My Weblog: umraniye elektrikci uskuadar elektrikci usta elektrikci sisli elektrikci

Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Thuốc và cuộc sống

Suckhoedoisong.vn – Ở nước ta, tỏi được trồng nhiều nơi nhưng nổi bật là giống tỏi củ nhỏ ở miền Bắc và tỏi củ lớn ở miền Nam.

Tỏi là loại gia vị không thể thiếu khi chế biến món ăn, người Việt còn có thói quen sử dụng tỏi như một loại thuốc để chữa trị và phòng bệnh.

Tỏi còn có tên đại toán, toán đầu, hồ toán… Tên khoa học: Allium sativum L., họ Hành (Alliaceae). Tỏi có allicin, allistatin, allithiaminee, citral, arylcamphol, protein, lipid, carbohydrate; các sinh tố B1, B2, C, PP và các khoáng chất Ca, P, Fe. Tỏi đen là sản phẩm lên men và làm chín sinh học từ tỏi tươi trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát chặt chẽ trong khoảng thời gian 40-60 ngày. Tỏi đen ăn dai mềm, có vị ngọt thanh, thơm dịu đặc trưng. Các chất chống oxy hóa trong tỏi đen cao hơn nhiều so với tỏi tươi nên tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chống đông máu và ngăn xơ cứng động mạch, trợ tim, lợi niệu, hạ mỡ máu, giải độc cũng mạnh hơn.

Theo Đông y, tỏi vị cay, tính ôn; vào tỳ, vị và phế. Tác dụng điều vị, khai trợ tiêu hóa, giải uất tiêu tích (ôn trung hành trệ), chỉ khái trừ đàm, sát trùng giải độc. Trị đau quặn bụng do lạnh, ăn uống không tiêu, kiết lỵ tiêu chảy, ho gà, tắc ruột cơ năng, tăng huyết áp, mỡ máu cao, côn trùng cắn đốt. Tỏi đen là thực phẩm chức năng hỗ trợ kháng khuẩn, chống viêm, chống đông máu và ngăn xơ cứng động mạch, trợ tim, lợi niệu, hạ mỡ máu và giải độc. Liều dùng: Tỏi tươi: 5-20g mỗi ngày; tỏi đen 1-3 củ mỗi ngày.

Tỏi đen tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, ngăn xơ cứng động mạch, trợ tim, lợi niệu, hạ mỡ máu, giải độc,… mạnh hơn tỏi tươi.

Một số bài thuốc có tỏi

Giải độc, tiêu nhọt:

Bài 1 – Cao tỏi: tỏi lượng vừa phải, giã nát, thêm ít dầu vừng hay dầu thực vật, trộn đều, đắp dày lên chỗ nhọt, thay thường xuyên. Trị nhọt độc sưng đau.

Bài 2: tỏi 4-12g, sơn đậu căn 4-12g. Sắc uống. Dùng ngoài, lấy tỏi giã nát đắp vào chỗ đau. Trị rắn độc hay rết cắn.

Bài 3: tỏi đun lấy nước uống trị ngộ độc cua cá.

Trừ đờm, trị ho; Trị lao phổi, ho gà:

Bài 1 – Thuốc sắc tỏi bách bộ: tỏi vỏ tím 60g, bách bộ 60g, tử uyển 60g. Giã nát, ép nước tỏi để riêng bảo quản lạnh. Bã tỏi và tử uyển, bách bộ sắc lấy nước, thêm đường phèn cô đặc thành siro, cho nước ép tỏi vào khuấy đều uống. Trị ho gà.

Bài 2 – Nước sắc tỏi: tỏi 13 tép, bột bạch cập 4g, gạo nếp 60g. Đun tỏi chín tái, vớt ra, cho gạo nếp vào nấu cháo; cho tỏi và bột bạch cập vào, khuấy đều. Ăn ngày 1 lần, dùng liền trong nửa tháng. Nghỉ 10 ngày sau làm tiếp 1-2 đợt nữa. Trị lao phổi.

Trị giun khỏi ngứa:

Bài 1: tỏi 200g bóc vỏ giã nát, thêm 2.000ml nước, ngâm 24 giờ, gạn lấy nước rửa hậu môn buổi tối trước khi đi ngủ, để riêng 10-20ml nước để thụt vào trong. Làm liên tục trong 7 ngày. Trị giun kim.

Bài 2: tỏi lượng vừa đủ giã nát, thêm nước rồi lọc, thấm vào vải gạc nhét vào âm đạo, lượng nước còn lại rửa, đắp quanh âm đạo và hậu môn. Trị viêm âm đạo do trùng roi.

Bài 3: ăn tỏi sống hoặc lấy nước ngâm tỏi 5% thụt vào hậu mộn. Trị lỵ amip.

Lợi niệu, tiêu sưng: Dùng khi thủy thũng, tiểu tiện khó khăn.

Tỏi, ốc vườn, xa tiền thảo, giã nát, đắp vào rốn. Trị thủy thũng bụng trướng, tiểu tiện khó.

Tỏi đen dùng 1-3 củ mỗi ngày. Tác dụng hỗ trợ chống đông máu và ngăn xơ cứng động mạch, trợ tim, lợi niệu, hạ mỡ máu và giải độc.

Cá mực hấp tỏi tốt cho người bị phù do suy dinh dưỡng, phù do xơ gan cổ trướng, viêm thận.

Món ăn thuốc có tỏi

Cháo tỏi: tỏi 30g, gạo tẻ 80g vo sạch. Tỏi bóc vỏ, cho vào nước sôi đảo qua trong khoảng 1 phút, vớt ra. Gạo tẻ nấu cháo, khi nước sôi cho tỏi vào cùng nấu chín nhừ, ăn nóng sáng và tối. Dùng tốt cho bệnh nhân có hội chứng lỵ cấp.

Tỏi hấp cá mực: cá mực tươi 300g, tỏi 100g. Cá mực làm sạch thái lát; tỏi bóc vỏ, giã vụn, thêm dấm ăn, không cho muối và gia vị, hấp cách thủy; chia ăn 2 lần trong ngày. Dùng tốt cho người bị phù do suy dinh dưỡng, phù do xơ gan cổ trướng, viêm thận.

Tỏi xào bún thịt lợn: tỏi 10 củ, thịt lợn nạc ba chỉ 100g, bún hoặc mì sợi 200g. Tỏi bóc bỏ vỏ giã nát, thịt lợn thái lát. Thịt xào chín, cho bún vào đảo đều thêm gia vị, cho tỏi vào sau cùng, đảo nhanh tay và tắt bếp. Ăn nóng. Dùng tốt cho người bị viêm khí phế quản ho dài ngày.

Tỏi ngâm dấm: tỏi già bóc bỏ vỏ, để nguyên hoặc nghiền nát ngâm với dấm, đậy nắp kín để hàng năm. Dùng tốt cho người đau quặn vùng bụng ngực do lạnh, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch.

Lưu ý: Tỏi ngâm dấm, tỏi ngâm rượu chữa nhiều chứng bệnh (ngâm để hàng năm, còn chôn xuống đất, hoặc đặt trong hầm sâu.

