Thuốc và cuộc sống

0 433

Sứa là loài nhuyễn thể, thân mềm. Loài sứa được Đông y dùng làm thuốc gọi là hải triết, còn có tên là thạch kính, thủy mẫu, chạp, xú bồ ngư, hải xá, thủy mẫu tiên.

Sứa là loài nhuyễn thể, thân mềm. Loài sứa được Đông y dùng làm thuốc gọi là hải triết, còn có tên là thạch kính, thủy mẫu, chạp, xú bồ ngư, hải xá, thủy mẫu tiên. Con sứa cho ta hai vị thuốc là hải triết và hải triết bì. Chúng có nhiều tính năng tương đồng, nhưng mỗi thứ lại có một số tác dụng đặc thù, do đó người xưa mới phân chúng thành 2 vị thuốc riêng biệt.

Hải triết

Là bộ phận vòi miệng (khẩu uyển bộ) của con sứa. Theo Đông y, hải triết có vị mặn, tính ấm; đi vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng thanh nhiệt, hóa đàm, hành ứ hóa tích, sát khuẩn, chỉ thống, khai vị, nhuận tràng,… Chủ trị đàm thấu (ho nhiều đờm), háo suyễn (hen suyễn), bĩ tích trướng mạn (tích tụ trướng đầy), đại tiện táo kết; cước thũng (chân phù nề),…

Cách dùng và liều dùng: Sắc nước uống từ 30-60g; hoặc trộn với gừng, giấm ăn.

Kiêng kỵ: Theo Bản thảo cầu nguyên: Người tỳ vị hàn nhược, không nên sử dụng..

1-db28a-1434020510287

Canh sứa biển chữa chứng tích trệ, đại tiện táo kết.

Hải triết bì

Là phần thân bán cầu (tản bộ) phía trên thân con sứa. Còn gọi là bạch bì tử, bạch bì chỉ, thu phong tử, sá bì; la bì… Theo Đông y, hải triết bì có vị hàm sáp (mặn chát), tính ôn (tính ấm); đi vào kinh can. Có tác dụng hóa đàm, tiêu tích, trừ phong, trừ thấp. Chủ trị bĩ khối (khối u, hòn cục), đầu phong, khí hư bạch đới, đau xương bánh chè do phong thấp,…

Cách dùng: Sắc nước uống; hoặc trộn với rượu, gừng, giấm ăn. Dùng ngoài đắp lên chỗ bị bệnh.

Một số bài thuốc có sử dụng con sứa

Trị âm hư đàm nhiệt, đại tiện táo kết: Dùng hải triết 30g, mã thầy 4 củ, nấu canh ăn. Dùng chữa người âm tinh hao tổn, hư hỏa bốc lên gây đàm nhiệt, đại tiện táo bón; Có thể sử dụng cho cả người lớn và trẻ nhỏ – (theo sách Cổ phương tuyển chú: Tuyết canh thang)

Chữa các chứng tích trệ ở trẻ nhỏ: Dùng hải triết và củ mã thầy; mỗi vị dùng liều lượng thích hợp tùy theo tuổi, thêm nước, cùng nấu chín. Bỏ sứa, chỉ ăn củ mã thầy. Có tác dụng chữa trẻ nhỏ bụng đầy trướng, trong bụng có hòn cục, sưng hạch … – (Theo sách Cương mục thập di).

Trị đầu phong: Dùng hải triết bì đắp lên hai huyệt thái dương – (theo Cương mục thập di). “Đầu phong” chỉ chứng bệnh đau đầu kinh niên, lúc phát lúc không, có chuyện xúc động là đau kịch liệt, da đầu tê dại, lan tới chân lông mày, mắt tối sầm, đầu không cất lên được. Nguyên nhân do phong hàn hoặc đờm tích hóa hỏa uất kết ở kinh lạc, khiến khí huyết ứ trệ gây nên.

Đau xương bánh chè do phong thấp: Dùng hải triết bì đắp lên đầu gối – (theo Cương mục thập di).

Chữa vô danh thũng độc: Dùng hải triết bì trộn với đường cát giã nhuyễn, đắp lên chỗ bị bệnh, ở giữa để hở một lỗ. Loại ung nhọt nặng thì sẽ vỡ mủ, loại nhẹ thì sẽ tiêu tan – (theo Y phương tập thính). “Vô danh thũng độc” chỉ các loại ung nhọt không rõ nguyên nhân.

