Thuốc và cuộc sống

Quả mướp, người Tày gọi là mác hom, tên Thái là co buôn hom. Được dùng làm rau nấu canh, luộc, xào…

Quả mướp, người Tày gọi là mác hom, tên Thái là co buôn hom. Được dùng làm rau nấu canh, luộc, xào… là món ăn ngon, mát bổ mùa hè và có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Toàn quả (vỏ, hạt, xơ mướp già) đều được dùng làm thuốc.

canh-cua-muop-1429197919289

Mướp nấu canh ăn hằng ngày có tác dụng nhuận tràng.

Theo Đông y, quả mướp có vị ngọt, tính bình, nấu canh ăn hằng ngày có tác dụng nhuận tràng và làm dịu đau (chính là do chất nhày chứa với hàm lượng cao trong quả). Quả mướp non ninh với chân giò hoặc móng giò lợn là thuốc tăng tiết sữa và làm máu lưu thông. Quả phơi khô, đốt tồn tính, tán bột, lấy 8 – 16g trộn với tiết vịt trắng và ít rượu, uống vào sáng sớm lúc đói, chữa kinh nguyệt không thông. Đài của quả mướp hương 1 – 2 cái phối hợp với huyết dụ 2 – 3 lá, rễ cỏ tranh 20g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, chữa băng huyết. Vỏ quả mướp già (chưa thành xơ), hạt gấc, hạt trám, đốt thành than, trộn với mỡ lợn, bôi ngày vài lần chữa mụn nhọt. Hạt mướp già 5 – 10g sao vàng, sắc nước uống chữa đau lưng.

Xơ mướp: được lấy từ quả mướp chín thật già đã khô quắt, có vỏ ngoài nhăn nheo, màu vàng óng, cầm thấy nhẹ tay, đem ngâm vào nước nhiều lần cho tróc dần lớp vỏ ngoài và rữa nát hết lớp thịt còn sót lại ở trong, rửa sạch, rũ hết hạt, phơi khô. Xơ mướp được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là ty qua lạc, có vị ngọt dịu, tính bình, có tác dụng cầm máu, thông kinh lạc, chống co thắt, thúc sởi, lợi tiểu. Thứ sợi nhỏ kết chặt vào nhau, chất dai, sạch trắng, không còn sót vỏ và hạt là loại tốt. Dược liệu được dùng trong những trường hợp sau:

Chữa trĩ ra máu, rong kinh, băng huyết, kiết lỵ ra máu: xơ mướp đốt tồn tính, tán bột, uống mỗi ngày 4 – 8g chia 2 lần chiêu với nước ấm.

Chữa tắc tia sữa: xơ mướp 1 cái, gai bồ kết 10 cái, hành tươi hoặc phơi khô 1 củ. Tất cả băm nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Dùng 2 – 3 ngày. Kết hợp xoa nắn vú cho thông tia sữa.

Chữa hen: xơ mướp 20g băm nhỏ, sao; hạt đay quả dài 12g, giã giập, sao. Trộn đều, sắc uống lúc nóng. Ngày hai lần. Dùng 2 – 3 ngày.

Theo DS. Huyền Hoa (SKĐS)

Cây xoài (Mangifera indica L.) có nguồn gốc từ Ấn Độ, được di thực vào nước ta từ nhiều thế kỷ trước và hiện tại đã lai tạo được nhiều loài xoài, như xoài tượng, xoài cát, xoài cơm,…

Quả xoài không chỉ thơm ngon nên nhiều người ưa chuộng, mà còn là  loại quả có giá trị dinh dưỡng và y liệu. Một trái xoài chín, cỡ trung bình, có thể cung cấp đủ lượng vitamin A cần thiết cho cơ thể trong ngày. Còn trái xoài xanh có hàm lượng  vitamin C rất cao, người ta thường thái quả xoài xanh thành miếng mỏng, phơi hay sấy khô, dùng làm nguồn cung cấp vitamin C thiên nhiên cho cơ thể. Ngoài ra, trong xoài còn chứa nhiều hoạt chất sinh học khác.

Trái xoài và những bộ phận khác của cây xoài, như  lá xoài, vỏ thân cành, hạt xoài…  cũng có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Trong Đông y, tác dụng làm thuốc của xoài, được ghi chép sớm nhất trong sách “Thực tính bản thảo”; sau đó được ghi chép rất đầy đủ trong sách “Bản Thảo Cương mục Thập di” của Triệu Học Mẫn.

lam tuong ve hoa qua 3

Trái xoài có một tác dụng hết sức đặc biệt, mà lâu nay dường như đã bị lãng quên, đó là: Có thể sử dụng để phòng say sóng trong các cuộc hành trình  trên biển. Đây là một kinh nghiệm, mà những người đi biển đã phát hiện ra từ thời xa xưa và đã được nhà dược học nổi tiếng Triệu Học Mẫn kiểm chứng và đã ghi lại trong bộ sách “Bản thảo Cương mục Thập di” – một trong những bộ sách thuốc cổ có uy tín nhất, đứng trong top các sách thuốc có tần suất trích dẫn cao nhất.