Rau sam tỏi dấm: tỏi 1-2 củ, rau sam 100g, dấm ăn 10ml, muối ăn 3g. Tỏi bóc vỏ, giã nát trộn với dấm và muối, khuấy đều thêm chút gia vị khác phù hợp (tương ớt…). Rau sam rửa sạch nhúng qua nước sôi, chấm với tỏi dấm ăn. Ngày 1 lần, liên tục 5-6 ngày. Dùng tốt cho người mụn nhọt chốc lở; đặc biệt là mụn nhọt mưng mủ có ngòi thường gặp ở người lớn, người đái tháo đường.

Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng hoặc có viêm tấy ở mắt, miệng lưỡi, răng cần thận trọng.

Theo suckhoedoisong.vn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người bệnh được xác định dương tính với nCoV sẽ được điều trị miễn phí. Mọi chi phí nằm viện, thuốc điều trị, chi phí xét nghiệm người bệnh dương tính với nCoV đều được miễn phí.
Trả lời về vấn đề chi phí điều trị cho bệnh nhân nhiễm nCoV và bệnh nhân nghi nhiễm phải giám sát, ông Nguyễn Nam Liên, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính (Bộ Y tế) cho biết, theo luật, người bệnh được xác định dương tính với nCoV sẽ được điều trị miễn phí. Mọi chi phí nằm viện, thuốc điều trị, chi phí xét nghiệm người bệnh dương tính với nCoV đều được miễn phí.

Trong khi đó, với những bệnh nhân ở diện nghi ngờ nhiễm bệnh, cần cách ly, giám sát, khi kết quả xét nghiệm là âm tính sẽ thanh toán theo quy định của bảo hiểm y tế (BHYT). Còn trường hợp bệnh nhân dương tính sẽ được miễn phí toàn bộ theo quy định.

Ông Nguyễn Nam Liên cũng cho biết Bộ Y tế đang làm việc với Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam để hoàn thiện hướng dẫn về chi phí dành cho bệnh nhân đã có kết quả dương tính với nCoV.

Về vấn đề này, theo ông Lê Văn Phúc, Trưởng ban Thực hiện Chính sách BHYT của BHXH Việt Nam cho biết, quỹ BHYT sẽ thanh toán chi phí cho những người đi khám khi có triệu chứng nghi ngờ như sốt, ho, khó thở và xét nghiệm chẩn đoán bệnh trong trường hợp âm tính với nCoV. Nếu có kết quả dương tính và cần điều trị tiếp, toàn bộ chi phí điều trị và xét nghiệm cũng do ngân sách nhà nước chi trả.

BHXH đang làm việc với Bộ Y tế để thống nhất thêm về một số vấn đề khác, ví dụ việc chi trả cho các bệnh lý nền của người bệnh hoặc các vấn đề khác phát sinh trong quá trình điều trị.

Trước đó, liên quan đến thanh toán chi phí điều trị với trường hợp nghi nhiễm nCoV, BHXH Việt Nam dã có Công văn số 280/BHXH-CSYT gửi BHXH các tỉnh, thành phố; BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân (gọi chung là BHXH các tỉnh) về việc phối hợp thực hiện thanh toán chi phí điều trị với trường hợp nghi ngờ nhiễm nCoV.

Công văn nêu, ngày 28/01/2020 Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 05/CT-TTg về việc phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra, đồng thời ngày 31/01/2020 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có tuyên bố về tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu.

Khu vực cách ly đặc biệt của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đang theo dõi, cách ly các trường hợp có tiếp xúc gần với người dương tính với nCoV.

Để chủ động phòng chống dịch nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân, hạn chế thấp nhất mức tử vong do nCoV gây ra, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh thực hiện một số nội dung như chủ động phối hợp với Sở Y tế và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người bệnh có thẻ BHYT được kịp thời khám chữa bệnh hoặc chuyển tuyến khám chữa bệnh BHYT khi nghi ngờ nhiễm nCoV.

BHXH các tỉnh thực hiện việc giám định và thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo đúng quy định của Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn hiện hành.

BHXH Việt Nam cũng yêu cầu BHXH các tỉnh thực hiện ngay việc tạm ứng kinh phí cho các cơ sở khám chữa bệnh để đảm bảo hoạt động khám chữa bệnh BHYT trên cơ sở nguồn kinh phí khám chữa bệnh BHYT của quý 1/2020 đã được BHXH Việt Nam cấp đầy đủ, đặc biệt là BHXH các tỉnh có người bệnh được phát hiện nhiễm hoặc nghi ngờ nhiễm nCoV như: TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Khánh Hòa…

Cũng theo yêu cầu của BHXH Việt Nam, BHXH các địa phương kịp thời báo cáo BHXH Việt Nam những khó khăn vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện để có hướng chỉ đạo, giải quyết phục vụ công tác phòng chống dịch

Theo Suckhoedoisong.vn

phunuonline.vn – Oseltamivir tôi còn được biết đến với cái tên khá quen thuộc trong mùa cúm này, đó là tamiflu, loại thuốc mà mọi người đang đề cập tới rất nhiều khi dịch cúm đang hành hoành.

Là một loại thuốc chống virus, oseltamivir có tác dụng ức chế enzym có vai trò thiết yếu giải phóng các hạt virus cúm type A và type B mới được hình thành trong tế bào bị nhiễm và làm virus lan truyền khắp cơ thể.

Các bạn cần lưu ý, oseltamivir chỉ nên dùng trong các trường hợp: Điều trị cúm typ A và B ở trẻ em từ 1 tuổi trở lên và cho người lớn, đã có triệu chứng điển hình của cúm không quá 48 giờ (2 ngày), trong thời gian có cúm virus lưu hành. Chỉ định được khuyến cáo đặc biệt đối với người có nguy cơ cao (người trên 65 tuổi hoặc có 1 trong những bệnh sau: Bệnh hô hấp mạn kể cả bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh tim – mạch nặng trừ bệnh tăng huyết áp, bệnh thận mạn, suy giảm miễn dịch, đái tháo đường) và dự phòng cúm (trong vòng 48 giờ sau phơi nhiễm và trong thời gian có dịch cúm) cho người lớn và trẻ em từ 13 tuổi trở lên, đặc biệt đối với người có nhiều nguy cơ (chưa được bảo vệ hữu hiệu bằng vắc-xin cúm, nhân viên y tế chăm sóc trực tiếp người bệnh và có thể bắt đầu dùng oseltamivir trong vòng 48 giờ sau phơi nhiễm). Việc dùng thuốc cần do bác sĩ chỉ định.

Các triệu chứng của bệnh cúm.

Nhiều người nghe thấy có tác dụng chống cúm của oseltamivir tôi, nên đã mua thuốc về uống phòng và rất nhiều người bệnh sợ biến chứng của cúm cũng đã tự ý tìm đến với oseltamivir tôi mà không có chỉ dẫn của thầy thuốc, dẫn tới tình trạng dùng thuốc khi chưa cần thiết gây tốn kém và nếu không may còn gặp bất lợi không mong muốn gây hại cho người dùng.