Chữa lưu hỏa: Dùng hải triết bì đắp lên chỗ bị bệnh, thấy rát thì gỡ ra – (theo Cương mục thập di). “Lưu hỏa” còn gọi là “hỏa đan”, “đan độc” là chứng nhiệt độc cấp tính ở ngoài da. Vùng da có bệnh đỏ như son nên gọi là “đan độc”. Bệnh thường phát ở bắp chân và vùng mặt. Nơi mắc bệnh có từng mảng sưng đỏ, gồ cao hơn mặt da bình thường, có bờ rõ, bề mặt trơn bóng loáng, sờ thấy rắn chắc, vùng kế cận nổi hạch; kèm theo rét run, sốt cao, nhức đầu, đau khớp…

Theo Lương y Thái Hư (SKĐS)

0 609

Theo Đông y, đại ngải có công năng khu phong, tiêu thũng, hoạt huyết, tán ứ. Công dụng chữa cảm sốt, ho, đầy bụng khó tiêu,…

Theo Đông y, đại ngải có công năng khu phong, tiêu thũng, hoạt huyết, tán ứ. Công dụng chữa cảm sốt, ho, đầy bụng khó tiêu,… Dùng ngoài chữa đinh nhọt, ghẻ, ngứa,…

Đại ngải còn có tên khác là mai hoa băng phiến, long não hương, từ bi, đại bi, mai phiến, mai hoa não, ngải nạp hương, co nát (Thái), phặc phà (Tày). Cây nhỏ, cao khoảng 1 – 3m, thân phân cành ở phía ngọn, nhiều lông. Lá mọc so le, phiến lá có lông, mép có răng cưa hay nguyên. Cụm hoa hình ngù ở nách lá hay ở ngọn, gồm nhiều đầu, trong mỗi đầu có nhiều hoa màu vàng. Quả bế có lông. Toàn cây có mùi thơm của long não. Cây ra hoa tháng 3 – 5, có quả tháng 7 – 8.

18-1-1433215231434

Lá và hoa cây đại ngải.

Cây mọc hoang ở khắp nơi. Bộ phận dùng làm thuốc là lá, tinh dầu chưng cất từ lá (còn gọi là mai hoa băng phiến). Có thể thu hái lá quanh năm, chủ yếu vào mùa hè. Thu hái toàn cây vào mùa Hạ và Thu, dùng tươi, hoặc phơi hay sấy khô.

Một số đơn thuốc thường dùng

Chữa cảm sốt, bí mồ hôi: Dùng riêng lá đại ngải 5 – 10g sắc uống, hoặc phối hợp với các loại lá có tinh dầu khác để xông chữa cảm. Cách làm như sau: Lá đại ngải, lá bưởi, lá chanh, lá sả, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, cho tất cả vào nồi đun sôi. Để nồi nước trước mặt người bệnh, trùm chăn kín, lấy đôi đũa khuấy đều nước để hơi  nước bốc lên cho ra mồ hôi. Xông 2 – 3 lần 1 tuần. Cần chú ý khi xông phải ở nơi kín gió vì khi xông xong, ra nhiều mồ hôi nếu gặp gió lùa dễ bị cảm lạnh.

18-2-1433215231419

Đại ngải phối hợp với ích mẫu chữa đau bụng kinh.

Chữa đầy bụng, khó tiêu: Lá đại ngải 20 – 30g sắc uống trong ngày. Uống 3- 5 ngày.

Chữa đau bụng kinh: Rễ đại ngải 30g, ích mẫu 15g sắc uống. Dùng 1 tuần trước kỳ kinh.

Chữa ghẻ: Lá đại ngải tươi, lá hồng bì dại, mỗi thứ một nắm, rửa sạch, giã nát vắt lấy nước cốt đặc bôi đến khi khỏi.

Chữa ho do viêm họng: Lá đại ngải 200g, lá chanh 50g, rễ cà gai leo 100g, rễ thủy xương bồ 100g, củ sả 100g, trần bì 50g. Tất cả các vị thuốc phơi khô, cắt nhỏ nấu với nước 2 lần chắt lấy 700ml nước thuốc, rồi thêm 300ml sirô để được 1 lít cao. Người lớn ngày uống 40ml, chia làm 2 lần.

Theo Bác sĩ Thu Vân (SKĐS)

1 624

Từ nhiều đời nay, trong dân gian Việt nam đã lưu truyền câu ca dao: Anh ơi ngoảnh mặt ra ngoài/ Mai em đi chợ mua mật với củ mài anh ăn. Mật và củ mài vừa là vị thuốc Đông y, vừa là thực phẩm. Vậy mật và của mài có tác dụng như thế nào?

4-tam-trang-co-tot-k-1432606404959-1432695785189

Đây là hai vị thuốc của Đông y đã có trên bốn nghìn năm. Mật được chiết xuất từ Cam giá (cây mía), là một vị thuốc bổ, có vị ngọt, tính bình vào các kinh phế, tỳ, vị, can (phổi, tụy, dạ dày, gan), có tác dụng thanh nhiệt nhuận táo, sinh tân dịch, chỉ khát.

