-mang-nang-khi-di-du-lich-1436238349140

Khi ngồi lâu nên có gối lõm có đệm sau lưng, hoặc ngồi ghế cần có tựa lưng để hạn chế sự căng các cơ cột sống. Khi đứng lên: dùng 2 tay đặt lên đùi, chân vuông góc với mặt sàn, sau đó dùng lực tay từ từ nâng cơ thể lên trong khi vẫn giữ lưng thẳng. Lưu ý: mẹ không nên đứng dậy quá nhanh sẽ gây chóng mặt và đau lưng.

 Không sử dụng các chất kích thíchnhư trà, cà phê vào buổi tối.

Chất caffein có trong chè, cà phê đã được chứng minh là có tác động xấu đến sức khỏe của mẹ bầu và thai nhi. Vì vậy trong thời gian mang thai, chị em bầu nên hạn chế tối đa những loại đồ uống này.

 Nên tập thói quen đi ngủ đúng giờ, tránh thức quá khuya. Nếu thức khuya hoặc thiếu ngủ nhiều sẽ tác động xấu đến tâm sinh lý của cả mẹ và con, không có lợi cho sự phát triển sau này của trẻ.

1-nguyen-nhan-khien-ba-bau-bi-muoi-dot-thuong-xuyen-suckhoenhi-186151-1205-1436238681115

Tránh stress bởi nếu bà mẹ bị stress thì sau khi sinh ra trẻ sẽ có tỉ lệ bị rối loạn giấc ngủ, rối loạn hành vi. Cần giữ cho tâm hồn thư thái, tạo tinh thần sảng khoái cho mẹ và cho thai nhi

1-ba-bau-1436238734198

Trước khi ngủ có thể ngâm mìnhhoặc ngâm chân trong nước nóng 15 phút có tác dụng tốt cho cơ xương khớp, bao gồm cả xơ cơ, viêm khớp, có thể làm giảm sưng, viêm và tăng cường lưu thông máu.

1-massage-body-da-nong-20-8-1436238839209

Chỉ nên ăn nhẹ vào buổi tối, tránh ăn tối quá no, có thể sử dụng một số loại trà thảo dược có tác dụng an thần như tâm sen giúp cho bà bầu có giấc ngủ tốt hơn.

 Theo SKĐS

0 692

ThS.BS Lê Thị Hải nhấn mạnh: Chế độ ăn khi mang thai rất quan trọng, nếu mẹ ăn uống không đầy đủ, hoặc ăn quá nhiều đều không tốt đến thai nhi và cả sức khỏe của mẹ.

Chị Huỳnh Như, 28 tuổi chia sẻ, chị đang mang thai bé đầu lòng được15 tuần tuổi. Do là lần đầu tiên mang thai nên chị cảm thấy rất lo lắng không biết mình cần ăn uống những gì để em bé phát triển một cách tốt nhất. Đây cũng là lo lắng của hầu hết các bà mẹ trẻ khi mang thai lần đầu.

Bày tỏ băn khoăn này đến bác sĩ dinh dưỡng, chị đã được ThS.BS Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia tư vấn chế độ ăn uống và giữ gìn sức khỏe trong quá trình mang thai để sinh con khỏe mạnh.

ThS.BS Lê Thị Hải nhấn mạnh: Chế độ ăn khi mang thai rất quan trọng, nếu mẹ ăn uống không đầy đủ, hoặc ăn quá nhiều đều không tốt đến thai nhi và cả sức khỏe của mẹ. ThS.BS Lê Thị Hải khuyến cáo các mẹ bầucần:

Ăn đa dạng các loại thực phẩm

 dd-me-bau-1436240748405

Qua ba tháng đầu của thời kỳ mang thai, đa số các bà mẹ đã hết nghén nên sẽ ăn được nhiều hơn, do đó có thể ăn như người bình thường tức là không phải kiêng khem gì cả.

Mẹ bầu có thể ăn được tất cả các loại thực phẩm trừ rượu, bia, thuốc lá nước ngọt có ga, gia vị chua cay và nên ăn nhạt.

