Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Thuốc và cuộc sống

Viêm dạ dày là do niêm mạc dạ dày xuất hiện vùng tổn thương. Người bệnhcảm thấy đau cồn cào như thắt lại mỗi khi đói; đau vùng thượng vị đi kèm là cảm giác buồn nôn, chướng bụng, ợ hơi, ợ chua… Các thảo dược như chè dây, dạ cẩm, bạch truật đều có giá trị điều trị nhất định căn bệnh này.

Chè dây: Có tác dụng diệt vi trùng, vi khuẩn, giảm độ axit tại dạ dày, cắt cơn đau, thời gian cắt cơn đau trung bình của chè dây từ 8 – 15 ngày.

Theo kinh nghiệm dân gian, chè dây có giá trị về mặt dược liệu rất quý; giúp cho bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng dễ liền sẹo; giúp tiêu hóa tốt, ăn uống ngon miệng, dễ ngủ, những người bị viêm loét dạ dày – tá tràng, uống một thời gian dài thấy bệnh đỡ dần và hết đau.

Cao chè dây không gây ngộ độc cấp tính, không ảnh hưởng tới các chỉ số hóa sinh, huyết học, không ảnh hưởng đến chức năng sinh sản, không gây tương tác với các loại thuốc khi dùng trong thời gian dài. Các nghiên cứu trên lâm sàng cũng đều cho thấy chè dây không có tác dụng phụ như đầy bụng, nôn mửa hoặc khó chịu, mệt mỏi, nhức đầu hoặc các biểu hiện dị ứng.

Chè dây thường hái toàn thân cả lá vào lúc cây chưa có hoa quả, đem về rửa sạch cắt nhỏ, phơi khô, sao qua rồi hãm với nước đun sôi như pha chè uống thay nước. Phơi khô có mùi thơm nhẹ. Sau khi sao mùi thơm càng rõ hơn. Nước chè dây có vị hơi ngọt, uống rất dễ chịu…

Thảo dược trị viêm dạ dàyCây chè dây dùng tốt cho người bệnh dạ dày – tá tràng.

Chè dây thuộc tính “hàn lương” (mát lạnh). Ngày dùng 20-30g, sắc uống thay trà hàng ngày. Mỗi đợt uống liên tục từ 15-20 ngày.

Dạ cẩm: có tác dụng làm giảm đau, trung hòa axit trong dạ dày, bớt ợ chua, vết loét se lại, người bệnh có cảm giác khoan khoái, nhẹ nhàng. Ngoài ra dạ cẩm còn được dùng trị bệnh ngoài da, viêm loét miệng, nhiệt miệng.

Trong Đông y, có nhiều cách sử dụng dạ cẩm chữa đau dạ dày như dùng dạng thuốc sắc, cao dạ cẩm hay siro. Cách dùng qua nghiên cứu và ứng dụng tại bệnh viện như sau.

Dạng thuốc sắc: Lá dạ cẩm  khô 10 – 20g, sắc uống, có thể thêm đường cho dễ uống, ngày uống 2 – 3 lần, uống trong ngày. Uống trước khi ăn hay vào lúc đau.

Cao dạ cẩm: Lá dạ cẩm khô 3,5kg, đường kính 1kg, mật ong 500ml. Nấu lá dạ cẩm với nước thành cao, cho đường vào đánh tan, cô lại. Cuối cùng cho mật ong vào đóng thành chai dùng dần. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10 – 15ml, uống trước khi ăn hoặc khi đau.

Thảo dược trị viêm dạ dàyCây dạ cẩm có tác dụng giảm đau, trung hòa axit trong dạ dày.

Cốm dạ cẩm: Bột dạ cẩm 3,5kg, cam thảo 0,5kg, đường kính 1kg, tá dược vừa đủ dính (hồ, nếp) thêm đường và sacarin vừa đủ ngọt. Ngày uống 2 lần trước khi ăn hoặc khi đang đau, mỗi lần dùng 10 -15g, trẻ em dưới 18 tuổi 5 – 10g.

Bạch truật: có công dụng phòng chống và điều trị viêm loét dạ dày, giảm nhanh các cơn đau, giảm cảm giác nóng rát vùng thượng vị, trợ giúp tiêu hóa, ăn ngon miệng. Điều trị các chứng rối loạn tiêu hóa như táo bón, đi lỏng, ợ chua, ợ hơi.

Giảm lượng dịch vị dạ dày tiết ra trong khi không làm giảm lượng axit tự nhiên có trong dịch vị dạ dày. Ngoài ra nhiều nghiên cứu của y học hiện đại và y học cổ truyền cho thấy: các thành phần hóa học có trong cây bạch truật có tác dụng kháng viêm, chống phù nề, tăng cường khả năng tiết mật, thúc đẩy chức năng giải độc gan, chống viêm nhiễm.Nước sắc từ cây bạch truật có tác dụng hạ đường huyết rõ rệt, ức chế sự đông máu.

Đông y và dân gian có nhiều cách sử dụng cây bạch truật chữa bệnh đau dạ dày khác nhau. Dùng sống: sắc hoặc tán thành bột uống. Ngày uống 6-12g.

Bên cạnh việc dùng thuốc để dự phòng và điều trị bệnh viêm dạ dày trong cộng đồng, chế độ dinh dưỡng, làm việc, lối sống có vai trò rất quan trọng.

Cần thực hiện tốt chế độ dinh dưỡng phải đầy đủ và cân đối, không nên ăn/uống quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng, thức ăn nhiều chất béo. Ăn đúng bữa, đúng giờ, không ăn quá khuya. Không nhịn đói cũng không ăn vội. Hạn chế uống rượu, bỏ hút thuốc lá. Chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, không thức khuya, tránh làm việc quá sức, giảm căng thẳng lo âu để phòng ngừa và điều trị căn bệnh này.

Theo Suckhoedoisong.vn

Nấm lông nhím còn gọi là nấm sư tử, nấm hầu thủ. Chúng thường mọc trên các thân cây gỗ tán rộng bị mục nát.

Hiện nay loại nấm này được nuôi trồng nhân tạo thành công ở nước ta và các quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản. Theo y học cổ truyền Trung Quốc, nấm lông nhím được coi là nấm dược liệu, vừa là thực phẩm vừa có tác dụng chữa bệnh.

Các hợp chất trong nấm có tác dụng chống ôxy hóa, điều chỉnh nồng độ lipid máu và giảm lượng đường trong máu. Nhiều nghiên cứu cơ bản của các nhà khoa học đã chứng minh rằng nấm lông nhím có hiệu quả điều trị tốt trên bệnh Alzheimer, ngăn cản quá trình lão hoá và phục hồi các neuron thần kinh, tăng cường hệ miễn dịch, các chất chiết xuất từ nấm lông nhím có khả năng chống sự hình thành các khối u, ức chế tế bào ung thư gan, ung thư dạ dày, thực quản và ung thư da… Y học hiện đại ngày nay đã sử dụng rộng rãi nấm lông nhím để điều trị các bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa như chán ăn, rối loạn tiêu hóa, đau dạ dày, viêm loét dạ dày, hỗ trợ điều trị hiệu quả ung thư dạ dày.