Một số bất lợi thường gặp như: buồn nôn, nôn, đau bụng, khó tiêu, tiêu chảy hay nhức đầu, mệt mỏi, mất ngủ, chóng mặt… hoặc nặng hơn có thể gây viêm gan, thận cấp; ảnh hưởng đến máu làm giảm bạch cầu, tiểu  cầu. Như vậy là lợi bất cập hại…

Với những trường hợp được bác sĩ chỉ định dùng oseltamivir, người bệnh cần chú ý về cách uống thuốc sao cho đạt hiệu quả cao nhất: Đối với dạng thuốc viên nên uống với nhiều nước; phải uống đủ liều và đủ thời gian quy định ngay cả khi các triệu chứng đã thuyên giảm; phân khoảng cách giữa các liều uống phải đều nhau trong ngày để duy trì nồng độ thuốc trong máu ổn định. Trẻ em dưới 12 tuổi nên dùng thuốc dạng nước và phải dùng thìa hoặc dụng cụ đong bán kèm thuốc để đong thuốc nước cho đúng liều lượng.

DS. Lê Thị Thiện

Theo suckhoedoisong.vn

Ngày 19/12/2019, Báo Sức khỏe Đời sống phối hợp cùng BV Chợ Rẫy tổ chức chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe “Tăng cường hệ tiêu hóa, cốt lõi phòng chống dịch bệnh” tại BV Chợ Rẫy, với sự tham gia của các bác sĩ BV Chợ Rẫy, BS. CKII Hồ Tấn Phát, Trưởng khoa Nội Tiêu hóa và TS. BS. Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng.

Mỗi ngày, BV Chợ Rẫy tiếp nhận khám và điều trị cho hàng ngàn lượt bệnh nhân. Theo các chuyên gia, bên cạnh các nguyên nhân do bẩm sinh, di truyền, chúng ta nhận thấy phần lớn các bệnh từ chế độ dinh dưỡng, đặc biệt là các bệnh mạn tính không lây nhiễm. Bên cạnh đó, tại Việt Nam, các bệnh về tiêu hóa vẫn đứng hàng đầu ở tỷ lệ người mắc bệnh, nhất là các bệnh loét đường tiêu hóa chiếm hơn 50% trong cộng đồng.

Một hệ tiêu hóa bị tổn thương sẽ khởi đầu cho sức khỏe toàn thân bị suy yếu vì không được cung cấp đủ các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất để hoạt động (Ảnh minh họa)

Một hệ thống tiêu hóa tốt đóng một vai trò cốt lõi trong sức khỏe toàn thân. Hệ thống tiêu hóa không chỉ là cơ quan chính của cơ thể đối với việc tiếp nhận và hấp thu chất dinh dưỡng. Hệ thống các cơ quan tiêu hóa quan trọng này cũng hoạt động như một loại tổng đài hoặc trung tâm liên lạc với não bộ là một trong những tuyến đầu của cơ thể trong cuộc chiến chống lại bệnh tật.

Tiêu hóa cung cấp các chất dinh dưỡng như protein, chất béo, carbohydrate, vitamin và khoáng chất, nước từ thức ăn và đồ uống để cơ thể bạn hấp thụ và sử dụng cho năng lượng, tăng trưởng và sửa chữa tế bào.

Thỉnh thoảng, mọi người ở mọi lứa tuổi đều gặp phải các vấn đề về tiêu hóa, nhưng khi chúng ta già đi, những phiền toái như táo bón, tiêu chảy và khí gas gây đầy bụng… có thể ngày càng trở nên phổ biến. Các khía cạnh của sức khỏe thể chất của chúng ta thay đổi tự nhiên theo tuổi tác, nhưng chế độ ăn uống kém, sử dụng quá nhiều thực phẩm không đảm bảo chất lượng, uống nước không đúng cách… sẽ góp phần làm giảm men tiêu hóa và hệ vi sinh vật đường tiêu hóa mất cân bằng, dẫn đến sự tàn phá cả hệ thống tiêu hóa và miễn dịch của chúng ta.

Những gì chúng ta ăn và uống, cách chúng ta ăn, chất lượng từng loại thực phẩm, đặc biệt là chất lượng nước, cũng có thể làm suy giảm sức khỏe tiêu hóa (Ảnh minh họa)

Hiện nay ở Việt Nam, theo BS. CKII Hồ Tấn Phát, bệnh nhân đến khám và điều trị các bệnh về lý đường tiêu hóa tăng 20% mỗi năm. Tại nhiều hội thảo khoa học chuyên đề liên quan đến tiêu hóa, các chuyên gia khuyến cáo, 10% dân số Việt Nam mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa.

Các bệnh thường gặp của hệ tiêu hóa: Ợ nóng, còn được gọi là bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD); viêm loét dạ dày; sỏi mật; táo bón; tiêu chảy…

Theo các chuyên gia y tế, rất nhiều nguyên nhân có thể gây nguy hại cho chức năng tiêu hoá. Ở một số người, có thể vấn đề là do di truyền. Ở những người khác, có thể xảy ra tình trạng hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công “nhầm” vào chính hệ thống tiêu hóa, gây ra các “thảm hoạ” tiêu hóa của cơ thể. Những gì chúng ta ăn và uống, cách chúng ta ăn, chất lượng từng loại thực phẩm, đặc biệt là chất lượng nước, cũng có thể làm suy giảm sức khỏe tiêu hóa.

Báo Sức khỏe & Đời sống hy vọng từ chương trình giáo dục truyền thông sức khỏe “Tăng cường hệ tiêu hóa, cốt lõi phòng chống dịch bệnh”, các bác sĩ nội tiêu hóa cũng như dinh dưỡng sẽ chia sẻ các phương cách chăm sóc sức khỏe đường tiêu hóa, như một cốt lõi để phòng chống bệnh tật, đặc biệt bằng chế độ dinh dưỡng, ngay từ những chuyện nhỏ nhất như uống nước ngày mấy cốc, uống loại nước nào…

Hãy gọi theo số 0909 928 335 hoặc email: suckhoecongdongskds@gmail.com để đăng ký tham gia chương trình. 200 vị khách tham gia đầu tiên sẽ được nhận nhiều phần quà có giá trị lên đến 2 triệu đồng.

Báo Sức khỏe và Đời sống trân trọng cảm ơn BS. CKII Hồ Tấn Phát, Trưởng khoa Nội Tiêu hóa và TS. BS. Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng đã nhận lời tham gia chương trình.

Trân trọng cảm ơn sự đồng hành của thiết bị lọc nước điện giải ion kiềm Panasonic, Nhật Bản.

Theo Suckhoedoisong.vn

Thời tiết lạnh đột ngột làm cho các bệnh về hô hấp ở người già, trẻ em gia tăng. Những bệnh nhân bị hen sẽ tái phát và trở nặng hơn.