Trong Đông y dùng để bổ tỳ vị, điều hòa khí huyết, người dịch vị kém, ăn uống kém hay khô miệng, tiêu đờm, trị ho, giải khát. Củ mài trong Đông y gọi là Hoài sơn, mọc hoang trong rừng, cả Bắc Trung Nam đều có, cũng là một vị thuốc bổ có vị ngọt, tính bình vào các kinh tỳ, vị, phế, thận (tụy, dạ dày, phổi, thận). Có tác dụng ích thận khí, bổ dưỡng tỳ vị phế và thận, thanh nhiệt. Củ mài dùng để điều trị các bệnh: thận dương kém, dương sự yếu, đi tiểu đục, tỳ vị hư yếu, đại tiện lỏng. Hai vị thuốc trên vừa bổ thận, vừa bổ tỳ có nhiều trong các bài thuốc Đông y.

dfba4bcdeb4a47b0a14ca2d821cf10c2

Bài thuốc “Tư sinh Thận khí hoàn”

Thành phần: Thục địa 16 g, đan bì 8 g, hoài sơn (củ mài) 12 g, sơn thù 8 g, nhục quế 6 g, phục linh 12 g, trạch tả 8g, xa tiền tử 12 g, ngưu tất 8 g, phụ tử chế 6 g.

Các vị thuốc trên tán bột mịn quyện với mật mía, làm viên hoàn mỗi viên 5 g, ngày uống 2 lần mỗi lần 2 viên sau khi ăn sáng và ăn tối, uống với nước đun sôi để ấm. Bài thuốc có tác dụng điều trị chứng tỳ thận hư yếu, ăn ngủ kém, đau lưng, tiểu tiện không thông (hay đái rắt) nam giới dương sự kém, phụ nữ lãnh cảm tình dục.

Bài thuốc “Sơn dược hoàn”

Thành phần: Hoài sơn (củ mài) 16 g, cửu thái tử (hạt hẹ)12 g, sơn thù 6 g, thỏ ty tử (hạt tơ hồng) 12 g, thục địa 12 g, xa tiền tử (hạt mã đề) 12 g, phụ tử chế 6 g, nhục quế 6 g.

Tán bột các vị thuốc trên với mật mía, mỗi viên 5 g, ngày uống 2 lần mỗi lần uống 2 viên trước khi ăn sáng và ăn tối. Đây là bài thuốc đại bổ thận tráng dương. Điều trị chứng hạ nguyên hư suy, thận suy dẫn đến vô sinh.

Bài thuốc “Sơn dược thang”

Thành phần: Củ mài 20 g, bạch truật 20 g, cam thảo 8 g, cát căn (sắn dây) 20 g, hoàng kỳ 20 g, đảng sâm 20 g. Mỗi ngày uống một thang sắc uống 3 lần trong ngày để trị bệnh tiểu đường.

Ngoài các bài thuốc trên, củ mài còn làm thức ăn bổ dưỡng như: nấu chè củ mài với mật mía ăn vào mùa đông xuân để bổ thận sinh tinh, ấm tỳ vị. Củ mài hầm với chim bồ câu, hạt sen, ý dĩ, gạo nếp, đại táo giúp phụ nữ sau khi sinh ăn vừa bổ khí, huyết vừa có nhiều sữa.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng

Theo SKĐS/Người Lao Động

0 567

Đầu hè là mùa dưa bở, hãy nhanh tay mua về dầm với đường làm món tráng miệng vừa giải nhiệt vừa tăng cường sức khỏe.

Không chỉ đơn thuần là món ăn ngon, dưa bở còn có những tác dụng tuyệt vời cho sức khỏe. Theo Đông y thì dưa bở có vị ngọt, tính lạnh, tác dụng giải khát, trừ phiền, thông khí, lợi tiểu, trong những ngày hè nóng bức ăn dưa bở có thể phòng ngừa được cảm nắng.

Hạt dưa có vị ngọt, tính mát, tác dụng điều hòa trong bụng, thanh phế, nhuận tràng, trị được các chứng kết tụ sinh máu mủ ở tràng vị, chữa ho khan hay đại tiện táo bón… Hoa dưa bở chữa nấc, đau tim… còn lá tác dụng trị mất kinh ở phụ nữ. Cuống dưa bở có vị đắng, tính lạnh, có độc, tác dụng gây nôn và thông đại tiểu tiện, giải độc, chữa sốt phát cuồng, sốt rét cơn…

Ngoài ra trong dưa bở được lợi thế có tới 95% là nước, ít calo, lượng đường thấp, đây là những tính năng giúp nó trở thành món ăn tốt cho người muốn giảm cân, béo phì. Bạn có thể dùng sinh tố dưa bở cho thêm chút đường ăn hoặc dùng kết hợp sinh tố dưa bở với thanh long càng tốt.

 1-1-dua-bo-9473-1431509130-1431584276123

Dưa bở dầm đường – món ngon dễ làm. Ảnh: Deponline.

Các bài thuốc trị liệu từ dưa bở

– Chữa mất ngủ: Dưa bở 200g, hạt sen 100g, hoa nhài 20g, đường trắng 200g. Cho hoa nhài vào nước đun thật kỹ, sau gạn lấy 300ml nước sắc hoa nhài, hạt sen giã nhỏ, rồi cho tất cả vào nồi, đun nhỏ lửa, khuấy đều tay cho đến khi thấy hạt sen đã chín nhừ thì cho đường vào trộn đều để đường tan hết là được. Mỗi ngày ăn một lần.