Nấm lông nhím bồi bổ cơ thể, hồi phục sức khỏe.

Nấm lông nhím bồi bổ cơ thể, hồi phục sức khỏe.

Nấm lông nhím được sấy khô, dùng riêng hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Điều trị đau dạ dày mạn tính, hẹp môn vị, hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày, ung thư thực quản, ung thư ruột: Nấm lông nhím 20g, cắt lát, nấu với 2- 3 lít nước sôi, ăn cái, uống nước.

Chữa đau dạ dày – tá tràng: Nấm lông nhím 30g, sơn dược 20g, bạch truật 20g, hạt sen 15g, trần bì 15g, biển đậu 15g, ý dĩ 25g. Sắc uống.

Chữa mất ngủ, ngủ không sâu, tâm thần bất an: Nấm lông nhím 30g, bá tử nhân 15g, toan táo nhân 15g, dạ giao đằng 15g. Sắc uống.

Chữa đau dạ dày, loét dạ dày, hỗ trợ tiêu hóa, dự phòng khối u: Nấm lông nhím 10g, nấm mèo trắng 5g, sơn tra 5g, sơn dược 10g, men rượu 1g. Sắc uống.

Trị viêm loét dạ dày, ruột, tiêu hóa kém: Nấm lông nhím 10g, nấm linh chi 5g, sắc uống trong ngày.

Các bài thuốc trên dùng liền 2-3 tháng để phòng trị bệnh có hiệu quả và tăng cường sức khỏe.

Bồi bổ cơ thể, điều trị suy nhược thần kinh, hồi phục sức khỏe sau sinh: nấm lông nhím tươi 200g (khô 20g), thịt nạc, tôm 100g, dầu vừng, hành gia vị vừa đủ, nấu mềm nhừ, ăn nóng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Lòng lợn (dạ dày và ruột lợn) còn gọi trư đỗ. Lòng lợn chứa nhiều protein, lipid; vitamin B1, B2; acid nicotinic; Ca, P, Fe… Theo Đông y, lòng lợn vị ngọt, tính ôn; vào tỳ, vị, thận. Tác dụng ôn kiện tỳ vị, ích thận bổ hư.

Dùng tốt cho người gầy yếu suy nhược, sút cân, đái tháo đường, tiêu chảy, kiết lỵ, tiểu dắt, khí hư huyết trắng, di tinh, trẻ em suy dinh dưỡng… Ngày dùng 1 cái, bằng cách nấu luộc, bung hầm, om xào, hun (xông khói).

Lòng lợn hầm sa nhân chỉ xác: Dạ dày lợn 1 cái, chỉ xác 12g, sa nhân 5g. Chỉ xác, sa nhân cho vào dạ dày lợn đã làm sạch, khâu chặt, thêm nước và gia vị hầm nhừ; bỏ bã chỉ xác, sa nhân. Dùng tốt cho người bệnh dạ dày, sa tử cung, thoát vị bụng, người già yếu thoát vị cơ năng.

Lòng lợn hầm: Dạ dày lợn 1 cái làm sạch thái lát, thêm gia vị và nước hầm nhừ, ăn thường nhật, tuần ăn vài ba lần. Dùng tốt cho người bị lang ben, bạch biến, sạm da.

Canh lòng lợn (Trư đỗ canh): dạ dày lợn 1 cái (hoặc ruột lợn 1 đoạn), hoàng kỳ 15g, nhân sâm 8g, gạo tẻ 100g, hạt sen bỏ tâm 20g. Dạ dày luộc chín thái lát; các vị khác nấu nhừ, vớt bỏ bã hoàng kỳ, nhân sâm, thêm hành và gia vị. Thích hợp cho thai phụ, sản phụ, người cao tuổi suy nhược cơ thể.

Lòng lợn hầm hạt sen: Dạ dày hoặc ruột lợn 200g, hạt sen 30-50g. Lòng lợn làm sạch, cùng hạt sen hầm kỹ, ăn cả nước lẫn cái. Dùng tốt cho người viêm dạ dày, ruột mạn tính, tiểu dắt.

Lòng lợn nhồi nhân sâm: Dạ dày lợn 1 cái (hoặc một đoạn ruột lợn) làm sạch, nhân sâm 15g, bột tiêu 3g, gừng tươi 15g, hành sống 7 củ, gạo tẻ 200g. Cả 5 loại trên trộn đều cho vào dạ dày lợn khâu lại, hầm chín nhừ. Món này bồi bổ cơ thể, dùng tốt cho người bị suy kiệt, bệnh lao dài ngày.

Cháo lòng (Trư đỗ chúc): Dạ dày lợn 1 cái hoặc 1 đoạn ruột lợn làm sạch, luộc chín, thái lát. Gạo tẻ 150g vo sạch nấu cháo, cháo chín cho dạ dày hoặc ruột lợn vào hầm nhừ, thêm gia vị. Thích hợp cho người bị suy kiệt, sau thời gian bị bệnh dài ngày.

Lòng lợn dầm tương (Trư đỗ sinh phương): Dạ dày 1 cái hoặc 1 đoạn ruột lợn làm sạch luộc chín, thái lát. Dùng tỏi, dấm, bột tiêu, tương hoặc nước mắm làm nước chấm. Ăn ngày 1 lần khi đói, tuần 2-3 lần. Dùng tốt cho người cao tuổi thiểu dưỡng, phù nề hai chân.

Lòng lợn nấu thịt ếch: Dạ dày lợn 1 cái hoặc 1 đoạn ruột lợn làm sạch thái lát, ếch 1 con làm sạch, bỏ da ruột, thái lát, thêm gia vị (nhưng không cho muối mắm). Tất cả nấu chín nhừ, ăn cả cái hoặc gắp bỏ thịt ếch. Thích hợp cho bệnh nhân phù nề cổ trướng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Mùa hè với nắng nóng cơ thể ra mồ hôi, bài tiết theo muối và điện giải, nếu không được bổ sung thích hợp cơ thể sẽ mất nước và điện giải. Để khắc phục tình trạng đó, chúng ta nên biết cách chọn lựa thực phẩm phù hợp trong chế biến bữa ăn ngày hè nhằm cung cấp dinh dưỡng và có công dụng thanh nhiệt cho cơ thể.

Ăn rau diếp cá

Rau diếp cá chứa hàm lượng chất xơ thực vật cao, có lợi cho hệ tiêu hóa, có thể trị bệnh táo bón. Đây cũng là thực phẩm tốt cho người bị thiếu máu. Rau diếp cá còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu đờm, nên thích hợp sử dụng trong ngày hè.