Để bảo vệ sức khỏe trong mùa đông việc giữ ấm cơ thể là vô cùng cần thiết. Dưới đây là  lời khuyên hữu ích không chỉ với những người đang mắc bệnh mà cả những người có sức khỏe bình thường để vượt qua mùa đông lạnh giá.

Mặc quần áo đủ ấm

Đây là biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất để giữ ấm cơ thể. Tuy nhiên không nên mặc quần áo dày, mà nên mặc quần áo mỏng, nhiều lớp, để gió lạnh không thể luồn vào cơ thể. Đối với trẻ em, mặc quần áo nhiều lớp còn có tác dụng để có thể cởi cho trẻ khi toát mồ hôi do chơi đùa, hoặc nằm ngủ. Mồ hôi của trẻ nếu không kịp lau có thể thấm ngược trở lại cơ thể gây các bệnh đường hô hấp.

Nguyên tắc đầu tiên để ngừa bệnh hô hấp là giữ ấm vùng mũi – cổ – ngực. Khi ở trong nhà cũng nên mặc áo chống rét, chọn loại áo cao cổ, choàng khăn. Nên trang bị dụng cụ sưởi hoặc lò sưởi làm ấm không khí và đóng cửa để tránh gió lùa vào nhà. Khi ra đường phải mang khẩu trang để tránh hít phải khí lạnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến tai, mũi, họng và đường hô hấp. Đặc biệt lưu ý không được mặc phong phanh khi trời lạnh bởi điều này có thể khiến bạn dễ viêm phổi và đột quỵ.

5-cach-giu-am-co-the-de-tranh-benh-khi-vao-dong-1Mặc ấm là biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất để giữ ấm cơ thể.

Ăn đủ chất

Ăn đủ các chất đường, protein, đặc biệt là mỡ giúp cho cơ thể có cơ chất để sinh năng lượng chống rét. Nên ăn thức ăn nấu chín kỹ, mềm, dễ tiêu, số lượng ít nhưng chất lượng phải đảm bảo như súp, cháo thịt, các món hầm… Chia thành nhiều bữa nhỏ. Buổi sáng và trưa nên ăn thức ăn giàu calori và bữa tối ăn nhẹ nhàng hơn kèm theo chút hoa quả. Tránh ăn quá no, uống quá nhiều vào bữa tối vì có thể gây mất ngủ do đầy bụng trướng hơi và đi tiểu nhiều.

Bên cạnh đó, cần dùng những thức ăn nóng ấm, rắc thêm ít tiêu sẽ giúp làm ấm vùng phổi. Tăng cường các loại trái cây có tác dụng giữ ấm phổi, tốt cho hệ hô hấp như nhãn, xoài, ổi… Uống trà vào mỗi buổi sáng cũng là thói quen tốt giúp hệ hô hấp khỏe mạnh hơn.

Ngâm chân bằng nước ấm

Mùa đông, thời tiết lạnh khiến các mạch máu dưới da co lại, máu lưu thông chậm… Một trong những bộ phận trên cơ thể nhạy cảm với lạnh chính là bàn chân. Vì thế, ngoài việc giữ ấm cơ thể cần phải đặc biệt chú ý chăm sóc và giữ ấm đôi bàn chân. Giữ cho đôi chân khỏe mạnh chính là cách để bảo vệ sức khỏe trong mùa đông. Mỗi tối trước khi đi ngủ, nên ngâm chân vào chậu nước ấm cho chút muối ăn khoảng 10-15 phút. Nếu có điều kiện có thể dùng nước ấm pha chút tinh dầu bạc hà, hoắc hương hoặc nấu nước lá chanh, lá bạch đàn,… Ngâm chân bằng nước ấm sẽ giúp “sưởi ấm” cho cả chân và cơ thể, giúp có giấc ngủ ngon.

Chú ý, khi đi ra ngoài lạnh về, không nên hơ ngay bàn chân gần bếp lửa, lò sưởi dù là sưởi điện, không dùng túi chườm nóng, kể cả chăn sưởi ấm quá nóng. Dùng bít tất ngắn có chất liệu sợi bông, len. Nên đi giầy đế dày và có tấm lót. Nên thường xuyên thay tất, giữ vệ sinh cho đôi chân.

Không tắm lâu và hạn chế tập thể dục sáng sớm hoặc tối muộn

Tắm quá lâu, tắm nước lạnh khi nhiệt độ ngoài trời hạ thấp vô cùng nguy hiểm, thậm chí dẫn tới tử vong. Vì thế, cần tăng nhiệt độ nước tắm, tắm trong phòng kín gió và tuyệt đối không tắm quá lâu. Nếu nhiệt độ ngoài trời quá thấp, nên hạn chế tắm nhiều, chỉ cần vệ sinh bằng khăn ẩm và tắm 2 ngày 1 lần là đủ.

Không nên ngồi ì một chỗ vì thời tiết lạnh mà nên thường xuyên vận động. Buổi sáng và buổi tối, có thể tập thể dục, đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày. Đi bộ cũng là cách tốt nhất để cải thiện lưu thông máu cho bàn chân. Việc đặt áp lực lên đôi chân khi đi bộ đã là một động tác để dồn lưu lượng máu trong các tĩnh mạch lên đôi chân. Trong khi ngồi làm việc hoặc xem tivi, có thể gập các ngón chân lại và duỗi các ngón chân ra. Cứ lặp lại động tác này khi có thể hoặc làm ít nhất 10 phút mỗi ngày sẽ giúp chân khỏe mạnh và giảm đau. Tuy nhiên đặc biệt lưu ý, nhiệt độ ngoài trời lúc sáng sớm hoặc tối muộn thường rất lạnh và có những cơn gió mạnh, gió độc. Ra ngoài trong khoảng thời gian này sẽ khiến cơ thể bị nhiễm lạnh, dễ dẫn tới cảm lạnh, ảnh hưởng tới hệ thần kinh, có thể gây méo miệng. Thậm chí, một số người có sức đề kháng quá yếu, trẻ em hoặc người lớn tuổi ra khỏi nhà trong điều kiện nhiệt độ như vậy tiềm ẩn nguy cơ đe dọa tính mạng. Chính vì vậy, thời gian tập thể dục buổi sáng sẽ muộn hơn và buổi chiều phải sớm hơn các mùa trong năm.

Tránh xa rượu, bia

Nhiều người cho rằng thời tiết lạnh, uống rượu sẽ làm ấm người. Tuy nhiên uống quá nhiều rượu lại gây ra những tác hại khôn lường với sức khỏe. Uống rượu, nhất là uống say trong thời tiết lạnh rất nguy hiểm dễ bị đột quỵ. Nhiều trường hợp đã tử vong do uống rượu. Khi uống rượu, các mạch máu giãn ra, khi gặp trời lạnh, mạch đột ngột co lại, huyết áp dễ tăng lên gây tai biến và dẫn đến tử vong. Cách tốt nhất là không uống rượu, nếu phải uống và uống quá say không nên ra ngoài trời lạnh ngay.

Theo Suckhoedoisong.vn

Chăm sóc sức khỏe của người mẹ khi mang thai có liên quan mật thiết đến sức khỏe của thai nhi.

Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy suy dinh dưỡng bào thai là yếu tố góp phần làm tăng các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận và bệnh tim mạch khi trẻ trưởng thành. Người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống không hợp lý là nguyên nhân của suy dinh dưỡng bào thai (trẻ đẻ ra có cân nặng < 2.500g).

Theo kết quả điều tra toàn quốc năm 2015 cho thấy 32,8% phụ nữ có thai (PNCT), 25,5% phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ), 27,8% trẻ em (TE) dưới 5 tuổi bị thiếu máu. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở te dưới 24 tháng tuổi (42.7- 45%). PNTSĐ khu vực miền núi có tỷ lệ thiếu máu cao nhất (27.9%), khu vực nông thôn  và thành phố có thiếu máu thấp hơn với tỷ lệ tương ứng là 26.3 và 20.8%. Thiếu máu do thiếu sắt chiếm tỷ lệ 63,6 % TE; 54,3% PNCT và 37,7% PNTSĐ các trường hợp thiếu máu. Thiếu sắt chiếm tỷ lệ 50,3% TE; 47,3% PNCT và 23,6% PNTSĐ.

Phụ nữ dễ bị thiếu máu thiếu sắt hơn nam giới vì dự trữ sắt của họ thấp do mất máu trong các kỳ kinh nguyệt. Khi có thai, dự trữ sắt trong cơ thể phụ nữ không đáp ứng đủ việc tạo hồng cầu, do sự tăng thể tích máu ngày càng nhiều để nuôi thai nhi. Bệnh thiếu máu ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cả mẹ lẫn con.Người mẹ thiếu máu thường mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, khi đẻ có nhiều rủi ro, tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn so với bà mẹ bình thường.Người ta đã coi thiếu máu là một yếu tố nguy cơ trong sản khoa.

Đối với thai nhi, thiếu máu thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên lượng sắt dự trữ của cơ thể trẻ thấp. Khi mang thai tổng lượng sắt cần > 1.000mg hay nhu cầu sắt hàng ngày là 59,2mg sắt nguyên tố (so với 39,2mg/ngày ở phụ nữ không có thai).

phu-nu-co-thai-nen-yeu-sat-acid-folic-1Cần phải bổ sung sắt, acid folic bằng đường uống

Ở nước ta, những kiến thức về chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi mang thai đã được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều phụ nữ không được tiếp cận đầy đủ những thông tin về dinh dưỡng hợp lý để chuẩn bị cho việc đón đứa con chào đời thông minh và khỏe mạnh. Theo kết quả của một số nghiên cứu, để hỗ trợ thai nhi phát triển tối ưu, các vi chất dinh dưỡng như sắt, acid folic, kẽm, canxi… và các vitamin đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đây là vấn đề đang được quan tâm ở Việt Nam, vì tình trạng thiếu vi chất ở bà mẹ mang thai chưa được quan tâm đầy đủ. Bổ sung sắt, acid folic đầy đủ sẽ giúp cải thiện sức khỏe bà mẹ và thai nhi.

Sắt trong cơ thể có vai trò rất quan trọng vì đây là yếu tố cần thiết để tạo hồng cầu.Sắt có nhiệm vụ vận chuyển oxy và CO2 trong quá trình hô hấp, có vai trò quan trọng trong sự phát triển trí não ở trẻ nhỏ.Sắt còn giúp bảo vệ cơ thể không bị nhiễm khuẩn vì sắt tham gia vào thành phần của một enzym trong hệ miễn dịch, sắt giúp biến đổi betacaroten thành vitamin A, giúp tạo collagen (giúp gắn kết các mô cơ thể).Nếu sắt không được cung cấp đủ sẽ đưa đến thiếu máu thiếu sắt. Lượng sắt ở trẻ sơ sinh là 250mg, ở trẻ 1 tuổi khoảng 420mg và ở người trưởng thành khoảng 3.500mg – 4.000mg.

Acid folic (hay còn gọi là folat, vitamin B9) rất cần thiết cho sự phát triển, phân chia tế bào và cho sự hình thành tế bào máu.Nhu cầu acid folic trung bình ở người trưởng thành 400µg/ngày. Nhu cầu này tăng lên trong thời kỳ mang thai (600µg/ ngày) để đáp ứng cho sự phân chia tế bào cũng như sự tăng kích thước của tử cung.

Acid folic rất cần cho quá trình tổng hợp nhân tế bào acid deoxyribo nucleic (AND), acid ribo nucleic (ARN) và protein; cho sự hình thành nhau thai; sự tăng trưởng của bào thai. Do số lượng tế bào hồng cầu gia tăng theo sự gia tăng của khối lượng máu và do tăng thải folate qua nước tiểu trong khi mang thai, nên phụ nữ mang thai thường hay thiếu acid folic. Sự thiếu hụt này sẽ làm thiếu máu hồng cầu; nguy cơ sẩy thai cao; sinh non, sinh con nhẹ cân.

Đặc biệt, việc thiếu acid folic có thể gây khuyết tật ống thần kinh của thai nhi, gây nứt đốt sống và não úng thủy (não có nước). Nứt đốt sống là một khuyết tật, trong đó một bộ phận của một hay nhiều đốt sống không phát triển trọn vẹn, làm cho một đoạn tủy sống bị lộ ra.Nứt đốt sống có thể xảy ra ở bất cứ đốt sống nào nhưng thường gặp ở dưới thắt lưng và mức độ nghiêm trọng tùy vào số mô thần kinh bị phô bày. Sự hoàn thiện của việc khép ống thần kinh kết thúc vào ngày thứ 28 của thai kỳ. Cho nên, bổ sung acid folic trước khi thụ thai mới có hiệu quả dự phòng khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi.

Mỗi phụ nữ mang thai đều có nguy cơ tiềm ẩn sinh ra những em bé bị nứt đốt sống, cho dù họ bao nhiêu tuổi, con so (lần đầu) hay con rạ (từ lần hai) mặc dù lần mang thai trước đó bà mẹ đã sinh ra đứa trẻ khỏe mạnh. Tuy vậy, một số trường hợp phụ nữ cần phải bổ sung acid folic (theo chỉ định của nhân viên y tế) sau:

– Tình trạng dinh dưỡng kém, bị sụt cân, ăn ít, khẩu phần ăn không cân đối, thiếu vi chất dinh dưỡng.

– Có giai đoạn không ăn được do mệt mỏi, chán ăn hay lo lắng nhiều.

– Mới sẩy thai, hay thai chết lưu.

– Làm việc vất vả hoặc bị căng thẳng thần kinh.

– Phụ nữ đẻ dày, đẻ nhiều, có thể để lại hậu quả tình trạng dinh dưỡng kém, nên rất cần cung cấp đủ acid folic trước khi mang thai.

– Có tiền sử sinh con khiếm khuyết ống thần kinh.

– Nghiện cà phê, rượu hay thuốc lá.