– Chữa táo bón: Hạt dưa bở 10g, khoai lang 30g, đường đỏ 10g. Giã nhỏ hạt dưa bở cùng khoai lang rồi cho vào 250ml nước đun nhỏ lửa, khi khoai chín cho đường vào trộn đều là được. Cần ăn vào buổi sáng sớm, khi mới ngủ dậy, ăn liền trong 5 buổi sáng bệnh sẽ khỏi.

– Chữa ho khan, táo bón: Hạt dưa bở mỗi lần ăn 10g, ngày ăn 2 lần.

– Chữa đau tim, ho nấc: Hoa dưa bở 8g, sắc lấy nước uống ngày 1 lần.

– Chữa vô kinh: Lá dưa bở 20g, sử quân tử 20g, cam thảo 20g. Tất cả tán nhỏ uống với rượu mỗi lần 8g hoặc sắc uống.

– Gây nôn, chữa sốt phát cuồng, sốt rét cơn: Cuống dưa bở 4-8g, sắc lấy nước uống nôn mửa ra đờm là khỏi bệnh.

2-2-dua-bo-3178-1431509131-1431584275606

– Chống ngứa, chữa mề đay: Lá cây dưa bở nấu lấy nước tắm.

– Chữa mụn trứng cá và có vết sắc tố, làm da nhẵn mịn: Quả dưa bở, táo tàu mỗi thứ 250 g rửa sạch, bỏ vỏ, bỏ hạt, cho thêm 150 g cà rốt đã luộc nhừ, tất cả nghiền cho thật nhuyễn, chia ăn 2 lần trong ngày. Thuốc có tác dụng nhuận phế, kiện tì, dưỡng da rất tốt.

– Chữa đau khớp đầu gối: Hạt dưa bở 100 g, ngâm trong ít rượu trắng, 10 ngày sau lấy ra nghiền nát, mỗi lần ăn 10 g, uống thêm chút ít rượu, ngày 3 lần. Thuốc có tác dụng trừ phong, hoạt huyết.

– Giải ngộ độc: Cuống dưa bở 1 g, đậu đỏ hạt nhỏ 3 g, tán nhỏ cả hai vị này trộn lẫn, chiêu với nước sôi nguội hay uống bằng nước sắc đậu sị (nước sắc đậu đen) sẽ có tác dụng giải độc mạnh hơn. Lưu ý khi uống nước thuốc này sẽ có tác dụng gây nôn, giúp bệnh nhân nôn ra hết chất độc còn lưu trong dạ dày, do vậy uống liều như vừa nêu trên mà không thấy gây nôn được có thể tăng liều hơn một chút sẽ hiệu quả. Hoặc sử dụng cuống dưa bở tán nhỏ vắt lấy nước cốt uống cũng có tác dụng.

Lưu ý

Những người tì vị hư hàn, bụng trướng tức, đại tiện phân loãng không ăn loại dưa này. Những người bị xuất huyết, thể chất hư nhược thì không được uống các loại nước thuốc bằng cuống quả dưa bở.

Cách chọn mua dưa bở ngon

– Kinh nghiệm của các bà nội trợ “sành” ăn, dưa bở ngon là những quả bắt đầu rạn một chút ở phần vỏ. Không nên chọn những quả dưa có vết rạn quá nhiều bởi đây có thể là môi trường thuận lợi cho các loại ruồi, muỗi hoạt động.

– Ngoài ra, dưa ngon là trên vỏ có một lớp lông mỏng, có mùi thơm dễ chịu. Nếu dưa bị ngâm hóa chất, mùi thơm này sẽ không còn.

– Nên chọn những quả dưa có ruột vàng.

Theo SKĐS/Ngôi sao

0 523

Rau má mọc hoang khắp nơi và được trồng làm rau ăn và làm thuốc. Đây là vị thuốc dân giã có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, giải độc, dùng rất tốt trong mùa hè.

Rau má còn có tên là tích tuyết thảo, có thân nhẵn, mọc bò lan trên mặt đất, có rễ ở các mấu. Lá có cuống dài mọc ra từ gốc hoặc từ các mấu. Lá hơi tròn, có mép khía tai bèo. Phiến lá có gân dạng lưới hình chân vịt. Hoa mọc ở kẽ lá. Cánh hoa màu đỏ hoặc tía.

rau-ma-giup-tri-cac-loai-seo

Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu, thường được dùng chữa bệnh như sau:

Chữa cảm nắng, say nắng: Rau má tươi 60g, hương nhu 16g, lá tre 16g, lá sắn dây 16g. Nước 600ml. Sắc còn 300ml, chia uống 2 lần trong ngày, uống nóng.

Giải nhiệt, mát gan: Rau má 200g, nhân trần 100g, lá đinh lăng 200g, cam thảo 100g. Các dược liệu đều ở dạng khô. Cách dùng: Các vị thuốc sao giòn tán vụn trộn đều, bảo quản trong bình kín tránh ẩm. Ngày dùng 30 – 40g. Hãm với nước sôi, sau 10 phút có thể dùng được. Uống thay trà trong ngày có công dụng thanh nhiệt, nhuận gan, chống khát.