Rau mồng tơi

Rau mồng tơi có vị ngọt, nhạt, nhớt, tính mát. Với dược năng là lưu thông huyết mạch, lợi tiểu, nhuận trường. Công hiệu giúp mát máu, điều hòa khí huyết, thanh lọc dạ dày và ruột, trị táo bón, chống tích tụ, trị đau mắt, sưng đau vú, huyết vận và huyết tụ. Được dùng để luộc hay nấu canh ăn rất ngon. Thường dùng trị liệu các chứng như huyết vận hay huyết tụ, dùng mồng tơi tía giã nát, pha giấm thanh, đắp lên chỗ huyết vận, huyết tụ (ma cắn). Để trị táo bón: tối trước khi đi ngủ, ăn một đĩa rau mồng tơi luộc.

Rau dền

Rau dền có vị ngọt, thơm, tính mát. Với dược năng thanh nhiệt, lọc máu, lợi tiểu, an thần. Trị nhức đầu, hạ nhiệt, giúp tiêu hóa, lưu thông khí huyết, trừ nhọt lở. Đặc biệt trị sung huyết, ứ huyết và tăng huyết áp. Được dùng luộc hay nấu canh ăn hằng ngày. Có thể phơi khô, nấu nước uống.

Rau má

Rau má có vị thơm, đắng, không độc, tính mát. Với dược năng cầm máu, giải nhiệt, sát khuẩn, lợi tiểu. Trị sốt rét nóng nhiều, máu cam, thổ huyết, khí hư, huyết bạch, tả lỵ. Giúp sáng mắt, trị các chứng nhọt độc, sang lở, hốt hoảng, gan nhiệt. Trị phụ nữ đau bụng máu. Bổ gan, điều hòa tạng phủ. Có thể giã sống, pha đường uống mỗi lần 40 – 50g hay luộc ăn hoặc phơi khô  nấu nước uống, mỗi lần 20g.

Mướp đắng

Vị đắng, tính hàn, có tác dụng sáng mắt, trừ khát, giải nhiệt, bổ khí, hoạt huyết. Mướp đắng dùng làm thức ăn mùa hè rất phù hợp, thường xào với thịt bò, nấu canh xương, nhồi thịt hấp, có khi đun nước tắm cho trẻ lặn rôm, sắc nước uống (thái nhỏ phơi khô dùng dần).

Bí, bầu: Cũng là món ăn rất tốt trong mùa nóng bởi nó tính mát, giúp thanh nhiệt, giảm tác hại của nắng nóng. Có thể dùng nấu canh hoặc ép lấy nước uống. Bầu chứa vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải khát. Canh bầu nấu với tôm là một món ăn dân dã nhưng lại có công dụng giải nhiệt và bồi bổ rất tốt.

Rau muống: Theo y học hiện đại, ăn rau muống giúp ức chế sự hoạt động của các vi khuẩn gây bệnh, ngăn ngừa nhiễm trùng, viêm nhiễm, mát máu, giải nhiệt ở miệng và phòng ngừa bệnh tiêu chảy. Một đĩa rau muống luộc, bát nước rau được vắt thêm chanh hay dầm vài quả sấu là món ăn rất tốt cho sức khoẻ trong những ngày hè oi bức.

Dưa chuột: Vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu, được dùng rất phổ biến trong mùa hè dưới dạng ăn sống, làm nộm, chế biến thành dưa muối cả quả. Dưa chuột còn có thể xào với một số loại thịt thành những món ăn khá hấp dẫn.

Cà chua

Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, cân bằng gan, chống nóng. Ngoài ra, Cà chua có nhiều vitamin, chất khoáng và vi khoáng dễ hấp thu, giúp cho cơ thể tăng cường khả năng miễn dịch, phòng chống nhiễm trùng, chống oxy hóa mạnh, chế độ ăn tăng cường cà chua đã góp phần làm chậm quá trình lão hoá và làm giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại tràng, ung thư vòm họng….

Theo Suckhoedoisong.vn

Suckhoedoisong.vn – Ở nước ta, tỏi được trồng nhiều nơi nhưng nổi bật là giống tỏi củ nhỏ ở miền Bắc và tỏi củ lớn ở miền Nam.

Tỏi là loại gia vị không thể thiếu khi chế biến món ăn, người Việt còn có thói quen sử dụng tỏi như một loại thuốc để chữa trị và phòng bệnh.

Tỏi còn có tên đại toán, toán đầu, hồ toán… Tên khoa học: Allium sativum L., họ Hành (Alliaceae). Tỏi có allicin, allistatin, allithiaminee, citral, arylcamphol, protein, lipid, carbohydrate; các sinh tố B1, B2, C, PP và các khoáng chất Ca, P, Fe. Tỏi đen là sản phẩm lên men và làm chín sinh học từ tỏi tươi trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát chặt chẽ trong khoảng thời gian 40-60 ngày. Tỏi đen ăn dai mềm, có vị ngọt thanh, thơm dịu đặc trưng. Các chất chống oxy hóa trong tỏi đen cao hơn nhiều so với tỏi tươi nên tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chống đông máu và ngăn xơ cứng động mạch, trợ tim, lợi niệu, hạ mỡ máu, giải độc cũng mạnh hơn.

Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ôn; vào tỳ, vị và phế. Tác dụng điều vị, khai trợ tiêu hóa, giải uất tiêu tích (ôn trung hành trệ), chỉ khái trừ đàm, sát trùng giải độc. Trị đau quặn bụng do lạnh, ăn uống không tiêu, kiết lỵ tiêu chảy, ho gà, tắc ruột cơ năng, tăng huyết áp, mỡ máu cao, côn trùng cắn đốt. Tỏi đen là thực phẩm chức năng hỗ trợ kháng khuẩn, chống viêm, chống đông máu và ngăn xơ cứng động mạch, trợ tim, lợi niệu, hạ mỡ máu và giải độc. Liều dùng: Tỏi tươi: 5-20g mỗi ngày; tỏi đen 1-3 củ mỗi ngày.

Tỏi đen tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, ngăn xơ cứng động mạch, trợ tim, lợi niệu, hạ mỡ máu, giải độc,… mạnh hơn tỏi tươi.

Một số bài thuốc có tỏi

Giải độc, tiêu nhọt:

Bài 1 – Cao tỏi: tỏi lượng vừa phải, giã nát, thêm ít dầu vừng hay dầu thực vật, trộn đều, đắp dày lên chỗ nhọt, thay thường xuyên. Trị nhọt độc sưng đau.

Bài 2: tỏi 4-12g, sơn đậu căn 4-12g. Sắc uống. Dùng ngoài, lấy tỏi giã nát đắp vào chỗ đau. Trị rắn độc hay rết cắn.

Bài 3: tỏi đun lấy nước uống trị ngộ độc cua cá.