Phương pháp sử dụng trái xoài để chống say sóng khi đi biển, đã được Triệu Học Mẫn ghi lại cụ thể như sau: “Say thuyền (thuyền vựng) là tình trạng đi thuyền bị chóng mặt, người phương bắc gọi là “khổ thuyền”; ngồi trên thuyền thì nôn mửa liên tục và không thể ăn uống (đa ẩu thổ bất thực), nhưng khi lên trên bờ thì khỏi. Hiện tượng này hay gặp ở những người vị nhược (chức năng của dạ dầy bị suy yếu). Trái xoài vị ngọt hơi chua, có tác dụng ích vị (cải thiện chức năng của  dạ dày), có thể giải trừ được tình trạng say thuyền. Do đó những người đi biển thường mua nhiều xoài để dự phòng. Ngoài tác dụng chống say sóng  khi đi ngoài biển, còn có thể sử dụng trái xoài để chống say xe. Theo kinh nghiệm dân gian, để chống sau tàu hoặc say xe, có thể ăn vài trái xoài tươi hoặc dùng trái xoài sắc nước uống. Kinh nghiệm này thấy được ghi chép trong nhiều sách về ẩm thực liệu pháp có uy tín như   “Ẩm thực trị liệu chỉ nam”, “Quả phẩm thực liệu”, “Thực phẩm doanh dưỡng dữ thực liệu”, …

Như vậy có thể thấy sử dụng trái xoài để chữa say tàu xe là  một thông tin có căn cứ, đã được ghi chép lại trong một số sách thuốc cổ kim. Những người dễ bị say tàu xe có thể áp dụng thử, mà không sợ có phản ứng phụ.

Nhân hạt xoài sấy khô tán bột được nhân dân Malaixia, Ấn Độ và Braxin dùng làm thuốc giun với liều 1,5 đến 2g. Tại Malaysia nhân dân còn dùng chữa chảy máu tử cung, trĩ. Tại Philipin người ta còn dùng chữa tiêu chảy: nghiền 20 đến 25g nhân với 2 lít nước, nấu kỹ cho tới khi cạn còn hơn 1 lít thì lọc để bỏ bã, thêm vào nước lọc 300 – 400g đường và tiếp tục đun cho tới khi còn 1 lít. Mỗi ngày dùng hai hay ba lần, mỗi lần dùng 50 – 60g thuốc chế như trên.

Vỏ thân xoài dùng tươi hay khô. Tươi thì giã vắt lấy nước, được dùng như vỏ quả; vỏ khô dùng dưới dạng thuốc sắc. Nhân dân Cămpuchia dùng chữa thấp khớp (đắp nóng bên ngoài), hoặc rửa khí hư bạch đới của phụ nữ. Tại miền Bắc, vỏ cây xoài được dùng sắc uống chữa sốt hay chữa đau răng (ngậm và nhổ đi).

Theo Lương y Thái Hư (SKĐS)

Dưa hấu đuợc coi là một trong những loại trái cây hết sức thông dụng trong đời sống hàng ngày của mọi gia đình…

Dưa hấu đuợc coi là một trong những loại trái cây hết sức thông dụng trong đời sống hàng ngày của mọi gia đình, đặc biệt khi tiết trời oi bức, nóng nực. Dưa hấu không những ngon ngọt dễ ăn mà còn cung cấp cho cơ thể một lượng nước khá lớn và không ít các vitamin A, B, C; các nguyên tố vi lượng như Fe, Ca, Mg… Ngoài ra, dưa hấu còn được dùng làm thuốc chữa bệnh.

image-3-6xdjz167cq

Dưa hấu có vị ngọt, tính hàn; vào tâm, vị, bàng quang. Vỏ quả có vị ngọt tính mát; vào kinh tâm và vị. Hạt dưa vị ngọt tính bình. Dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi thủy; dùng cho các trường hợp say nắng, say nóng gây sốt nóng mất nước, thần kinh kích ứng, miệng khô, họng khát, tiểu ít, đái buốt, đái dắt. Vỏ quả thanh giải nóng nực, lợi niệu. Hạt dưa hấu tác dụng hạ nhiệt, lợi tiểu, hạ huyết áp, tăng sinh lực.

Một số bài thuốc chữa bệnh có dưa hấu:

tac-dung-cua-dua-hau-2

Chữa say nắng, miệng khô, khát nước, tiểu tiện không thông, trạng thái kích ứng thần kinh: dưa hấu bổ ra ép lấy nước uống.

Chữa nóng nực ra mồ hôi nhiều, đầu váng, mắt hoa đau nhức: vỏ quả dưa hấu 20g, lá sen tươi 12g, kim ngân hoa tươi 16g, hoa biển đậu tươi 12g, ty qua bì 12g, trúc diệp tâm tươi 12g. Sắc uống.

Chữa cảm nắng, sốt cao: vỏ dưa hấu 20g, kim ngân hoa 20g, trúc diệp 10g, nước 500ml. Sắc trong 15 phút, lấy nước chia làm 3 lần uống trong ngày.