Chữa mồ hôi trộm ở trẻ: Rau má 10g, râu ngô 5g, mã đề 5g, kim ngân hoa 3g, thảo quyết minh sao 3g, lá dâu 10g. Sắc uống ngày 1 thang. 10 ngày là một liệu trình.

Đái rắt, đái buốt: Rau má 40g, nõn tre 40g để tươi, giã nát với vài hạt muối, gạn lấy nước uống. Uống 3 – 5 ngày.

Hạ sốt: Lấy 30g rau má tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước sôi để nguội, vắt lấy nước, rồi hòa 10g bột sắn dây, thêm đường uống.

Chữa ho, viêm họng: Rau má rửa sạch, giã vắt lấy nước cốt đặc, hòa thêm với đường cho dễ uống. Trẻ em ngày hai lần, mỗi lần ½ bát ăn cơm; người lớn uống ngày hai lần, mỗi lần một bát ăn cơm. Uống liên tục 5 đến 7 ngày.

Giải độc khi bị say sắn: Rau má một nắm, lấy cả rễ rửa sạch, giã nát, hòa với nước ấm cho bệnh nhân uống, sau đó đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế để điều trị.

Chữa mụn nhọt: Rau má và lá gấc mỗi thứ 50g rửa thật sạch, giã nhỏ, cho ít muối vào trộn đều, đắp lên chỗ đau rồi băng lại, ngày thay thuốc 2 lần, đắp cho đến khi khỏi.

Chữa rôm sảy, mẩn ngứa: Dùng 50g rau má rửa sạch giã vắt lấy nước, thêm ít đường hoặc một ít muối cho dễ uống.

Lưu ý: Không nên dùng rau má khi cơ thể ở trạng thái hư hàn, tiêu chảy.

Theo Bác sĩ Thu Vân (SKĐS)

0 571

Trong dân gian, củ nghệ rất được trọng dụng trong việc chữa bệnh. Nghệ đen và nghệ vàng là 2 loại nghệ được sử dụng chữa bệnh nhiều nhất.

Trong dân gian, củ nghệ rất được trọng dụng trong việc chữa bệnh. Nghệ đen và nghệ vàng là 2 loại nghệ được sử dụng chữa bệnh nhiều nhất. Bài viết này xin được giới thiệu một số cách dùng nghệ đen chữa bệnh.

Theo Đông y, nghệ đen vị đắng cay, tính ôn; vào kinh can. Có tác dụng hoạt huyết phá ứ, hành khí giảm đau, còn có tác dụng tiêu thực hóa tích. Dùng cho các trường hợp đau tức vùng ngực bụng, đầy bụng không tiêu, các chứng u bướu kết tụ, chấn thương sưng bầm đụng giập. Hằng ngày dùng 3 – 10g bằng cách nấu hầm, pha hãm.

bot-nghe-den

Một số bài thuốc trị bệnh có dùng nghệ đen

Phá ứ, thông kinh: nghệ đen 8g, xuyên khung 6g, thục địa 12g, bạch thược 12g, bạch chỉ 12g. Các vị sấy khô, nghiền thành bột. Mỗi lần 12g, ngày uống 3 lần, chiêu bằng nước muối loãng. Dùng cho phụ nữ khí huyết kết trệ, tắc kinh trướng đau, bụng thành cục.

Hành khí giảm đau:

Thang kim linh tả can: kim linh tử 20g, nhũ hương 6g, một dược 6g, tam lăng 6g, nghệ đen 6g. Sắc uống. Trị ngực bụng đau do khí huyết ứ trệ, mạng sườn trướng đau.

Nghệ đen, điền thất, nghiền thành bột, để riêng, uống thay phiên nhau.

Đài ô dược 8g, đào nhân 8g, thổ miết 4g, tam lăng 4g, uy linh tiên 4g, sinh địa 12g, xích thược 4g, cốt toái bổ 4g, tục đoạn 4g, hồng hoa 4g, trạch lan 4g, quy vĩ 16g. Sắc uống ngày 1 thang, uống với bột nghệ đen hoặc điền thất, với rượu loãng. Trị chấn thương gãy xương.

nghe-den-chua-da-day-219941f9752-1428687166277

Tiêu thực hóa tích: nghệ đen 6g, tam lăng 6g, trần bì 12g, hương phụ 8g, hạt củ cải 6g, sa nhân 4g, thanh bì 8g, chỉ xác 8g, hồ hoàng liên 4g, lô hội 4g, hồ tiêu 6g. Tất cả nghiền thành bột mịn làm hoàn hồ. Mỗi lần uống 4 – 12g, ngày uống 2 lần, chiêu với rượu đun ấm. Khi uống thuốc không ăn thức ăn lạnh sống. Trị trẻ em uống sữa không tiêu, bụng đầy trướng.

Món ăn thuốc có nghệ đen:

Rượu xào nghệ đen: nghệ đen 15g cho vào nồi, đổ rượu nấu, gạn lấy nước uống. Dùng cho các trường hợp hen suyễn khó thở gấp.