Trừ đờm, trị ho; Trị lao phổi, ho gà:

Bài 1 – Thuốc sắc tỏi bách bộ: tỏi vỏ tím 60g, bách bộ 60g, tử uyển 60g. Giã nát, ép nước tỏi để riêng bảo quản lạnh. Bã tỏi và tử uyển, bách bộ sắc lấy nước, thêm đường phèn cô đặc thành siro, cho nước ép tỏi vào khuấy đều uống. Trị ho gà.

Bài 2 – Nước sắc tỏi: tỏi 13 tép, bột bạch cập 4g, gạo nếp 60g. Đun tỏi chín tái, vớt ra, cho gạo nếp vào nấu cháo; cho tỏi và bột bạch cập vào, khuấy đều. Ăn ngày 1 lần, dùng liền trong nửa tháng. Nghỉ 10 ngày sau làm tiếp 1-2 đợt nữa. Trị lao phổi.

Trị giun khỏi ngứa:

Bài 1: tỏi 200g bóc vỏ giã nát, thêm 2.000ml nước, ngâm 24 giờ, gạn lấy nước rửa hậu môn buổi tối trước khi đi ngủ, để riêng 10-20ml nước để thụt vào trong. Làm liên tục trong 7 ngày. Trị giun kim.

Bài 2: tỏi lượng vừa đủ giã nát, thêm nước rồi lọc, thấm vào vải gạc nhét vào âm đạo, lượng nước còn lại rửa, đắp quanh âm đạo và hậu môn. Trị viêm âm đạo do trùng roi.

Bài 3: ăn tỏi sống hoặc lấy nước ngâm tỏi 5% thụt vào hậu mộn. Trị lỵ amip.

Lợi niệu, tiêu sưng: Dùng khi thủy thũng, tiểu tiện khó khăn.

Tỏi, ốc vườn, xa tiền thảo, giã nát, đắp vào rốn. Trị thủy thũng bụng trướng, tiểu tiện khó.

Tỏi đen dùng 1-3 củ mỗi ngày. Tác dụng hỗ trợ chống đông máu và ngăn xơ cứng động mạch, trợ tim, lợi niệu, hạ mỡ máu và giải độc.

Cá mực hấp tỏi tốt cho người bị phù do suy dinh dưỡng, phù do xơ gan cổ trướng, viêm thận.

Món ăn thuốc có tỏi

Cháo tỏi: tỏi 30g, gạo tẻ 80g vo sạch. Tỏi bóc vỏ, cho vào nước sôi đảo qua trong khoảng 1 phút, vớt ra. Gạo tẻ nấu cháo, khi nước sôi cho tỏi vào cùng nấu chín nhừ, ăn nóng sáng và tối. Dùng tốt cho bệnh nhân có hội chứng lỵ cấp.

Tỏi hấp cá mực: cá mực tươi 300g, tỏi 100g. Cá mực làm sạch thái lát; tỏi bóc vỏ, giã vụn, thêm dấm ăn, không cho muối và gia vị, hấp cách thủy; chia ăn 2 lần trong ngày. Dùng tốt cho người bị phù do suy dinh dưỡng, phù do xơ gan cổ trướng, viêm thận.

Tỏi xào bún thịt lợn: tỏi 10 củ, thịt lợn nạc ba chỉ 100g, bún hoặc mì sợi 200g. Tỏi bóc bỏ vỏ giã nát, thịt lợn thái lát. Thịt xào chín, cho bún vào đảo đều thêm gia vị, cho tỏi vào sau cùng, đảo nhanh tay và tắt bếp. Ăn nóng. Dùng tốt cho người bị viêm khí phế quản ho dài ngày.

Tỏi ngâm dấm: tỏi già bóc bỏ vỏ, để nguyên hoặc nghiền nát ngâm với dấm, đậy nắp kín để hàng năm. Dùng tốt cho người đau quặn vùng bụng ngực do lạnh, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch.

Lưu ý: Tỏi ngâm dấm, tỏi ngâm rượu chữa nhiều chứng bệnh (ngâm để hàng năm, còn chôn xuống đất, hoặc đặt trong hầm sâu.

Rau sam tỏi dấm: tỏi 1-2 củ, rau sam 100g, dấm ăn 10ml, muối ăn 3g. Tỏi bóc vỏ, giã nát trộn với dấm và muối, khuấy đều thêm chút gia vị khác phù hợp (tương ớt…). Rau sam rửa sạch nhúng qua nước sôi, chấm với tỏi dấm ăn. Ngày 1 lần, liên tục 5-6 ngày. Dùng tốt cho người mụn nhọt chốc lở; đặc biệt là mụn nhọt mưng mủ có ngòi thường gặp ở người lớn, người đái tháo đường.

Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng hoặc có viêm tấy ở mắt, miệng lưỡi, răng cần thận trọng.

Theo suckhoedoisong.vn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người bệnh được xác định dương tính với nCoV sẽ được điều trị miễn phí. Mọi chi phí nằm viện, thuốc điều trị, chi phí xét nghiệm người bệnh dương tính với nCoV đều được miễn phí.
Trả lời về vấn đề chi phí điều trị cho bệnh nhân nhiễm nCoV và bệnh nhân nghi nhiễm phải giám sát, ông Nguyễn Nam Liên, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính (Bộ Y tế) cho biết, theo luật, người bệnh được xác định dương tính với nCoV sẽ được điều trị miễn phí. Mọi chi phí nằm viện, thuốc điều trị, chi phí xét nghiệm người bệnh dương tính với nCoV đều được miễn phí.

Trong khi đó, với những bệnh nhân ở diện nghi ngờ nhiễm bệnh, cần cách ly, giám sát, khi kết quả xét nghiệm là âm tính sẽ thanh toán theo quy định của bảo hiểm y tế (BHYT). Còn trường hợp bệnh nhân dương tính sẽ được miễn phí toàn bộ theo quy định.

Ông Nguyễn Nam Liên cũng cho biết Bộ Y tế đang làm việc với Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam để hoàn thiện hướng dẫn về chi phí dành cho bệnh nhân đã có kết quả dương tính với nCoV.

Về vấn đề này, theo ông Lê Văn Phúc, Trưởng ban Thực hiện Chính sách BHYT của BHXH Việt Nam cho biết, quỹ BHYT sẽ thanh toán chi phí cho những người đi khám khi có triệu chứng nghi ngờ như sốt, ho, khó thở và xét nghiệm chẩn đoán bệnh trong trường hợp âm tính với nCoV. Nếu có kết quả dương tính và cần điều trị tiếp, toàn bộ chi phí điều trị và xét nghiệm cũng do ngân sách nhà nước chi trả.

BHXH đang làm việc với Bộ Y tế để thống nhất thêm về một số vấn đề khác, ví dụ việc chi trả cho các bệnh lý nền của người bệnh hoặc các vấn đề khác phát sinh trong quá trình điều trị.

Trước đó, liên quan đến thanh toán chi phí điều trị với trường hợp nghi nhiễm nCoV, BHXH Việt Nam dã có Công văn số 280/BHXH-CSYT gửi BHXH các tỉnh, thành phố; BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân (gọi chung là BHXH các tỉnh) về việc phối hợp thực hiện thanh toán chi phí điều trị với trường hợp nghi ngờ nhiễm nCoV.