Nhiều nghiên cứu lớn trên thế giới gần đây đã chỉ ra rằng, nồng độ acid folic đủ cao trong máu người mẹ rất cần thiết cho việc đóng ống thần kinh bình thường ở thai nhi. Có thể ngăn ngừa 70% – 80% số trẻ bị dị dạng ống thần kinh nếu trước và trong thời gian mang thai người mẹ được bổ sung acid folic đầy đủ.

phu-nu-co-thai-nen-yeu-sat-acid-folic-2

Các giải pháp phòng chống thiếu sắt và acid folic

Ăn uống hợp lý, đa dạng các loại thực phẩm là biện pháp phòng chống thiếu vi chất tốt nhất. Trước và trong khi có thai, cần có khẩu phần ăn đủ số lượng và cân đối về chất lượng để đảm bảo cung cấp đủ vitamin, các khoáng chất và các yếu tố vi lượng. Để phòng thiếu acid folic và sắt, nên ăn các loại thịt có màu đỏ như thịt lợn, thịt bò, gan, các loại rau có màu xanh thẫm như bông cải, các loại đậu, ngũ cốc. Để tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu sắt, cần tăng cường vitamin C, nên cần ăn đủ rau xanh và hoa quả chín.

Phụ nữ dự định mang thai, mang thai và cho con bú nên sử dụng thực phẩm có tăng cường sắt/acid folic để đảm bảo cung cấp đủ lượng sắt và acid folic hàng ngày, kết hợp với các vitamin và khoáng chất khác.

Bổ sung sắt, acid folic bằng đường uống: phụ nữ là đối tượng rất dễ bị thiếu sắt và acid folic và trong một số trường hợp, sự bổ sung hai chất dinh dưỡng này thông qua ăn uống là không đủ, do vậy, cần phải bổ sung bằng đường uống thuốc. Phụ nữ không mang thai bổ sung sắt/acid folic mỗi tuần 1 viên (60mg sắt nguyên tố, 2.800µg acid folic) trong thời gian 3 tháng, nghỉ 3 tháng, sau đó tiếp tục bổ sung 3 tháng.

PNCT cần uống bổ sung viên sắt/acid folic 1 viên/ngày (60mg sắt nguyên tố và 400µg acid folic) từ khi phát hiện có thai đến sau khi sinh 1 tháng. Để tránh tác dụng phụ (như buồn nôn, táo bón…) của viên sắt nên uống sau bữa ăn 1 – 2 giờ, sắt hấp thu tốt khi trong khẩu phần ăn sử dụng những thực phẩm có nhiều vitamin C. Không uống sắt cùng với chè, cà phê vì chất tanin trong chè, cà phê sẽ giảm hấp thu sắt.

Theo Suckhoedoisong.vn

Hiện nay, thời tiết thu đông với các đợt không khí lạnh tràn về, trời hanh khô cùng với môi trường ô nhiễm… là những yếu tố thuận lợi khiến người dân hay mắc các bệnh về đường hô hấp, nhất là ở đối tượng trẻ nhỏ vốn nhạy cảm và sức đề kháng còn non kém. Trong các bệnh đường hô hấp thì viêm họng, viêm phế quản là hai bệnh khá phổ biến mà trẻ hay mắc phải.
Mỗi trẻ thường bị 4-6 lần mắc bệnh hô hấp/năm

PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy – Trưởng Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Hà Nội cho biết, bệnh lý hô hấp là bệnh rất phổ biến, nhất là ở nước ta hiện nay do đặc điểm khí hậu, ô nhiễm môi trường… Trung bình mỗi trẻ Việt thường bị từ 4-6 lần mắc bệnh hô hấp/năm.

Họng là vùng cửa ngõ hầu họng tiếp xúc trực tiếp với vi rút, vi khuẩn, trong khi trẻ non nớt do sức đề kháng yếu lại bị tác nhân tấn công liên tục nên nguy cơ mắc bệnh cao. Trước đây người ta kỳ vọng giảm bệnh hô hấp nhưng có vẻ bệnh này ngày càng gia tăng, do đó cần dự phòng cho bản thân và trẻ em.

“Trong đường hô hấp của chúng ta đều có sẵn vi rút ở thể không hoạt động, do yếu tố thuận lợi (như thời tiết chẳng hạn) sẽ làm nó chuyển sang thể hoạt động gây bệnh về đường hô hấp. Biểu hiện sớm là viêm long đường hô hấp trên như: hắt hơi, sổ mũi, ho, chảy mũi trong, hơi đau đầu, quấy khóc, khó chịu, bỏ ăn…. Ho lúc đầu ho khan, ho đờm, tiến triển dần. Đây là dấu hiệu khởi điểm hay gặp.

Nếu để nặng hơn sẽ tiến triển nặng hơn gây viêm phế quản là bệnh đường hô hấp dưới với biểu hiện là ho nhiều khò khè, khó thở…”- PGS. Thuý phân tích.

bac-si-chi-ro-dau-hieu-tre-bi-viem-hong-viem-phe-quan-va-cach-phong-ngua-1PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy.

80% bệnh do vi rút, chỉ 20% do vi khuẩn – Tuyệt đối không tự dùng kháng sinh

Hiện nay nhiều cha mẹ băn khoăn giữa nhóm các bệnh do vi khuẩn và vi rút gây ra, theo chuyên gia Nhi khoa, đây là vấn đề mà các nhà chuyên môn là bác sĩ cần phân biệt nguyên nhân gây bệnh khác nhau để có cách xử trí khác nhau. Bệnh do vi rút có thể tự khỏi sau 2-3 ngày và có đến 80% bệnh do vi rút gây nên; chỉ 20% do vi khuẩn.

PGS. Thuý tư vấn, với trẻ chỉ bị ho, cảm lạnh thông thường thì các biện pháp xông rất dễ chịu giúp thông mũi, hoặc vệ sinh nước muối cho trẻ. Nếu trẻ chỉ ho, chảy mũi cần rửa mũi, súc miệng, vệ sinh cho trẻ. Có thể dùng các loại thuốc đông y, thảo dược để dịu họng, mát họng, chúng hầu như không có tác dụng phụ, giúp trẻ loãng đờm ra, không đau họng, nuốt dễ… Cho trẻ ăn đồ lỏng, nhiều nước giúp hấp thu tốt làm lỏng đờm, vỗ long đờm… sẽ giảm tải sổ lượng vi rút ở mũi, triệu chứng thuyên giảm dần dần, sau 3 ngày trẻ đỡ hẳn. Thông thường bệnh không quá nặng như phụ huynh lo lắng.

Trường hợp trẻ sốt cao liên tục, qua thăm khám có nhiễm khuẩn, họng có mủ, bỏ ăn, li bì khó đánh thức… thì cần dùng kháng sinh. Việc có quyết định dùng kháng sinh hay không là do bác sĩ quyết định, cha mẹ tuyệt đối không tự ý điều trị.