Chữa đái tháo đường: vỏ dưa hấu 30g, kỷ tử 30g, đảng sâm 10g. Sắc uống.

Chữa loét miệng: vỏ dưa thái nhỏ, phơi khô, sao cháy, nghiền bột mịn. Rắc vào vết loét.

Chữa phù thũng do viêm thận cấp:

Bài 1: rễ cỏ tranh tươi 40g, vỏ dưa hấu 40g, đậu nhự 12g, xích tiểu đậu 20g. Sắc uống.

Bài 2: cùi trắng dưa hấu 40g, bạch mao căn tươi 40g, xích tiểu đậu 20g. Sắc uống.

Chữa tăng huyết áp: vỏ dưa hấu 12g, thảo quyết minh 10g. Sắc uống.

Món ăn có dưa hấu:

Nước ép dưa hấu: nước ép dưa hấu (chủ yếu phần cùi) 200ml để sẵn; chi tử 12g, xích thược 2g, hoàng liên 2g, cam thảo 2g. Sắc lấy nước cho thêm chút đường phèn khuấy tan đều. Uống dần ít một, ngậm giữ trong miệng khoảng vài phút trước khi nuốt. Ngày 1 lần, liên tục trong ngày. Dùng cho các bệnh nhân viêm họng loét miệng.

KL-d4dbd

Vỏ dưa xào cà rốt: vỏ dưa 300g, cà rốt 200g, gừng tươi 15g. Vỏ dưa hấu thái lát; cà rốt thái lát, gừng tươi đập giập. Xào với dầu thực vật, thêm gia vị. Cho ăn thành bữa phụ hoặc ăn trong bữa chính. Ngày 1 lần, đợt dùng 7-10 ngày. Dùng cho các bệnh nhân viêm xoang, tắc ngạt mũi tiết đờm vàng đục hoặc lẫn tia huyết.

Cháo vỏ dưa: 40g, mạch nha 20g, ý dĩ 20g. Nấu thành cháo đặc ăn trong ngày, ăn liền trong 5-7 ngày. Món này tốt cho người ăn uống kém trong mùa hè, tiêu hóa không tốt, đầy bụng, người mệt mỏi.

Nước sắc tỏi, dưa hấu: dưa hấu 1 quả, tỏi 30-60g. Khoét một miếng tạo ra lỗ hổng, cho tỏi đã bóc vỏ giã nát vào, đặt miếng dưa vừa khoét cho kín, cho vào nồi, đun cách thủy, lấy ra ép lấy nước cho uống. Dùng cho các bệnh nhân có các chứng bệnh xơ gan cổ trướng, viêm thận cấp, viêm thận mạn.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn, có bệnh hàn thấp kiêng dùng.

Theo Lương y Thảo Nguyên (SKĐS)

Cúc hoa được dùng trong nhân dân làm thuốc chữa các chứng nhức đầu, đau mắt, chảy nước mắt, cao huyết áp, sốt.

Hỏi: Xin cho hỏi cách thu hái cúc hoa để làm thuốc như thế nào?

(Trần Văn Cường – Hà Nội)

Trả lời: Cúc hoa còn gọi là cam cúc hoa, bạch cúc hoa, cúc hoa trắng, cúc điểm vàng, Hoàng cúc.

Tên khoa học Chrysanthemum sinense Sabine.

Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).

Cúc hoa (Flox Chrysanthemi) là hoa cúc phơi hay sấy khô. Người ta còn dùng cả hoa của cây cúc hoa vàng hay dã cúc, kim cúc, cúc riềng vàng Chrysanthemum indicum L. (Chrysanthemum procumbens Lour.) cùng họ.

Cúc là cùng tận: tháng 9 hoa cúc nở sau cùng.

Mô tả cây

Cây hoa cúc trắng (Chrysanthemum sinense là một cây sống hai năm hay sống dai, thân mọc thẳng đứng, có thể cao 0,5 – 1,4m, toàn thân có lông trắng mềm. Lá mọc so le, cuống dài 1 – 2,5cm có lông trắng, phiến lá hình trứng hay hơi thuôn hai đầu tù dài 3,5 – 5cm, rộng 3 – 4cm, chia thành 3 – 5 thùy mép có răng cưa và lượn sóng, mặt dưới nhiều lông màu trắng mốc. Cụm hoa hình đầu, màu trắng hay hơi tía ở phía ngoài, vàng ở giữa, mọc ở đầu cành hay kẽ lá.

Cúc hoa làm thuốc

Cây cúc hoa vàng (Chrysanthemum indicum) là một cây mọc thẳng đứng cao chừng 90cm. Phiến lá hình 3 cạnh tròn, thùy xẻ sâu. Cụm hoa hình cầu, đường kính nhỏ hơn loài hoa cúc nói trên, thường chỉ độ từ 1 – 1,5cm (loài trên đo được 2,5 – 5cm). Hoa trong và ngoài đều màu vàng.