Tim lợn hầm nghệ đen: nghệ đen 25g, tim lợn 1 cái. Làm sạch thái lát, nấu chín, thêm gia vị cho ăn. Liên tục 1 đợt 5 – 7 ngày. Dùng cho các trường hợp trướng bụng đầy tức, ăn không tiêu.

Nga truật tán: nghệ đen tán mịn, mỗi lần uống 4g, uống với chút rượu và ăn mấy nhánh hành. Dùng cho các trường hợp trướng bụng đầy hơi đau quặn.

Nước sữa nga truật: nghệ đen 4g, sữa tươi 50ml. Nghệ đen tán mịn hòa với sữa, thêm chút muối đun sôi cho uống. Dùng cho trẻ sơ sinh bị nôn trớ khi bú sữa mẹ hoặc ăn sữa ngoài.

Kiêng kỵ: Người khí huyết hư, phụ nữ có thai không dùng.

Theo Lương y Thảo Nguyên (SKĐS)

0 843

Hoa bí ngô ngoài giá trị về dinh dưỡng còn có giá trị phòng và chữa bệnh. Theo Đông y, hoa bí ngô vị ngọt, tính hàn vào kinh tâm…

Hoa bí ngô ngoài giá trị về dinh dưỡng còn có giá trị phòng và chữa bệnh. Theo Đông y, hoa bí ngô vị ngọt, tính hàn vào kinh tâm, tỳ, vị có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, bổ can thận, sáng mắt, kháng viêm, tiêu độc, chỉ thống và chống dị ứng… thích hợp trị các chứng suy giảm chức năng can thận, suy giảm thị lực, viêm đường tiết niệu… Sau đây xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ hoa bí ngô để bạn đọc tham khảo khi cần thiết.

hoa-bi-xao-thit-bo-1428057533146

Hoa bí ngô xào gan lợn giúp sáng mắt.

Canh hoa bí ngô đường phèn: hoa bí ngô 30 – 50g, đường phèn 5 – 10g, tất cả đem nấu canh ăn trong ngày. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp, hạ khí tiêu đờm. Thích hợp trị các chứng ho đờm vàng đặc, chân tay nặng nề, ăn uống kém… hoặc có thể lấy 5 – 7 bông hoa bí ngô, một thìa đường phèn, hãm uống.

Canh hoa bí ngô kim ngân, long đởm thảo: hoa bí ngô 30 – 50g, hoa kim ngân non 15 – 10g, long đởm thảo 20 – 30g. Trước tiên cho long đởm thảo vào xoong cho nước vừa đủ đun sôi 25 – 30 phút tắt bếp gạn lấy nước trên bỏ bã rồi cho hoa bí và kim ngân vào nấu thành canh, nêm gia vị vừa đủ múc ra ăn. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, tả hỏa, khứ thấp, dưỡng can mộc thoái hoàng. Thích hợp cho các chứng vàng da, viêm gan cấp, mạn tính, gan nhiễm mỡ, đau mắt đỏ…

101006045911-333-471

Canh hoa bí ngô rau sam: hoa bí ngô 30 – 50g, rau sam 20 – 30g, tất cả đem nấu canh ăn 5 – 7 ngày. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán huyết, tiêu thũng, mạnh trường vị, thông đại tiểu tiện và diệt khuẩn. Thích hợp cho hội chứng lỵ, viêm đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu (đái dắt, đái buốt, đái ra máu), mụn nhọt lở ngứa, viêm đại tràng, táo bón… Ngoài ra, có thể kết hợp với đậu Hà Lan hoặc đậu đen…

Hoa bí ngô xào gan lợn: hoa bí ngô 50 – 70g, gan lợn 200 – 300g đem xào ăn trong ngày. Bài thuốc có tác dụng dưỡng huyết thanh can sáng mắt. Thích hợp cho các chứng: quáng gà, suy giảm thị lực, cận, viễn thị…

Bài thuốc từ hoa bí ngô: hoa bí ngô 30g, hoa kim ngân 25g, vỏ quýt 15g, bồ công anh 30g rửa sạch, sắc uống ngày một thang, uống liền 5 – 7 ngày. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, tiêu viêm, chỉ thống. Thích hợp cho các chứng viêm tuyến vú, viêm xơ tuyến vú, mẩn ngứa, mày đay, viêm đường tiết niệu…

Chú ý: Hoa bí ngô có tính hàn và nê trệ, những người ăn uống ậm ạch khó tiêu và lạnh chân tay không nên dùng.

   Theo Lương y Chu Văn Tiến (SK&ĐS)

 

0 547

Cần tây là một loại rau gia vị được sử dụng phổ biến trong các món ăn hàng ngày, tuy nhiên, ít người biết những lợi ích cho sức khỏe của loại thực phẩm này.