“Thực tế các gia đình hiện nay có ít con, cha mẹ dành mọi yêu thương cho con nên khi con hắt hơi, sổ mũi đã rất lo lắng, tuy nhiên theo tôi cần tăng cường kiến thức khoa học. Rửa nước muối cần phải được bác sĩ chỉ định đúng, kỹ thuật rửa đúng, chứ không thiết cần phải rửa hàng ngày. Mũi – họng thông nhau, rửa không đúng cách sẽ từ viêm mũi sẽ thành viêm tai cho nên không nên lạm dụng việc này. Nếu trẻ bị bệnh cần bình tĩnh không nên ngay lập tức vào viện vì dễ lây chéo khiến bệnh nặng hơn”- PGS. Thuý nói.

bac-si-chi-ro-dau-hieu-tre-bi-viem-hong-viem-phe-quan-va-cach-phong-ngua-2PGS.TS Nguyễn Thị Lâm.

Chú ý chế độ dinh dưỡng cho trẻ

PGS.TS Nguyễn Thị Lâm – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia tư vấn, bất kỳ giai đoạn nào của trẻ, cha mẹ cũng cần phải chú ý chế độ dinh dưỡng cho con, không phải riêng lúc ốm đau. Nên cho trẻ ăn đa dạng các loại thực phẩm, khi trẻ ăn đủ dinh dưỡng thì khả năng miễn dịch tốt hơn.

Trẻ có dấu hiệu viêm đường hô hấp trên thì nên cho trẻ ăn thức ăn mềm, ăn lỏng, chia nhỏ bữa ăn trong ngày, xen kẽ có thể là cháo súp, cho trẻ uống sữa, sinh tố thêm vào bữa phụ… Những món ăn gây kích thích làm họng tổn thương như ăn cay quá sẽ khiến trẻ bị ho, khó chịu hơn. Trẻ có nguy cơ dị ứng cần tránh món ăn gây dị ứng như cá, tôm, nhộng, lạc… vì dễ làm tăng tình trạng viêm đường hô hấp ở trẻ.

Hiện nay việc sử dụng sản phẩm có tính chất kìm khuẩn, diệt khuẩn, giảm triệu chứng được bào chế, chiết xuất từ thảo dược thiên nhiên được cấp phép đang khá được quan tâm. Các chuyên gia Nhật Bản khuyến cáo nên dùng các sản phẩm organic, không ăn sản phẩm biến đổi gen… Ngay cả WHO khuyến cáo điều trị bệnh lý đường hô hấp trên (ho, cảm lạnh) chỉ cần làm dịu họng chứ không cần giảm ho, dùng thảo dược giảm đau họng, làm dịu họng, điều hòa miễn dịch, cân bằng trở lại.

Các bác sĩ cũng lưu ý, việc dùng sản phẩm thảo dược cần phải được cấp phép, chứng nhận về chất lượng, vệ sinh an toàn, thẩm định cụ thể chứ không phải tự chế, tự pha để dùng. Với các thuốc Tây y không phải lúc nào cũng khuyến cáo sử dụng mà phải có kê đơn của bác sĩ mới được sử dụng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, tình trạng gầy, nhẹ cân chỉ một phần nhỏ là do di truyền, nhưng đa số trường hợp là biểu hiện của một cơ thể thiếu chất dinh dưỡng và chưa biết cách luyện tập sức khỏe.

Tại sao cơ thể lại gầy?

Ăn kém, ngủ kém

Thường xuyên có cảm giác chán ăn hoặc ăn ít do hệ tiêu hóa hoạt động không tốt khiến dinh dưỡng vào cơ thể hàng ngày không đủ, lâu dần dẫn đến tình trạng mệt mỏi, gây bệnh cho các cơ quan trong cơ thể. Ngoài ra, thói quen thức khuya, ngủ ít của một số người cũng dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi, mệt mỏi, ăn uống không ngon miệng.

Chế độ dinh dưỡng không cân đối

Thói quen kén ăn, hay bữa ăn chỉ tập trung vào 1-2 món chính, ít đổi món của một số gia đình có thể gây ra sự thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Những biểu hiện ban đầu có thể chỉ là thể trạng gầy, về sau, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự  linh hoạt của các cơ quan trong cơ thể.

Ăn uống tốt nhưng không hấp thụ được

Một rắc rối mà nhiều người gầy hay gặp phải là khả năng hấp thu kém. Nhiều người lầm tưởng, cứ ăn được nhiều sẽ béo lên. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ thể không thể sử dụng trực tiếp các loại thức ăn chúng ta ăn vào hàng ngày mà cần qua một quá trình chuyển hóa thức ăn thành các chất dinh dưỡng. Quá trình này sẽ bị hạn chế nếu:

– Các lợi khuẩn đường ruột hoạt động kém.

– Cơ thể thiếu một số khoáng chất cần cho quá trình chuyển hóa dinh dưỡng.

– Mắc một số bệnh như đau dạ dày, táo bón… ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan tiêu hóa.

6-bai-tap-the-duc-giup-tang-can-1Các giải pháp giúp người gầy tăng cân

Điều chỉnh thời gian ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý

Một thời gian biểu hợp lý, kết hợp vận động, ăn uống, nghỉ ngơi sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh và kích thích cảm giác thèm ăn ở người gầy.

Cân bằng các chất dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày

Chế độ ăn cân bằng các chất dinh dưỡng là điều kiện quan trọng cho một quá trình tăng cân bền vững. Theo lời khuyên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một bữa ăn cần có đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng là: đạm (bao gồm cả đạm động vật và thực vật): 12-14%, chất béo 18-20%, chất đường bột chiếm 65-70%, vitamin và chất khoáng.

Tích cực luyện tập thể thao

Vận động càng nhiều, cơ thể sẽ tiêu hao nhiều calo khiến chúng ta có cảm giác nhanh đói và thèm ăn. Trạng thái này rất có lợi cho kế hoạch tăng cân của người gầy. Dành 30 phút mỗi ngày để thực hiện 6 bài tập sau đây, bạn sẽ nhanh chóng sở hữu vóc dáng đầy đặn và săn chắc.

Động tác 1:

Nằm thẳng xuống sàn, lưng chạm đất, 2 tay đặt phía sau gáy. Chân trái giơ lên, phần đùi và phần bắp chân gập một góc 90 độ, tiếp theo đến chân phải, sao cho 2 chân đặt sát và song song với nhau.

Bắt đầu động tác nâng 1/2 người trên lên, 1/2 người dưới giữ nguyên trong tư thế đó. Nâng lên hạ xuống 8 lần.

Động tác 2:

Giữ đầu và tay trong tư thế nâng lên, kết hợp với bài tập chân. Trong lúc chân co vào và thẳng ra thì đầu và tay vẫn giữ nguyên tư thế đó.

Kéo đồng thời 2 chân thẳng dài hết sức, một góc 45 độ so với mặt sàn. Tiếp sau đó lại co vào ở tư thế ban đầu. Thực hiện 8 lần động tác này.

Động tác 3:

Giữ nguyên chân ở tư thế duỗi thẳng, một góc 45 độ so với mặt sàn. Hai tay kéo thẳng, chéo lên hướng đầu. Giữ tư thế này trong 10 nhịp đếm từ 1 – 10.