Phân bố thu hái và chế biến

Cây hoa cúc được trồng nhiều ở ta để lấy hoa làm thuốc hay ướp chè, nấu rượu.

Trồng bằng mẩu thân, dài chừng 20cm. Mùa trồng tốt nhất là các tháng 5 – 6. Sau 4 – 5 tháng bắt đầu thu hoạch (trồng cuối tháng 5 thu hhoạch tháng 9, trồng trong tháng 6 thu hoạch tháng 10 – 11). Có thể trồng ngay từ tháng 3, đến tháng 6 thì phát trụi bằng đi, sau đó cây lại nẩy mầm, tháng 10 thu hoạch hoa nhiều và tốt hơn.

Thu hoạch hoa bắt đầu từ tháng 9 hay tháng 10. Tùy theo sự chăm sóc, thu hoạch được nhiều hay ít đợt. Làng Nhật Tân do tưới bằng khô dầu nên thu hoạch được nhiều đợt từ lứa đầu thu hoạch vào tháng 9 đến tháng 3 năm sau là lứa cuối cũng có thể hái tới 7 đợt. Làng Nghĩa Trai (Hưng Yên) bón bằng phân trâu bò nên chỉ thu hoạch có 4 đợt. Lứa thu hoạch đầu và cuối kém.

Cúc hoa làm thuốc

Cây cúc hoa vàng (Chrysanthemum indicum

Hiệu suất trồng vườn là 2 tấn khô một hecta, cúc ruộng là 850kg hoa khô 1 hecta. Sau khi thu hoạch lứa cuối cùng , người ta cuốc từng bụi thu vào một góc vườn. Không để giống ở ruộng hay ở vườn. Vì cây cúc vàng hiệu suất cao hơn cho nên hiện nay người ta thường hay trồng loại cúc vàng. Hiệu suất cúc trắng chỉ bằng 1/3 cúc vàng.

Hái hoa về, đem quây cót rồi sấy diêm sinh độ 2 – 3 giờ, thấy hoa chín mềm là được, nếu hoa còn sống sẽ hỏng). Sau khi sấy diêm sinh, đem nén, trên đè càng nặng càng tốt. Nén độ 1 đêm thấy nước chảy ra đen là được, đem phơi độ 3 – 4 nắng nữa mới được. Nếu trời râm thì đêm phải sấy diêm sinh. Cứ 5 – 6kg hoa tươi cho 1kg khô.

Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ, hoa cúc trắng có vị ngọt, đắng, tính hơi hàn, cúc hoa vàng có vị đắng cay, tính ôn vào 3 kinh phế, can và thận. Có tác dụng tán phong, thấp, thanh đầu, mục, giáng hỏa, giải độc. Dùng chữa phong mà sinh hoa mắt, nhức đầu, mắt đỏ đau, nhiều nước mắt, đinh nhọt.

Hiện nay cúc hoa được dùng trong nhân dân làm thuốc chữa các chứng nhức đầu, đau mắt, chảy nước mắt, cao huyết áp, sốt.

Liều dùng 6 – 15g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài rửa đắp mụn nhọt.

Còn dùng để ướp chè hay ngâm rượu uống.

Theo Sức khỏe và đời sống/(Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)

của GS. ĐỖ TẤT LỢI

Theo y học cổ truyền, cá trắm có vị ngọt, tính bình, công năng bổ thận khí, mạnh tỳ dưỡng vị, bình can sáng mắt.

Ngoài công dụng là thực phẩm bổ dưỡng, món ăn từ cá trắm đen còn là bài thuốc chữa bệnh độc đáo. Theo y học cổ truyền, cá trắm có vị ngọt, tính bình, công năng bổ thận khí, mạnh tỳ dưỡng vị, bình can sáng mắt. Thích hợp với người tỳ vị hư nhược, mất sức, phù nề, viêm gan, thận, tăng cường sức đề kháng,…

ca tram den

Một số món ăn chữa bệnh từ cá trắm đen

Bổ thận khí, dưỡng tỳ vị: Cá trắm đen 1 con khoảng 1kg, cạo vẩy, bỏ ruột, rửa sạch, khứa rãnh 2 bên thân cá, để lên đĩa hấp gần chín cho gừng tươi, hành, rượu, ít mì chính chưng tiếp cho chín, ăn nóng. Có thể ăn thường xuyên.

22-2-1433215642136

Món ăn từ cá trắm đen có rất tốt với người suy nhược, ăn không ngon, tỳ vị hư nhược…

Tỳ vị hư nhược, hay đau bụng lâm râm, chán ăn: Thịt cá trắm đen 500g, đẳng sâm 10g, thảo quả 1g, trần bì 1,5g, quế bì 1,5g, gừng khô 3g, hồ tiêu 5 hạt, muối vừa đủ. Cá làm sạch, cho vào nồi cùng các vị thuốc và gia vị, thêm nước nấu chín, ăn thịt cá, uống canh, bỏ bã thuốc. Ngày ăn 1 lần. Ăn liền 1 tuần.