Công văn nêu, ngày 28/01/2020 Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 05/CT-TTg về việc phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra, đồng thời ngày 31/01/2020 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có tuyên bố về tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu.

Khu vực cách ly đặc biệt của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đang theo dõi, cách ly các trường hợp có tiếp xúc gần với người dương tính với nCoV.

Để chủ động phòng chống dịch nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân, hạn chế thấp nhất mức tử vong do nCoV gây ra, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh thực hiện một số nội dung như chủ động phối hợp với Sở Y tế và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người bệnh có thẻ BHYT được kịp thời khám chữa bệnh hoặc chuyển tuyến khám chữa bệnh BHYT khi nghi ngờ nhiễm nCoV.

BHXH các tỉnh thực hiện việc giám định và thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo đúng quy định của Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn hiện hành.

BHXH Việt Nam cũng yêu cầu BHXH các tỉnh thực hiện ngay việc tạm ứng kinh phí cho các cơ sở khám chữa bệnh để đảm bảo hoạt động khám chữa bệnh BHYT trên cơ sở nguồn kinh phí khám chữa bệnh BHYT của quý 1/2020 đã được BHXH Việt Nam cấp đầy đủ, đặc biệt là BHXH các tỉnh có người bệnh được phát hiện nhiễm hoặc nghi ngờ nhiễm nCoV như: TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Khánh Hòa…

Cũng theo yêu cầu của BHXH Việt Nam, BHXH các địa phương kịp thời báo cáo BHXH Việt Nam những khó khăn vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện để có hướng chỉ đạo, giải quyết phục vụ công tác phòng chống dịch

Theo Suckhoedoisong.vn

phunuonline.vn – Oseltamivir tôi còn được biết đến với cái tên khá quen thuộc trong mùa cúm này, đó là tamiflu, loại thuốc mà mọi người đang đề cập tới rất nhiều khi dịch cúm đang hành hoành.

Là một loại thuốc chống virus, oseltamivir có tác dụng ức chế enzym có vai trò thiết yếu giải phóng các hạt virus cúm type A và type B mới được hình thành trong tế bào bị nhiễm và làm virus lan truyền khắp cơ thể.

Các bạn cần lưu ý, oseltamivir chỉ nên dùng trong các trường hợp: Điều trị cúm typ A và B ở trẻ em từ 1 tuổi trở lên và cho người lớn, đã có triệu chứng điển hình của cúm không quá 48 giờ (2 ngày), trong thời gian có cúm virus lưu hành. Chỉ định được khuyến cáo đặc biệt đối với người có nguy cơ cao (người trên 65 tuổi hoặc có 1 trong những bệnh sau: Bệnh hô hấp mạn kể cả bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh tim – mạch nặng trừ bệnh tăng huyết áp, bệnh thận mạn, suy giảm miễn dịch, đái tháo đường) và dự phòng cúm (trong vòng 48 giờ sau phơi nhiễm và trong thời gian có dịch cúm) cho người lớn và trẻ em từ 13 tuổi trở lên, đặc biệt đối với người có nhiều nguy cơ (chưa được bảo vệ hữu hiệu bằng vắc-xin cúm, nhân viên y tế chăm sóc trực tiếp người bệnh và có thể bắt đầu dùng oseltamivir trong vòng 48 giờ sau phơi nhiễm). Việc dùng thuốc cần do bác sĩ chỉ định.

Các triệu chứng của bệnh cúm.

Nhiều người nghe thấy có tác dụng chống cúm của oseltamivir tôi, nên đã mua thuốc về uống phòng và rất nhiều người bệnh sợ biến chứng của cúm cũng đã tự ý tìm đến với oseltamivir tôi mà không có chỉ dẫn của thầy thuốc, dẫn tới tình trạng dùng thuốc khi chưa cần thiết gây tốn kém và nếu không may còn gặp bất lợi không mong muốn gây hại cho người dùng.

Một số bất lợi thường gặp như: buồn nôn, nôn, đau bụng, khó tiêu, tiêu chảy hay nhức đầu, mệt mỏi, mất ngủ, chóng mặt… hoặc nặng hơn có thể gây viêm gan, thận cấp; ảnh hưởng đến máu làm giảm bạch cầu, tiểu  cầu. Như vậy là lợi bất cập hại…

Với những trường hợp được bác sĩ chỉ định dùng oseltamivir, người bệnh cần chú ý về cách uống thuốc sao cho đạt hiệu quả cao nhất: Đối với dạng thuốc viên nên uống với nhiều nước; phải uống đủ liều và đủ thời gian quy định ngay cả khi các triệu chứng đã thuyên giảm; phân khoảng cách giữa các liều uống phải đều nhau trong ngày để duy trì nồng độ thuốc trong máu ổn định. Trẻ em dưới 12 tuổi nên dùng thuốc dạng nước và phải dùng thìa hoặc dụng cụ đong bán kèm thuốc để đong thuốc nước cho đúng liều lượng.

DS. Lê Thị Thiện

Theo suckhoedoisong.vn

Ngày 19/12/2019, Báo Sức khỏe Đời sống phối hợp cùng BV Chợ Rẫy tổ chức chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe “Tăng cường hệ tiêu hóa, cốt lõi phòng chống dịch bệnh” tại BV Chợ Rẫy, với sự tham gia của các bác sĩ BV Chợ Rẫy, BS. CKII Hồ Tấn Phát, Trưởng khoa Nội Tiêu hóa và TS. BS. Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng.

Mỗi ngày, BV Chợ Rẫy tiếp nhận khám và điều trị cho hàng ngàn lượt bệnh nhân. Theo các chuyên gia, bên cạnh các nguyên nhân do bẩm sinh, di truyền, chúng ta nhận thấy phần lớn các bệnh từ chế độ dinh dưỡng, đặc biệt là các bệnh mạn tính không lây nhiễm. Bên cạnh đó, tại Việt Nam, các bệnh về tiêu hóa vẫn đứng hàng đầu ở tỷ lệ người mắc bệnh, nhất là các bệnh loét đường tiêu hóa chiếm hơn 50% trong cộng đồng.

Một hệ tiêu hóa bị tổn thương sẽ khởi đầu cho sức khỏe toàn thân bị suy yếu vì không được cung cấp đủ các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất để hoạt động (Ảnh minh họa)

Một hệ thống tiêu hóa tốt đóng một vai trò cốt lõi trong sức khỏe toàn thân. Hệ thống tiêu hóa không chỉ là cơ quan chính của cơ thể đối với việc tiếp nhận và hấp thu chất dinh dưỡng. Hệ thống các cơ quan tiêu hóa quan trọng này cũng hoạt động như một loại tổng đài hoặc trung tâm liên lạc với não bộ là một trong những tuyến đầu của cơ thể trong cuộc chiến chống lại bệnh tật.