Duy trì 2-3 cốc sữa/ngày

331-1436240628426

Chị em mang thai nên ưu tiên ăn các thực phẩm như: thịt, cá, tôm, cua, rau xanh, quả chín và đặc biệt nên duy trì 2 – 3 cốc sữa/ngày. Nếu có điều kiện thì uống sữa dành cho bà bầu, còn không thì uống sữa nào cũng được, sữa đậu nành cũng rất tốt.

Chia nhỏ bữa ăn

lich-giam-can-thong-minh-cho-nguoi-beo2-1436240628435

Số bữa ăn nên chia 4 – 5 bữa, nếu thấy tăng cân nhanh thì ăn giảm chất bột đường và chất béo, còn chất đạm và rau quả vẫn nên ăn bình thường, nhưng chọn quả ít ngọt.

Lượngthực phẩmmột ngày mẹ bầu nên ăn như sau :

– Gạo (mỳ, bún, phở) : 300 – 400g/ngày

– Thịt (cá, tôm, cua ): 200 – 300g/ngày

– Trứng: 1 quả/ngày

– Rau xanh: 300 – 400g/ngày

– Quả chín: 400 – 500g/ngày

– Sữa : 500 ml/ngày (2 -3 cốc)

Theo D.Hải (SKĐS)

0 743
Quả dứa có hương vị thơm ngon, nhiều công dụng chữa bệnh và làm đẹp, dễ mua, là lựa chọn của nhiều người trong mùa hè. Tuy nhiên, đây là loại quả không phải ai cũng có thể ăn.

Quả dứa có hương vị thơm ngon, nhiều công dụng chữa bệnh và làm đẹp, dễ mua, là lựa chọn của nhiều người trong mùa hè. Tuy nhiên, đây là loại quả không phải ai cũng có thể ăn. Bạn phải vô cùng lưu ý khi ăn loại quả này nếu không đây sẽ là mối nguy hại cho sức khỏe của bạn.

Những trường hợp dưới đây tuyệt đối không nên ăn dứa vì dễ “rước họa” vào người.

  1. Phụ nữ mang bầu 3 tháng đầu

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết trong quả dứa có chứa chất bromelain có tác dụng làm mềm tử cung, kích thích co bóp tử cung, nhất là những trái dứa xanh thì tỉ lệ chất bromelain rất cao, khi bà bầu mang thai 3 tháng đầu ăn quá nhiều dứa xanh dễ khiến gây sảy thai. Bên cạnh đó, ăn nhiều dứa còn gây ra bệnh tiêu chảy, là mối nguy hiểm với phụ nữ đang mang thai.

images

Phụ nữ mới mang thai không nên ăn dứa. Ảnh minh họa

Một số phụ nữ cho rằng họ đã ăn dứa trong những tháng đầu thai kỳ nhưng không hề gây sảy thai hay sinh non. Điều này được lý giải là do chất bromelian chỉ được tìm thấy trong dứa tươi.

Tuy nhiên với những chị em đang ở tháng cuối thai kỳ, sắp đến hạn sinh nở, bạn hoàn toàn có thể ăn dứa ở mức độ vừa phải để kích thích cơ co bóp tử cung, giúp dễ dàng sinh nở.

  1. Người có tiền sử viêm da cơ địa, dị ứng

Trong quả dứa có men bromelin là một loại enzym có chức năng thủy phân protit, được ứng dụng để trị rất nhiều bệnh khác nhau. Nhưng một số nghiên cứu cho thấy, rất nhiều người dị ứng loại men này, sau khi ăn dứa từ 15 phút hoặc lâu hơn men này kích thích cơ thể sinh ra các histamin làm xuất hiện các triệu chứng: Đau quặn bụng từng cơn, có thể lợm giọng, buồn nôn, nổi mày đay, ngứa ngáy khó chịu, môi tê dại… nặng hơn có thể gây khó thở…