Thận yếu, tình dục suy giảm, mất ngủ, ăn không ngon: Cá trắm đen 500g, lòng trắng trứng gà 1 quả, phục linh 50g, sơn dược 50g, gừng 3g, hành hoa 10g, dấm, rượu vừa đủ. Phục linh, sơn dược, tán thành bột rây mịn rồi trộn với lòng trắng trứng gà, muối, rượu để 20 phút. Cá trắm đen đánh vảy bỏ ruột, bỏ mang, rửa sạch, thái lát mỏng. Gừng và hành rửa sạch, cho vào chảo dầu xào thơm, lại cho cá trắm vào xào đến khi thịt chín trắng, cho tiếp phục linh, sơn dược và lòng trắng trứng vào đảo nhanh, múc ra đĩa. Ăn nóng, cách ngày ăn 1 lần, ăn trong 1 tháng.

Chữa khí hư, mệt mỏi, ăn không ngon: Cá trắm đen 150g, lọc da, bỏ xương, băm nhỏ, đập một quả trứng gà vào, trộn đều, nêm gia vị, cho vào hầm cách thủy, chín mang ra ăn, ngày 1 lần, ăn trong 10 ngày liền

Suy nhược cơ thể, mất sức, chóng mặt: Thịt cá trắm đen 300g, gạo 100g, nấu cháo ăn. Ăn liền 1 tuần.

Lưu ý: Tuyệt đối không uống mật cá trắm để chữa bệnh vì có thể gây ngộ độc.

Theo Bác sĩ Thúy Hường (SKĐS)

Y học cổ truyền và y học hiện đại đều đã công nhận trà là một dược liệu tốt cho sức khỏe. Ngoài công dụng là nước giải khát, giải nhiệt trong những ngày hè nóng nực, chúng còn là những vị thuốc hay giúp phòng và trị nhiều bệnh hiệu quả, được nhiều người ưa chuộng.

Chè vằng: Chè vằng vị hơi đắng, có tác dụng thanh nhiệt, hoạt huyết điều kinh, tiêu viêm, dùng trị các bệnh:

Phụ nữ kinh nguyệt không đều, bế kinh, hoặc đau bụng kinh: dùng riêng dưới dạng thuốc sắc, hoặc phối hợp với ích mẫu, hương phụ, bạch đồng nữ, đồng lượng, sắc uống ngày 1 thang.

che-vang-1433825139206 cay-che-dang-1433825139191

Chè vằng, chè đắng có tác dụng thanh nhiệt, giải độc rất tốt.

Phụ nữ bị áp-xe vú, sau đẻ kém ăn, da xanh…: chè vằng sắc uống trước bữa ăn, ngày 2-3 lần.

Viêm gan vàng da, tắc mật: dùng riêng, hoặc phối hợp với nhân trần, chi tử… hoặc lấy cây tươi giã nát rồi đắp vào chỗ sưng đau.

Chè đỏ ngọn còn gọi là chè bông, vị ngọt, tính mát, không độc, có tác dụng giúp tiêu hóa, ăn ngon miệng. Ngoài ra còn có tác dụng lợi tiểu, điều kinh và  giải nhiệt, nhất là trong mùa hè.

Chè đắng còn gọi ba chạc. Ba chạc vị đắng, mùi thơm của họ cam, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi sữa, giảm đau, sát khuẩn, chỉ ngứa, dùng trị các bệnh:

Dùng làm thuốc bổ và thuốc lợi sữa cho phụ nữ sau sinh: chè đắng ngày 8-16g sắc uống.

Trị viêm họng, viêm amidan, ho, viêm loét niêm mạc miệng, lưỡi: chè đắng 8-16g, sắc uống.

Trị ngứa, ghẻ, lở, chốc đầu…  lấy lá tươi, sắc nước tắm.

Chè cay hay còn gọi là chè đồng, tràm dùng trị các bệnh:

Cảm mạo phong hàn (cảm lạnh) với triệu chứng:  ho đờm, suyễn,  tức ngực, tiêu hóa kém; làm cho huyết mạch lưu thông tốt hơn, nhất là phụ nữ sau khi sinh; trị phong thấp và đau dây thần kinh: dùng 10-20g lá tươi, hoặc 5-10g lá khô, sắc uống trong ngày.

Lá tràm sắc nước rửa vết thương, mụn lở, loét, các vết ngứa do côn trùng cắn.

Tinh dầu tràm chế dạng dầu xoa, trị cảm mạo, đau đầu, ho, ngạt mũi.