Tiêu hóa cung cấp các chất dinh dưỡng như protein, chất béo, carbohydrate, vitamin và khoáng chất, nước từ thức ăn và đồ uống để cơ thể bạn hấp thụ và sử dụng cho năng lượng, tăng trưởng và sửa chữa tế bào.

Thỉnh thoảng, mọi người ở mọi lứa tuổi đều gặp phải các vấn đề về tiêu hóa, nhưng khi chúng ta già đi, những phiền toái như táo bón, tiêu chảy và khí gas gây đầy bụng… có thể ngày càng trở nên phổ biến. Các khía cạnh của sức khỏe thể chất của chúng ta thay đổi tự nhiên theo tuổi tác, nhưng chế độ ăn uống kém, sử dụng quá nhiều thực phẩm không đảm bảo chất lượng, uống nước không đúng cách… sẽ góp phần làm giảm men tiêu hóa và hệ vi sinh vật đường tiêu hóa mất cân bằng, dẫn đến sự tàn phá cả hệ thống tiêu hóa và miễn dịch của chúng ta.

Những gì chúng ta ăn và uống, cách chúng ta ăn, chất lượng từng loại thực phẩm, đặc biệt là chất lượng nước, cũng có thể làm suy giảm sức khỏe tiêu hóa (Ảnh minh họa)

Hiện nay ở Việt Nam, theo BS. CKII Hồ Tấn Phát, bệnh nhân đến khám và điều trị các bệnh về lý đường tiêu hóa tăng 20% mỗi năm. Tại nhiều hội thảo khoa học chuyên đề liên quan đến tiêu hóa, các chuyên gia khuyến cáo, 10% dân số Việt Nam mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa.

Các bệnh thường gặp của hệ tiêu hóa: Ợ nóng, còn được gọi là bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD); viêm loét dạ dày; sỏi mật; táo bón; tiêu chảy…

Theo các chuyên gia y tế, rất nhiều nguyên nhân có thể gây nguy hại cho chức năng tiêu hoá. Ở một số người, có thể vấn đề là do di truyền. Ở những người khác, có thể xảy ra tình trạng hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công “nhầm” vào chính hệ thống tiêu hóa, gây ra các “thảm hoạ” tiêu hóa của cơ thể. Những gì chúng ta ăn và uống, cách chúng ta ăn, chất lượng từng loại thực phẩm, đặc biệt là chất lượng nước, cũng có thể làm suy giảm sức khỏe tiêu hóa.

Báo Sức khỏe & Đời sống hy vọng từ chương trình giáo dục truyền thông sức khỏe “Tăng cường hệ tiêu hóa, cốt lõi phòng chống dịch bệnh”, các bác sĩ nội tiêu hóa cũng như dinh dưỡng sẽ chia sẻ các phương cách chăm sóc sức khỏe đường tiêu hóa, như một cốt lõi để phòng chống bệnh tật, đặc biệt bằng chế độ dinh dưỡng, ngay từ những chuyện nhỏ nhất như uống nước ngày mấy cốc, uống loại nước nào…

Hãy gọi theo số 0909 928 335 hoặc email: suckhoecongdongskds@gmail.com để đăng ký tham gia chương trình. 200 vị khách tham gia đầu tiên sẽ được nhận nhiều phần quà có giá trị lên đến 2 triệu đồng.

Báo Sức khỏe và Đời sống trân trọng cảm ơn BS. CKII Hồ Tấn Phát, Trưởng khoa Nội Tiêu hóa và TS. BS. Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng đã nhận lời tham gia chương trình.

Trân trọng cảm ơn sự đồng hành của thiết bị lọc nước điện giải ion kiềm Panasonic, Nhật Bản.

Theo Suckhoedoisong.vn

Thời tiết lạnh đột ngột làm cho các bệnh về hô hấp ở người già, trẻ em gia tăng. Những bệnh nhân bị hen sẽ tái phát và trở nặng hơn.

Để bảo vệ sức khỏe trong mùa đông việc giữ ấm cơ thể là vô cùng cần thiết. Dưới đây là  lời khuyên hữu ích không chỉ với những người đang mắc bệnh mà cả những người có sức khỏe bình thường để vượt qua mùa đông lạnh giá.

Mặc quần áo đủ ấm

Đây là biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất để giữ ấm cơ thể. Tuy nhiên không nên mặc quần áo dày, mà nên mặc quần áo mỏng, nhiều lớp, để gió lạnh không thể luồn vào cơ thể. Đối với trẻ em, mặc quần áo nhiều lớp còn có tác dụng để có thể cởi cho trẻ khi toát mồ hôi do chơi đùa, hoặc nằm ngủ. Mồ hôi của trẻ nếu không kịp lau có thể thấm ngược trở lại cơ thể gây các bệnh đường hô hấp.

Nguyên tắc đầu tiên để ngừa bệnh hô hấp là giữ ấm vùng mũi – cổ – ngực. Khi ở trong nhà cũng nên mặc áo chống rét, chọn loại áo cao cổ, choàng khăn. Nên trang bị dụng cụ sưởi hoặc lò sưởi làm ấm không khí và đóng cửa để tránh gió lùa vào nhà. Khi ra đường phải mang khẩu trang để tránh hít phải khí lạnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến tai, mũi, họng và đường hô hấp. Đặc biệt lưu ý không được mặc phong phanh khi trời lạnh bởi điều này có thể khiến bạn dễ viêm phổi và đột quỵ.

5-cach-giu-am-co-the-de-tranh-benh-khi-vao-dong-1Mặc ấm là biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất để giữ ấm cơ thể.

Ăn đủ chất

Ăn đủ các chất đường, protein, đặc biệt là mỡ giúp cho cơ thể có cơ chất để sinh năng lượng chống rét. Nên ăn thức ăn nấu chín kỹ, mềm, dễ tiêu, số lượng ít nhưng chất lượng phải đảm bảo như súp, cháo thịt, các món hầm… Chia thành nhiều bữa nhỏ. Buổi sáng và trưa nên ăn thức ăn giàu calori và bữa tối ăn nhẹ nhàng hơn kèm theo chút hoa quả. Tránh ăn quá no, uống quá nhiều vào bữa tối vì có thể gây mất ngủ do đầy bụng trướng hơi và đi tiểu nhiều.

Bên cạnh đó, cần dùng những thức ăn nóng ấm, rắc thêm ít tiêu sẽ giúp làm ấm vùng phổi. Tăng cường các loại trái cây có tác dụng giữ ấm phổi, tốt cho hệ hô hấp như nhãn, xoài, ổi… Uống trà vào mỗi buổi sáng cũng là thói quen tốt giúp hệ hô hấp khỏe mạnh hơn.