Những trường hợp này hay gặp và diễn biến nặng ở bệnh nhân có tiền sử cơ địa dị ứng như mề đay, viêm da cơ địa, viêm mũi dị ứng, hen phế quản…

dua giam can

Dứa tốt cho sức khỏe nhưng nếu không chú ý sẽ gây hại tới cơ thể. Ảnh minh họa

  1. Người hen phế quản, viêm mũi họng, có bệnh chảy máu

Quả dứa có một loại glucoside có tính chất kích ứng niêm mạc mạnh nên khi ăn nhiều dứa thường thấy rát miệng lưỡi, cổ họng tê rát, ngứa ngáy. Nên những người có tiền sử viêm mũi họng, viêm thanh quản, hen phế quản không nên ăn nhiều để tránh nguy cơ bệnh tái phát và nặng hơn…

Ngoài ra, những người bệnh chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu (chảy máu cam, sốt xuất huyết, vết thương lớn, phụ nữ băng huyết…) cũng không nên ăn dứa.

  1. Người bị dạ dày

Mặc dù dứa là loại trái cây rất tốt cho hệ tiêu hóa và sức khỏe, tuy nhiên nếu không sử dụng một cách khoa học, hợp lý và đúng lượng cần thiết hàng ngày, dứa cũng sẽ là loại thực phẩm gây nguy hiểm đối với dạ dày của bạn.

Quả dứa có nhiều axít hữu cơ và có một số enzyme có tác dụng làm tiêu protein, không có lợi cho người đau dạ dày, làm tăng viêm loét niêm mạc dạ dày.

Nếu ăn dứa tươi vào lúc đói thì các axit hữu cơ của dứa và bromelin tác động vào niêm mạc dạ dày, ruột, dể gây nôn nao, khó chịu.

  1. Người có tiền sử bị “say dứa”

Khi ăn dứa, chúng ta cần chú ý đề phòng một căn bệnh rất thường gặp trong mùa dứa chín đó là ngộ độc dứa. Nguyên nhân gây ra dị ứng, ngộ độc dứa là do một loại nấm độc Candida tropicalis thường gặp trên mặt đất ẩm. Loại nấm này phát triển mạnh về mùa hè trùng với mùa dứa chín.

Cụ thể là, sau khi ăn dứa xong khoảng từ 30 phút đến 1 giờ, người bệnh thấy mệt mỏi, khó chịu, ngứa dữ dội khắp người và gãi đến sướt da chảy máu vẫn không đỡ. Ngay sau đó bệnh nhân cảm thấy nóng bừng và nổi mẩn khắp người.

Đối với những người đã bị say dứa một lần rồi càng phải thận trọng khi ăn dứa, tốt nhất là nên ăn ít để thăm dò dần dần đề phòng cơ thể “không chịu” loại thức ăn này.

Cách xử lý tại nhà khi bị dị ứng, ngộ độc dứa

Nếu bạn bị dị ứng, ngộ độc nhẹ, có thể xử lý tại nhà bằng cách gây nôn cho người bệnh. Dùng tay ngoáy họng cho nôn ra hết chất độc vừa ăn phải.

Sau đó cho người bệnh uống siro ipeca với liều lượng người lớn từ 15-30 ml, trẻ em từ 1-12 tuổi 5ml.

Cần cho uống than hoạt tính để giải trừ hết chất độc của dứa còn sót lại trong cơ thể: Lấy 20 gam pha trong 200 ml nước uống 1 lần. Uống nhắc lại sau 2 giờ với liều lượng 100g ở người lớn, 25-30g ở trẻ em.

Trong trường hợp bị khó thở, suy hô hấp…cần đưa bệnh nhân đi cấp cứu tại cơ sở y tế.

Tại cơ sở y tế, bác sĩ sẽ truyền dịch cho nạn nhân tùy theo tình trạng mất nước do nôn mửa và tiêu chảy, nhưng cần lưu ý trụy mạch còn do sốc dị ứng, có khi không mất nước mà vẫn trụy mạch. Nếu cần, theo dõi áp lực tĩnh mạch trung ương mà truyền dịch.

– Sau khi gọt vỏ dứa xong hãy cắt thành từng miếng rồi cho vào nước muối nhạt ngâm trong khoảng 10 phút, men phân giải protein sẽ bị ức chế trong nước muối. Ngâm như vậy cũng sẽ không bị rát lưỡi khi ăn dứa mà còn có thể làm giảm kích thích niêm mạc miệng và lưỡi, đồng thời sẽ thấy dứa thơm, ngọt hơn.