Cần tây là một loại rau gia vị được sử dụng phổ biến trong các món ăn hàng ngày, tuy nhiên, ít người biết những lợi ích cho sức khỏe của loại thực phẩm này. Cần tây chứa tinh dầu; đường saccarose, glucose, fructose; nước, protein;  chất béo; các vitamin A, B1, B2, PP, đặc biệt rất giàu vitamin C, chỉ cần ăn 30g lá mỗi ngày là đủ lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể.

can-tay-1427872763455

Rau cần tây – cây gia vị, cây thuốc chữa nhiều bệnh.

Theo Đông y, cần tây vị ngọt hơi đắng, tính lương, vào can phế vị.  Có tác dụng bình can thanh nhiệt, khu phong lợi thấp. Dùng cho các trường hợp đau đầu hoa mắt chóng mặt, tăng huyết áp, mỡ máu cao, đái tháo đường, tiểu đục do viêm sỏi đường tiết niệu… Hằng ngày dùng 50 – 100g dưới dạng nấu, xào, nước ép tươi.

Cháo cần tây:

– Cần tây 200g, mơ hoặc mận ngọt 20g, gạo tẻ 60g. Cả ba thứ nấu cháo, khi chín thêm đường phèn khuấy đều, chia ăn ngày 2 lần, liên tục 7 – 14 ngày. Dùng cho các trường hợp ù tai điếc tai, giảm thính lực ở người cao tuổi hoặc do nhiễm độc thuốc, hóa chất.

– Rau cần tây tươi 60g, gạo tẻ 50 – 100g, nấu cháo, chia ăn 2 lần hằng ngày. Dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường. Có thể xào cần tây với thịt bò; ăn đến khi thấy hạ huyết áp thì thôi, không ăn kéo dài.

Chè cần tây bì sứa: rau cần tươi 100g, bì sứa 50g, rửa sạch thái lát, cho nước, nấu trong 20 phút, thêm 30g đường phèn khuấy đều, chia 2 lần ăn trong ngày. Dùng cho trường hợp viêm tuyến nước bọt.

Nước ép ngó sen rau cần tây: nước ép cần tây 50ml, nước ép ngó sen tươi 50ml, nước ép củ cải trắng 30ml, siro ô mai 5 giọt. Các loại nước ép trộn đều; uống với nước lọc hoặc nước sôi. Mỗi ngày 1 lần. Dùng trong kỳ kinh hàng tháng trong 5 ngày liền, chữa kinh nguyệt quá nhiều và dài ngày.

Nước ép cần tây 50ml, nước ép cà rốt 50ml, nước ép cà chua 50ml. Trộn đều, uống 1 lần trong ngày. Thuốc bổ dưỡng, kích thích thần kinh, làm cơ thể nhẹ nhõm và thân hình sẽ thon thả hơn.

Kiêng kỵ: Không dùng cho người tỳ vị hư hàn.

Theo Lương y Thảo Nguyên (Sức khỏe và Đời sống)

0 493

Theo y học cổ truyền, thốt nốt có vị ngọt, tính bình. Có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, kiện tỳ, giải nhiệt, dịch nhựa thốt nốt lên men có tác dụng bổ dưỡng.

Theo y học cổ truyền, thốt nốt có vị ngọt, tính bình. Có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, kiện tỳ, giải nhiệt, dịch nhựa thốt nốt lên men có tác dụng bổ dưỡng. Trong dân gian, cuống cụm hoa thốt nốt được nhân dân làm thuốc lợi tiểu, giải nhiệt trong xơ gan, lách to.

19-1427771462522

Cây, quả thốt nốt.

Cây thốt nốt được trồng phổ biến ở miền Nam, nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang. Đây là loại cây được nhân dân miền Nam rất ưa chuộng vì giá trị dinh dưỡng cao như vitamin C, B1, B2, B3, canxi, sắt, phosphor và potassium. Cây non được dùng như một loại rau, trái thì ăn sống hay nấu chín, nước có vị thơm ngon và dịu mát được uống tươi giải khát. Do đó thốt nốt được trồng chủ yếu làm nguyên liệu chế biến đường và rượu, một số bộ phận được dùng làm thuốc như: cuống cụm hoa, cây non, rễ và đường thốt nốt (được chế biến từ dịch chảy của cụm hoa).

Thốt nốt là cây thân cột, chia thành từng khoanh, cao tới 30m, trên ngọn có một tán lá xoè rộng. Lá có cuống dài, mặt lá màu xanh thẫm, bóng mỡ, bóng xoè ra như cái quạt, mũi lá nhọn. Cụm hoa là những bông mo, đực, cái khác gốc, hoa nở rộ về mùa xuân. Quả thốt nốt to, tròn như quả dừa, ruột bên trong có một thứ cùi trắng như cùi dừa nước, vị bùi, béo, giòn, có hương vị thơm ngon. Quả thốt nốt non ăn mát như thạch. Quả già có màu vàng, thơm như mùi mít chín, nếu giã ra sẽ được một thứ bột trắng như bột gạo nếp, đem làm bánh tôm, bánh ú, hoặc nấu chè rất ngon.

19-1-1427771462692

Đường thốt nốt.