Ngâm chân bằng nước ấm

Mùa đông, thời tiết lạnh khiến các mạch máu dưới da co lại, máu lưu thông chậm… Một trong những bộ phận trên cơ thể nhạy cảm với lạnh chính là bàn chân. Vì thế, ngoài việc giữ ấm cơ thể cần phải đặc biệt chú ý chăm sóc và giữ ấm đôi bàn chân. Giữ cho đôi chân khỏe mạnh chính là cách để bảo vệ sức khỏe trong mùa đông. Mỗi tối trước khi đi ngủ, nên ngâm chân vào chậu nước ấm cho chút muối ăn khoảng 10-15 phút. Nếu có điều kiện có thể dùng nước ấm pha chút tinh dầu bạc hà, hoắc hương hoặc nấu nước lá chanh, lá bạch đàn,… Ngâm chân bằng nước ấm sẽ giúp “sưởi ấm” cho cả chân và cơ thể, giúp có giấc ngủ ngon.

Chú ý, khi đi ra ngoài lạnh về, không nên hơ ngay bàn chân gần bếp lửa, lò sưởi dù là sưởi điện, không dùng túi chườm nóng, kể cả chăn sưởi ấm quá nóng. Dùng bít tất ngắn có chất liệu sợi bông, len. Nên đi giầy đế dày và có tấm lót. Nên thường xuyên thay tất, giữ vệ sinh cho đôi chân.

Không tắm lâu và hạn chế tập thể dục sáng sớm hoặc tối muộn

Tắm quá lâu, tắm nước lạnh khi nhiệt độ ngoài trời hạ thấp vô cùng nguy hiểm, thậm chí dẫn tới tử vong. Vì thế, cần tăng nhiệt độ nước tắm, tắm trong phòng kín gió và tuyệt đối không tắm quá lâu. Nếu nhiệt độ ngoài trời quá thấp, nên hạn chế tắm nhiều, chỉ cần vệ sinh bằng khăn ẩm và tắm 2 ngày 1 lần là đủ.

Không nên ngồi ì một chỗ vì thời tiết lạnh mà nên thường xuyên vận động. Buổi sáng và buổi tối, có thể tập thể dục, đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày. Đi bộ cũng là cách tốt nhất để cải thiện lưu thông máu cho bàn chân. Việc đặt áp lực lên đôi chân khi đi bộ đã là một động tác để dồn lưu lượng máu trong các tĩnh mạch lên đôi chân. Trong khi ngồi làm việc hoặc xem tivi, có thể gập các ngón chân lại và duỗi các ngón chân ra. Cứ lặp lại động tác này khi có thể hoặc làm ít nhất 10 phút mỗi ngày sẽ giúp chân khỏe mạnh và giảm đau. Tuy nhiên đặc biệt lưu ý, nhiệt độ ngoài trời lúc sáng sớm hoặc tối muộn thường rất lạnh và có những cơn gió mạnh, gió độc. Ra ngoài trong khoảng thời gian này sẽ khiến cơ thể bị nhiễm lạnh, dễ dẫn tới cảm lạnh, ảnh hưởng tới hệ thần kinh, có thể gây méo miệng. Thậm chí, một số người có sức đề kháng quá yếu, trẻ em hoặc người lớn tuổi ra khỏi nhà trong điều kiện nhiệt độ như vậy tiềm ẩn nguy cơ đe dọa tính mạng. Chính vì vậy, thời gian tập thể dục buổi sáng sẽ muộn hơn và buổi chiều phải sớm hơn các mùa trong năm.

Tránh xa rượu, bia

Nhiều người cho rằng thời tiết lạnh, uống rượu sẽ làm ấm người. Tuy nhiên uống quá nhiều rượu lại gây ra những tác hại khôn lường với sức khỏe. Uống rượu, nhất là uống say trong thời tiết lạnh rất nguy hiểm dễ bị đột quỵ. Nhiều trường hợp đã tử vong do uống rượu. Khi uống rượu, các mạch máu giãn ra, khi gặp trời lạnh, mạch đột ngột co lại, huyết áp dễ tăng lên gây tai biến và dẫn đến tử vong. Cách tốt nhất là không uống rượu, nếu phải uống và uống quá say không nên ra ngoài trời lạnh ngay.

Theo Suckhoedoisong.vn

Chăm sóc sức khỏe của người mẹ khi mang thai có liên quan mật thiết đến sức khỏe của thai nhi.

Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy suy dinh dưỡng bào thai là yếu tố góp phần làm tăng các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận và bệnh tim mạch khi trẻ trưởng thành. Người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống không hợp lý là nguyên nhân của suy dinh dưỡng bào thai (trẻ đẻ ra có cân nặng < 2.500g).

Theo kết quả điều tra toàn quốc năm 2015 cho thấy 32,8% phụ nữ có thai (PNCT), 25,5% phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ), 27,8% trẻ em (TE) dưới 5 tuổi bị thiếu máu. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở te dưới 24 tháng tuổi (42.7- 45%). PNTSĐ khu vực miền núi có tỷ lệ thiếu máu cao nhất (27.9%), khu vực nông thôn  và thành phố có thiếu máu thấp hơn với tỷ lệ tương ứng là 26.3 và 20.8%. Thiếu máu do thiếu sắt chiếm tỷ lệ 63,6 % TE; 54,3% PNCT và 37,7% PNTSĐ các trường hợp thiếu máu. Thiếu sắt chiếm tỷ lệ 50,3% TE; 47,3% PNCT và 23,6% PNTSĐ.

Phụ nữ dễ bị thiếu máu thiếu sắt hơn nam giới vì dự trữ sắt của họ thấp do mất máu trong các kỳ kinh nguyệt. Khi có thai, dự trữ sắt trong cơ thể phụ nữ không đáp ứng đủ việc tạo hồng cầu, do sự tăng thể tích máu ngày càng nhiều để nuôi thai nhi. Bệnh thiếu máu ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cả mẹ lẫn con.Người mẹ thiếu máu thường mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, khi đẻ có nhiều rủi ro, tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn so với bà mẹ bình thường.Người ta đã coi thiếu máu là một yếu tố nguy cơ trong sản khoa.

Đối với thai nhi, thiếu máu thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên lượng sắt dự trữ của cơ thể trẻ thấp. Khi mang thai tổng lượng sắt cần > 1.000mg hay nhu cầu sắt hàng ngày là 59,2mg sắt nguyên tố (so với 39,2mg/ngày ở phụ nữ không có thai).

phu-nu-co-thai-nen-yeu-sat-acid-folic-1Cần phải bổ sung sắt, acid folic bằng đường uống

Ở nước ta, những kiến thức về chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi mang thai đã được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều phụ nữ không được tiếp cận đầy đủ những thông tin về dinh dưỡng hợp lý để chuẩn bị cho việc đón đứa con chào đời thông minh và khỏe mạnh. Theo kết quả của một số nghiên cứu, để hỗ trợ thai nhi phát triển tối ưu, các vi chất dinh dưỡng như sắt, acid folic, kẽm, canxi… và các vitamin đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đây là vấn đề đang được quan tâm ở Việt Nam, vì tình trạng thiếu vi chất ở bà mẹ mang thai chưa được quan tâm đầy đủ. Bổ sung sắt, acid folic đầy đủ sẽ giúp cải thiện sức khỏe bà mẹ và thai nhi.