Ngoài các loại chè nói trên, nhân dân các vùng còn dùng nhiều  loại cây chè khác với các tác dụng khác nhau, như chè mồng 5 tháng 5 (âm lịch), tức cây đơn lá đỏ (Excoecaria cochinchiensis Lour.) để trị nhọt vú, mẩn ngứa, mụn nhọt, hoặc tiêu chảy lâu ngày…; chè bọt (cây bòn bọt (Glochidion eriocarpum Champ)  trị dị ứng, nhất là dị ứng sơn, mẩn ngứa, phù thũng…

  Theo  GS.TS. Phạm Xuân Sinh (SKĐS)

Theo y học cổ truyền, dừa cạn có tính mát, vị đắng, tác dụng hoạt huyết, tiêu thũng, an thần, lợi tiểu. Trong nhân dân thường dùng dừa cạn để chữa tăng huyết áp, viêm đường tiết niệu, mất ngủ, bế kinh…

Cây dừa cạn còn gọi có tên khác là trường xuân, hoa hải đằng, bông dừa, dương giác. Cây mọc hoang và được trồng nhiều ở khắp nơi để làm cảnh và làm thuốc.

19-2-1437727059326

Cây dừa cạn.

Dừa cạn là loại cây nhỏ, mọc thành bụi dày, có cành đứng, có bộ rễ rất phát triển, thân gỗ ở phía gốc, mềm ở phần trên. Lá mọc đối, thuôn dài, đầu lá hơi nhọn. Hoa trắng hoặc hồng, có mùi thơm, mọc riêng lẻ ở các kẽ lá phía trên, quả gồm 2 đại, đầu quả hơi tù, trong quả chứa 12-20 hạt nhỏ màu nâu nhạt, hình trứng. Mùa hoa quả gần như quanh năm.

Toàn cây được dùng làm thuốc. Thông thường người ta nhổ trọn cả bụi đem về phơi khô, chặt nhỏ khi dùng cho sao thơm hoặc dùng tươi, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Một số đơn thuốc thường dùng

Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, dùng một trong các bài thuốc sau:

Dừa cạn 20g, sao vàng; lá dâu 20g, sắc lấy nước, chia uống 2 – 3 lần mỗi ngày.

– Hoa dừa cạn 6g, nụ hoa hòe 10g, hãm với nước sôi trong bình kín khoảng 20 phút. Uống thay nước trà mỗi ngày.

– Hoa dừa cạn 6g, cúc hoa 10g, hãm với nước sôi uống trong bình kín 20 phút, uống thay trà trong ngày.

– Dừa cạn 160g, lá đinh lăng 180g, hoa hòe 150g, cỏ xước 160g, đỗ trọng 120g, chi tử 100g, cam thảo đất 140g. Các vị sao giòn tán vụn trộn đều, bảo quản trong hộp kín tránh ẩm. Ngày dùng 40g cho vào ấm, đổ nước sôi hãm, sau 10 phút là được. Uống thay trà trong ngày. Công dụng: an thần hạ áp, làm bền thành mạch, êm dịu thần kinh.

19-1-1437727059290

Dừa cạn phối hợp với nụ hoa hòe hỗ trợ điều trị tăng huyết áp.

Mất ngủ: Dừa cạn 20g, sao vàng, lá vông nem 12g, hạt muồng sao đen 12g, sắc uống trước khi đi ngủ. Dùng 5-7 ngày.

Trị khí hư bạch đới: Dừa cạn 12g, rễ cây bạch đồng nữ 16g, biển đậu 16g, đan sâm 16g, cây chó đẻ 16g, lá bạc sau 16g. Sắc uống ngày 1 thang.  10 ngày là một liệu trình.

Rong kinh: Toàn cây dừa cạn sao vàng 30g, sắc lấy nước, uống liên tục 1 tuần.

Bế kinh, đau bụng kinh, người mệt mỏi: Dừa cạn (phơi khô) 16g, nga truật 12g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, chỉ xác 8g, trạch lan 16g, huyết đằng 16g, hương phụ 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 3-5 ngày.

Lưu ý: Không dùng cho phụ nữ có thai.

Theo Bác sĩ Nguyễn Thị Nga (SKĐS)

Theo y học cổ truyền, thiên hoa phấn có vị ngọt, chua, tính hàn; có công dụng thanh phế nhiệt, nhuận phế hóa đờm, sinh tân, giải độc… thường dùng chữa sốt nóng, miệng khô rát, lở ngứa, viêm tấy.

Thiên hoa phấn là tên thuốc của rễ cây qua lâu. Cây qua lâu còn có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua, dây bạc bát, người Tày gọi là thau ca. Qua lâu thuộc loại dây leo, có rễ củ thuôn dài như củ sắn, lá giống lá gấc, hoa đơn tính màu trắng, quả hình cầu, màu lục có sọc trắng, khi chín có màu đỏ.

Rễ qua lâu được thu hoạch vào mùa thu – đông, tốt nhất là sau khi thu hái quả được ít ngày. Rễ đào về, cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, cắt thành từng đoạn, rễ nhỏ để nguyên, rễ to bổ dọc, phơi hay sấy khô để làm thuốc.

hoa thien phan

Thiên hoa phấn.

Một số bài thuốc dùng thiên hoa phấn

Chữa viêm amidan mạn: Thiên hoa phấn 8g; sinh địa 16g; hoài sơn, huyền sâm, ngưu tất, mỗi vị 12g; sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, tri mẫu, địa cốt bì, mỗi vị 8g; xạ can 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 5-7 ngày.