Một số đơn thuốc sử dụng thốt nốt

Bài 1: Nhuận tràng: Sáng sớm cắt cụm hoa lấy nước chảy ra từ cụm hoa uống, có tác dụng giái khát, nhuận tràng, phòng tránh táo bón.

Bài 2: Chữa đau họng do viêm họng, phòng bệnh viêm họng: Dùng đường thốt nốt mỗi ngày dùng một miếng nhỏ nhai ngậm và nuốt, sẽ làm dịu họng, sát khuẩn và giữ cho họng, cuống phổi không bị khô rát.

Bài 3: Tác dụng lợi tiểu:

– Rễ cây thốt nốt 50g, thái khúc, cho vào ấm đổ 3 bát con nước sắc nhỏ lửa còn 1 bát nước, uống ngày một lần. Dùng liền 1 tuần.

– Dùng cây thốt nốt non, thái khúc, cho vào ấm đổ 3 bát con nước sắc nhỏ lửa còn 1 bát nước, uống ngày một lần. Dùng liền 1 tuần.

– Dùng cuống cụm hoa (vòi hoa) 100g, thái thành từng miếng mỏng, sắc với 600ml nước trong 15 phút, chia làm nhiều lần uống trong ngày, dùng liền 1 tuần.

Bài 4: Trị giun đũa: Lấy cuống cụm hoa thốt nốt nướng nóng, vắt lất nước, thêm ít đường, uống vào buổi sáng, mỗi lần khoảng 100ml, uống trong vài ngày vào buổi sáng có thể ra giun.

Theo Bác sĩ Trần Thị Hải (Theo Sức khỏe và Đời sống)

0 396
Kết quả kiểm nghiệm của cơ quan chức năng đã phát hiện thực phẩm chức năng Viên giảm cân Perfect Slim USA hạn sử dụng: 10/12/2017 do Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Khổng gia nhập khẩu có chứa chất gây nguy hại đến hệ tim mạch
Ngày 13/3, Thanh tra Bộ Y tế cho biết đã yêu cầu tạm dừng việc lưu thông lô thực phẩm chức năng (TPCN) Viên giảm cân Perfect Slim USA hạn sử dụng: 10/12/2017 do Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Khổng gia, địa chỉ: 113 Nguyễn Cư Trinh, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Tp.HCM nhập khẩu.

Theo Thanh tra Bộ, quyết định này được đưa ra do kết quả kiểm nghiệm của Viện Kiểm nghiệm ATVSTP Quốc gia ghi nhận mẫu sản phẩm TPCN Viên giảm cân Perfect Slim USA, hạn sử dụng: 10/12/2017 có chứa chất Sibutramine

Tại Việt Nam, sibutramine được chỉ định trong điều trị béo phì bao gồm giảm cân và duy trì cân nặng. Tuy nhiên, thuốc gây ra một số rối loạn, đặc biệt tác động nguy hiểm đến hệ tim mạch ở những người có nguy cơ cao. Vì thế, giữa tháng 4/2011, Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) đã có văn bản đình chỉ lưu hành và thu hồi toàn bộ thuốc chứa hoạt chất Sibutramine. Đồng thời, yêu cầu các bệnh viện, viện có sử dụng thuốc này dừng ngay việc kê đơn, sử dụng thuốc.

 Hiện Thanh tra Bộ Y tế đã yêu cầu Công ty TNHH MTV Thương mại Top queen collagen Việt Nam, Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Khổng gia tạm dừng việc lưu thông lô hàng TPCN này và thực hiện các biện pháp xử lý, bảo đảm sản phẩm được nhập khẩu, lưu thông trên thị trường đạt yêu cầu chất lượng sản phẩm theo đúng quy định của pháp luật.

Đồng thời, Thanh tra Bộ Y tế đã thông báo đến Sở Y tế Hà Nội, Sở Y tế Tp.Hồ Chí Minh và Ban quản lý TTTM HAPU Hà Nội đề nghị thực hiện kiểm tra, giám sát việc lưu hành đối với lô hàng này trên thị trường.

Thanh tra Bộ Y tế cũng cho biết, hiện Thanh tra Bộ đang phối hợp với các cơ quan chức năng, với địa phương thực hiện việc giám sát chặt chẽ, đồng thời yêu cầu Công ty TNHH MTV Thương mại Top queen collagen Việt Nam, Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Khổng gia thực hiện nghiêm việc dừng bán lô sản phẩm TPCN Viên giảm cân Perfect Slim USA ; thực hiện các biện pháp khắc phục nhằm bảo đảm ATTP cho người tiêu dùng; cơ sở chỉ được phép tiếp tục lưu thông lô sản phẩm này nếu đã thực hiện việc khắc phục đạt yêu cầu, báo cáo với Thanh tra Bộ Y tế kèm theo bằng chứng khắc phục và được Thanh tra Bộ Y tế ra thông báo hàng hóa được tiếp tục lưu thông trên thị trường.

Thanh tra Bộ cũng nhấn mạnh, đối với việc xử lý các vi phạm sẽ được tiếp tục thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Theo Thái Bình(Sức khỏe và Đời sống)

phim thuyet minh