Sắt trong cơ thể có vai trò rất quan trọng vì đây là yếu tố cần thiết để tạo hồng cầu.Sắt có nhiệm vụ vận chuyển oxy và CO2 trong quá trình hô hấp, có vai trò quan trọng trong sự phát triển trí não ở trẻ nhỏ.Sắt còn giúp bảo vệ cơ thể không bị nhiễm khuẩn vì sắt tham gia vào thành phần của một enzym trong hệ miễn dịch, sắt giúp biến đổi betacaroten thành vitamin A, giúp tạo collagen (giúp gắn kết các mô cơ thể).Nếu sắt không được cung cấp đủ sẽ đưa đến thiếu máu thiếu sắt. Lượng sắt ở trẻ sơ sinh là 250mg, ở trẻ 1 tuổi khoảng 420mg và ở người trưởng thành khoảng 3.500mg – 4.000mg.

Acid folic (hay còn gọi là folat, vitamin B9) rất cần thiết cho sự phát triển, phân chia tế bào và cho sự hình thành tế bào máu.Nhu cầu acid folic trung bình ở người trưởng thành 400µg/ngày. Nhu cầu này tăng lên trong thời kỳ mang thai (600µg/ ngày) để đáp ứng cho sự phân chia tế bào cũng như sự tăng kích thước của tử cung.

Acid folic rất cần cho quá trình tổng hợp nhân tế bào acid deoxyribo nucleic (AND), acid ribo nucleic (ARN) và protein; cho sự hình thành nhau thai; sự tăng trưởng của bào thai. Do số lượng tế bào hồng cầu gia tăng theo sự gia tăng của khối lượng máu và do tăng thải folate qua nước tiểu trong khi mang thai, nên phụ nữ mang thai thường hay thiếu acid folic. Sự thiếu hụt này sẽ làm thiếu máu hồng cầu; nguy cơ sẩy thai cao; sinh non, sinh con nhẹ cân.

Đặc biệt, việc thiếu acid folic có thể gây khuyết tật ống thần kinh của thai nhi, gây nứt đốt sống và não úng thủy (não có nước). Nứt đốt sống là một khuyết tật, trong đó một bộ phận của một hay nhiều đốt sống không phát triển trọn vẹn, làm cho một đoạn tủy sống bị lộ ra.Nứt đốt sống có thể xảy ra ở bất cứ đốt sống nào nhưng thường gặp ở dưới thắt lưng và mức độ nghiêm trọng tùy vào số mô thần kinh bị phô bày. Sự hoàn thiện của việc khép ống thần kinh kết thúc vào ngày thứ 28 của thai kỳ. Cho nên, bổ sung acid folic trước khi thụ thai mới có hiệu quả dự phòng khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi.

Mỗi phụ nữ mang thai đều có nguy cơ tiềm ẩn sinh ra những em bé bị nứt đốt sống, cho dù họ bao nhiêu tuổi, con so (lần đầu) hay con rạ (từ lần hai) mặc dù lần mang thai trước đó bà mẹ đã sinh ra đứa trẻ khỏe mạnh. Tuy vậy, một số trường hợp phụ nữ cần phải bổ sung acid folic (theo chỉ định của nhân viên y tế) sau:

– Tình trạng dinh dưỡng kém, bị sụt cân, ăn ít, khẩu phần ăn không cân đối, thiếu vi chất dinh dưỡng.

– Có giai đoạn không ăn được do mệt mỏi, chán ăn hay lo lắng nhiều.

– Mới sẩy thai, hay thai chết lưu.

– Làm việc vất vả hoặc bị căng thẳng thần kinh.

– Phụ nữ đẻ dày, đẻ nhiều, có thể để lại hậu quả tình trạng dinh dưỡng kém, nên rất cần cung cấp đủ acid folic trước khi mang thai.

– Có tiền sử sinh con khiếm khuyết ống thần kinh.

– Nghiện cà phê, rượu hay thuốc lá.

Nhiều nghiên cứu lớn trên thế giới gần đây đã chỉ ra rằng, nồng độ acid folic đủ cao trong máu người mẹ rất cần thiết cho việc đóng ống thần kinh bình thường ở thai nhi. Có thể ngăn ngừa 70% – 80% số trẻ bị dị dạng ống thần kinh nếu trước và trong thời gian mang thai người mẹ được bổ sung acid folic đầy đủ.

phu-nu-co-thai-nen-yeu-sat-acid-folic-2

Các giải pháp phòng chống thiếu sắt và acid folic

Ăn uống hợp lý, đa dạng các loại thực phẩm là biện pháp phòng chống thiếu vi chất tốt nhất. Trước và trong khi có thai, cần có khẩu phần ăn đủ số lượng và cân đối về chất lượng để đảm bảo cung cấp đủ vitamin, các khoáng chất và các yếu tố vi lượng. Để phòng thiếu acid folic và sắt, nên ăn các loại thịt có màu đỏ như thịt lợn, thịt bò, gan, các loại rau có màu xanh thẫm như bông cải, các loại đậu, ngũ cốc. Để tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu sắt, cần tăng cường vitamin C, nên cần ăn đủ rau xanh và hoa quả chín.

Phụ nữ dự định mang thai, mang thai và cho con bú nên sử dụng thực phẩm có tăng cường sắt/acid folic để đảm bảo cung cấp đủ lượng sắt và acid folic hàng ngày, kết hợp với các vitamin và khoáng chất khác.

Bổ sung sắt, acid folic bằng đường uống: phụ nữ là đối tượng rất dễ bị thiếu sắt và acid folic và trong một số trường hợp, sự bổ sung hai chất dinh dưỡng này thông qua ăn uống là không đủ, do vậy, cần phải bổ sung bằng đường uống thuốc. Phụ nữ không mang thai bổ sung sắt/acid folic mỗi tuần 1 viên (60mg sắt nguyên tố, 2.800µg acid folic) trong thời gian 3 tháng, nghỉ 3 tháng, sau đó tiếp tục bổ sung 3 tháng.

PNCT cần uống bổ sung viên sắt/acid folic 1 viên/ngày (60mg sắt nguyên tố và 400µg acid folic) từ khi phát hiện có thai đến sau khi sinh 1 tháng. Để tránh tác dụng phụ (như buồn nôn, táo bón…) của viên sắt nên uống sau bữa ăn 1 – 2 giờ, sắt hấp thu tốt khi trong khẩu phần ăn sử dụng những thực phẩm có nhiều vitamin C. Không uống sắt cùng với chè, cà phê vì chất tanin trong chè, cà phê sẽ giảm hấp thu sắt.

Theo Suckhoedoisong.vn

escort eskişehir escort samsun escort gebze escort sakarya escort edirne