Sốt nóng do viêm họng, miệng khô khát: Thiên hoa phấn 8g, rễ cây ké lớn đầu 8g, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống 1 lần trong ngày.

Chữa ho do nhiệt: Thiên hoa phấn 30g, gạo tẻ 100g. Sắc thiên hoa phấn, bỏ bã lấy nước, cho gạo vào nước thuốc nấu cháo ăn trong ngày, có tác dụng thanh phế, chỉ khát, sinh tân dịch… chữa ho do nhiệt hiệu quả.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Thiên hoa phấn 8g; thục địa, hoài sơn, mỗi vị 20g; đơn bì, kỷ tử, thạch hộc, mỗi vị 12g; sơn thù, sa nhân mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 10 ngày 1 liệu trình.

Hỗ trợ điều trị thấp khớp: Thiên hoa phấn, thổ phục linh, cốt toái bổ, kê huyết đằng, thạch cao, đơn sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt, mỗi vị 12g; bạch chỉ 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 10 ngày 1 liệu trình.

Phụ nữ mới sinh sữa không xuống: Thiên hoa phấn đốt tồn tính, tán nhỏ, ngày uống 16-20 viên đến khi sữa xuống. Hoặc: Thiên hoa phấn, sài hồ, đương quy, xuyên sơn giáp, mỗi vị 8g; bạch thược 12g; thanh bì, cát cánh, thông thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Lưu ý: Không dùng thiên hoa phấn cho người có tỳ vị hư yếu, tiêu chảy, phụ nữ có thai.

theo Bác sĩ Thu Vân (suckhoedoisong.vn)

Theo Đông y, lươn là món ăn ngon và vị thuốc tốt, có giá trị dinh dưỡng cao, vị ngọt, tính ấm, không độc, tác dụng bổ gan,

dac-san-luon-nghe-an

Thiện ngư được dùng trong y học cổ truyền là tên thuốc từ thịt lươn (thường là lươn vàng). Theo Đông y, lươn là món ăn ngon và vị thuốc tốt, có giá trị dinh dưỡng cao, vị ngọt, tính ấm, không độc, tác dụng bổ gan, tỳ, thận, thích hợp với thể trạng nhiệt, rất tốt cho người gầy yếu, xanh xao, phụ nữ sau khi sinh bị suy nhược, khí huyết không điều hòa.

Lấy lươn tuốt cho hết nhớt bằng rơm và tro bếp, rửa sạch, mổ bỏ lòng ruột, để cả con, luộc qua, gỡ lấy thịt, nấu cháo ăn hoặc sấy khô, tán bột uống. Ở đồng bằng Nam bộ, lươn nấu với cá rau rút và một số rau gia vị thành món lẩu canh chua, là món ăn vị thuốc bổ dưỡng phổ biến, có thêm tác dụng thanh nhiệt, nhuận tràng, an thần, mạnh gân xương và mùi vị thơm ngon hấp dẫn; thịt lươn nấu với ngó sen ăn chữa rong kinh, băng huyết. Cuốn lá lốt nướng ăn chữa tê thấp, hầm với rau dừa nước là thuốc bổ máu, với đỗ đen có tác dụng bổ thần kinh;

luon-1432222000572

Lươn và một số rau gia vị thành món canh chua  thanh nhiệt, bổ dưỡng.

Một số món ăn bài thuốc chữa bệnh có thịt lươn:

Chữa viêm gan mạn tính: Lươn 2 – 3 con làm thịt, bỏ ruột, tầm gửi cây dâu (tang ký sinh) 60g; rễ lau 30g, nước vừa đủ. Tất cả đem nấu chín, ăn cả cái lẫn nước

Chữa mồ hôi ra nhiều ở tay, chân: Lươn 1 con, luộc qua, gỡ lấy thịt, ý dĩ nhân 20g, để sống, phơi khô hoặc sao vàng, giã nhỏ thành bột, gạo nếp 30g vo kỹ, để ráo nước, giã thành bột. Trộn chung 3 thứ, thêm ít muối, nấu với nước luộc lươn cho nhừ chuyển thành cháo ăn trong ngày. Dùng 5 – 7 ngày.

Chữa di tinh, mộng tinh: Củ súng 10g nấu chín, bóc vỏ phơi khô, hoài sơn 50g nấu chín, phơi khô. Hai thứ tán  bột, trộn đều nấu cháo với thịt lươn, ăn vào lúc đói. Dùng liên tục một thời gian.

0000305_luon_chien_gion

Chữa thần kinh suy nhược: Thịt lươn 250g, thái nhỏ, hấp cách thủy với hoài sơn, bách hợp, mỗi thứ 30g và nước vừa đủ. Ăn trong ngày. Dùng nhiều lần.

Chữa bạch đới, khí hư: Lươn 1 con to lấy phần giữa khoảng 30cm, đốt ra tro; hồ tiêu, tán nhỏ, rây bột mịn. Hai thứ trộn đều, mỗi lần uống 8g với rượu, ngày 3 lần (Nam dược thần hiệu).