Theo Sức khỏe và Đời sống/Giadinhnet

0 9989

Phụ nữ khi mang thai thường gặp các bệnh về răng miệng. Căn bệnh này ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ của người mẹ cũng như tác động đến sự phát triển của thai nhi.

Bệnh viêm lợi và nha chu

Nguyên nhân: do thay đổi nội tiết tố đột ngột trong máu sẽ dẫn đến tăng tính thấm mạch máu của lợi, làm tăng phản ứng của lợi đối với mảng bám. Những thay đổi này sẽ hết sau khi sinh.

Triệu chứng: lợi đỏ, sưng nề, chảy máu chân răng (khi đánh răng, xỉa răng, thậm chí là chảy máu tự nhiên). Hay gặp nhất là ở nhóm răng trước hàm dưới.

rang-mieng-phu-nu-mang-thai-1433909560304

Đây là một bệnh hay gặp nhưng các triệu chứng thường chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân nên dễ bị bỏ qua. Tuy nhiên nó lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ nguy hiểm. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh sẽ chuyển sang mãn tính gây tụt lợi, lung lay răng, thậm chí mất răng. Đã có nhiều nghiên cứu y khoa cho thấy rằng các bà mẹ mắc các bệnh về lợi – nha chu trong thai kì có nguy cơ tiền sản giật, sinh non cũng như giảm trọng lượng thai nhi hơn so với các thai phụ khác.

Điều trị: Súc miệng bằng Chrohexidine, chấm kháng sinh tại chỗ.

Nhạy cảm răng

Nguyên nhân: Các hormon khi mang thai làm giãn các cơ vòng của thực quản dẫn đến tình trạng trào ngược dạ dày – thực quản; kết hợp với hiện tượng nôn mửa do ốm nghén làm cho răng phải tiếp xúc thường xuyên với acid, làm xói mòn men răng, tăng nhạy cảm ngà răng.

Triệu chứng: ê buốt răng, đặc biệt khi uống nước lạnh, ăn thực phẩm chua và khi đánh răng.

Điều trị: Sử dụng kem đánh răng chống ê buốt (sensodine, lacalut,…) và các loại nước súc miệng có chứa fluoride. Hạn chế các tác nhân kích thích (chua, ngọt, nóng, lạnh,…).

Sâu răng

Nguyên nhân: Chế độ ăn trong thai kì có nhiều thay đổi; Tình trạng tăng acid trong khoang miệng do trào ngược dạ dày, thực quản và nôn mửa do ốm nghén sẽ làm cho răng thường xuyên phải tiếp xúc với môi trường acid; Nồng độ calci trong máu của mẹ không đáp ứng đủ cho thai nhi, cũng là một nguyên nhân làm giảm sự chắc khỏe của tổ chức cứng của răng, dễ gây sâu răng; Chế độ chăm sóc răng miệng.

Điều trị: Trám răng sâu, sử dụng kem đánh răng và nước súc miệng chứa fluoride.

Phì đại lợi thai nghén – U lợi thai nghén (Epulis)

Nguyên nhân: Đây là một tổ chức hạt tăng sinh ở lợi, do nồng độ progesteron và estrogen tăng trong máu, làm thay đổi tính thấm thành mạch, dẫn đến phù nề lợi và tăng đáp ứng với vi khuẩn mảng bám. Viêm lợi phì đại trong thai kỳ là sự nặng lên của viêm lợi có từ trước. Nếu không có mảng bám thì không có phì đại lợi thai nghén.

Triệu chứng: Khối lợi phì đại đỏ rực, mềm, dễ chảy máu.

Điều trị: Lấy sạch cao răng, đánh răng thường xuyên để loại bỏ mảng bám, súc miệng hoặc chấm tại chỗ bằng chlohexidine. Cắt bỏ phần lợi phì đại.

Theo ThS.BS Phạm Thị Thanh Bình (SKĐS)