Chữa thiếu máu, gầy còm, mệt mỏi: Thịt lươn 10g thái nhỏ, nấu với nước gừng 10 – 20ml và ít gạo thành cháo. Ăn trong ngày.

Ở Trung Quốc thịt lươn được dùng dưới dạng “lươn hấp cơm”, một món ăn-vị thuốc phổ biến ở vùng nông thôn để chữa chứng vàng bủng ở da mặt những người đã qua cơn bệnh nặng (bệnh hoàng thống). Cách nấu như sau: Lấy lươn mổ bụng bỏ ruột, rút chỉ máu dọc theo xương sống, rửa sạch. Cắt miếng, ướp gia vị và nước gừng tươi, trộn đều cho thấm, có thể thêm ít rượu. Khi cơm sắp cạn, đặt thịt lươn lên trên để hấp cho chín. Ăn nóng. Kết quả điều trị rất tốt, sắc mặt sẽ hết vàng.

Người Nhật Bản coi thịt lươn như một loại thực phẩm thông huyết mạch, lợi gân cốt, nên gọi là “sâm động vật”

Kiêng kỵ: Người bị bệnh sốt rét , kiết lỵ, đầy bụng, khó tiêu, không nên ăn lươn.

Theo DS. HUYỀN HOA (SKĐS)

Theo các nghiên cứu, rau mồng tơi chứa chất nhầy pectin giúp phòng chữa nhiều bệnh, có tác dụng nhuận tràng, chống béo phì.

Chính vì vậy những món ngon từ rau mồng tơi dưới đây rất thích hợp cho người có mỡ cao trong máu, người muốn giảm cân.  Phi thơm hành tím băm với dầu ăn, sau đó cho phần tôm sú đã ướp gia vị vào xào xơ đến khi thịt tôm săn lại. Chế vào nồi một bát tô nước lọc và đun sôi. Khi nước sôi cho rau mồng tơi đã thái nhỏ vào nồi. Canh sôi lại thì nêm gia vị vừa ăn và tắt bếp.

1-3-mon-ngon-tu-rau-mong-toi-giup-giam-beo-1434701252367

Theo các nghiên cứu, rau mồng tơi chứa chất nhầy pectin giúp phòng chữa nhiều bệnh, có tác dụng nhuận tràng, chống béo phì. Chính vì vậy những món ngon từ rau mồng tơi dưới đây rất thích hợp cho người có mỡ cao trong máu, người muốn giảm cân. Ảnh: vtc

 Mồng tơi xào tỏi. Rau mồng tơi chọn loại nhiều ngọn, ít lá, lá nhỏ để món ăn giòn ngon hơn. Sau khi sơ chế, rửa sạch rau mồng tơi rồi để ráo nước. Tỏi bóc vỏ, đập dập.

3-3-mon-ngon-tu-rau-mong-toi-giup-giam-beo-hinh-3-1434701249453

Bắc chảo lên bếp, để lừa thật to, đổ dầu vào chảo đun nóng già. Cho tỏi vào phi thơm và bỏ rau mồng tơi vào xào. Nêm gia vị vừa miệng. Rau xào chín tới thì tắt bếp.

Canh ngao mồng tơi vừa có vị ngọt của ngao lại có vị thanh của rau. Hai nguyên liệu này kết hợp với nhau trở thành món ăn giàu dưỡng chất, thanh mát và hỗ trợ giảm cân hiệu quả.

4-3-mon-ngon-tu-rau-mong-toi-giup-giam-beo-hinh-4-1434701248080

Ngao rửa sạch cho vào xoong luộc đến khi mở miệng. Giữ lại nước luộc ngao để nấu canh. Nhặt ruột ngao đem xào với hành cùng một chút nước mắm. Ảnh: amthucdongtay

 Đổ lại nước luộc ngao vào xoong rồi đặt lên bếp. Khi nước sôi thì cho rau mồng tơi thái nhỏ và ngao đã xào vào đun. Canh sôi lại, nêm gia vị vừa miệng rồi múc canh ra bát.

 Canh tôm mồng tơi. Vị ngọt của tôm kết hợp với mồng tơi không chỉ giúp ngon miệng mà còn hỗ trợ giảm cân hiệu quả. Tôm lột bỏ vỏ, rút bỏ chỉ đen trên lưng rồi rửa thật sạch với nước. Để tôm ráo nước và cho tôm vào cối, thêm một ít hành khô rồi giã dập. Ướp tôm với một ít muối, hạt nêm, tiêu xay.

8-3-mon-ngon-tu-rau-mong-toi-giup-giam-beo-hinh-8-1434701241056

Phi thơm hành tím băm với dầu ăn, sau đó cho phần tôm sú đã ướp gia vị vào xào xơ đến khi thịt tôm săn lại. Chế vào nồi một bát tô nước lọc và đun sôi. Khi nước sôi cho rau mồng tơi đã thái nhỏ vào nồi. Canh sôi lại thì nêm gia vị vừa ăn và tắt bếp. Ảnh: wordpres

Theo SKĐS/Kiến thức