Động tác 4

Tiếp theo, vẫn giữ người ở tư thế cuối của động tác 3. Hai tay kéo ngang sang 2 bên rồi chạy xuống song song ở phần trên hông. Đầu rướn lên, không chạm đất.

Hai tay đánh lên, xuống nhanh và mạnh, làm liên tục với 10 nhịp đếm như vậy.

Động tác 5

Co 2 chân ép sát bụng, 2 tay ôm lấy phần đầu gối.

Sau khi thở sâu, đặt 2 tay úp xuống nền sàn, 2 chân giơ thẳng lên trên một góc 90 độ so với sàn.

Giữ tư thế này kết hợp đồng thời với hít vào thở ra 8 nhịp, hơi đẩy phần chân lên.

Động tác 6

Để tay gấp xuống sau gáy, 2 chân để gấp khoanh sao cho 2 mép chân ngoài chạm đất. Giữ tư thế này và chỉ rướn phần đầu lên 8 nhịp.

Kết thúc: Co 2 chân lên ép sát vào phần bụng, 2 tay ôm đầu gối và bật dậy.

Những động tác này tưởng như đơn giản nhưng rất hiệu quả cho việc kích thích cơ vận động và tăng khả năng hấp thụ chất cho cơ thể ngày một tốt hơn.

Theo Suckhoedoisong.vn

Viêm da dị ứng là bệnh viêm da mạn tính, kéo dài, hay tái phát. Bệnh có thể xảy ra bất kỳ vị trí nào ở da trên cơ thể, nhưng phổ biến nhất là ở vùng mặt và tay – chân, bệnh có xu hướng bùng phát từng đợt theo chu kỳ nhất là khi thời tiết thay đổi, khô hanh.

Nguyên nhân

Viêm da dị ứng là một bệnh phức tạp do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó vai trò của gen tương tác với yếu tố môi trường là cơ chế sinh bệnh chính của bệnh, các dị nguyên trong không khí như bọ nhà, lông chó, lông mèo, nấm mốc và một số dị nguyên thức ăn, thời tiết… được cho là vai trò chủ yếu trong các đợt cấp của bệnh.

Triệu chứng của bệnh

Ngứa là một triệu chứng nổi bật của viêm da dị ứng và do gãi gây ra nhiều tổn thương thứ phát khác trên vùng da bị bệnh. Các tổn thương gồm có nốt sần, vết giống ban đỏ và mụn nước, mụn nước có thể kết tụ lại tạo thành mảng; nhiều tổn thương do nhiễm khuẩn và trầy da, thể hiện thành rỉ nước và đóng vảy. Bên cạnh đó, các dấu hiệu khác của viêm da dị ứng là: xanh tím quanh miệng, xuất hiện thêm một nếp gấp nữa dưới mí mắt dưới (đường Dennie), tăng số chỉ tay, tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn da, nhất là khi bị nhiễm Staphylococcus aureus. Bệnh nhân bị viêm da dị ứng thường có da khô và ngứa, một số trường hợp tăng IgE huyết thanh.

Mặc dù vị trí có thể xảy ra bất cứ nơi nào, nhưng nó xuất hiện thường xuyên nhất trên bàn tay và bàn chân, ở mặt trước của của khuỷu, phía sau đầu gối, và trên mắt cá chân, cổ tay, mặt, cổ và ngực. Viêm da dị ứng cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt, bao gồm cả mí mắt. Gãi có thể gây tấy đỏ và sưng quanh mắt. Đôi khi, cọ xát hoặc gãi trong khu vực này gây loang lổ lông mày và lông mi.

Viêm da dị ứng thường bắt đầu ở trẻ em trước tuổi 5 và có thể kéo dài vào tuổi trưởng thành. Đối với một số, nó phát định kỳ và sau đó sẽ giảm trong một thời gian, thậm chí lên đến vài năm. Ngứa gãi nhiều làm phát ban sây sát có thể làm cho bệnh nhân ngứa nhiều hơn.

troi-kho-hanh-phong-viem-da-di-ung-1

Các biến chứng

Đa số những người bị viêm da dị ứng cũng có vi khuẩn tụ cầu đang phát triển trên da. Điều này làm triệu chứng và tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh. Khi mắc bệnh, bệnh nhân thường xuyên tắm nước quá nóng hoặc tắm vòi sen dài, da khô, stress hoặc thời tiết hanh khô… khiến cho bệnh tái phát hoặc nặng hơn. Nếu bệnh nhân sử dụng chất tẩy rửa, xà phòng hoặc tiếp xúc với cát bụi, khói thuốc lá, mỹ phẩm và một số loại thực phẩm như trứng, sữa, cá, đậu nành hay lúa mì… cũng làm tăng thêm mức độ trầm trọng của bệnh… Đây là những yếu tố làm cho viêm da dị ứng càng nặng nề hơn khiến bệnh nhân phải nhập viện.

Khi mắc, bệnh nhân gãi nhiều do ngứa có thể phá vỡ da và gây ra lở loét và vết nứt có thể bị lây nhiễm. Một dạng nhẹ hơn của nhiễm khuẩn da là chốc lở, thường do nhiễm tụ cầu. Ở một số trường hợp nặng gãi ngứa và kéo dài có thể làm tăng cường độ của ngứa, có thể dẫn đến da thường xuyên bị trầy xước trở nên dày. Các vùng da lui bệnh có thể sống, màu đỏ hoặc đậm hơn phần còn lại của làn da. Gãi liên tục cũng có thể dẫn đến sẹo vĩnh viễn hoặc thay đổi màu da đây chính là viêm da thần kinh (neurodermatitis). Nếu bệnh nhân không được điều trị, có thể gây biến chứng mắt, có thể dẫn đến hư hỏng mắt vĩnh viễn. Khi các biến chứng xảy ra, ngứa trong và xung quanh mí mắt trở nên trầm trọng. Các dấu hiệu và triệu chứng của biến chứng mắt cũng bao gồm nước mắt, viêm mí mắt và viêm kết mạc. Nếu nghi ngờ biến chứng mắt, gặp bác sĩ kịp thời.

Xử trí như thế nào?

Tùy từng cơ địa và nguyên nhân gây dị ứng mà có cách xử trí khác nhau. Mỗi người cần phải xác định nguyên nhân gây dị ứng để tránh tiếp xúc với những dị nguyên gây bệnh. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân bị viêm da dị ứng khi thay đổi thời tiết khiến da dãn nở thất thường gây kích ứng. Thời tiết hanh khô bệnh nhân dễ bị ngứa, càng gãi thì da càng bị kích ứng và sưng tấy. Chính vì vậy, đối với người có làn da mẫn cảm với thời tiết, nhiệt độ, không nên tắm nước quá nóng. Sau khi tắm người bệnh cần dùng kem dưỡng ẩm phù hợp, tránh các thành phần dễ gây kích ứng da, tẩy rửa mạnh, bôi kem ngay từ khi mới đầu vào mùa hanh có thể hạn chế tái phát bệnh.

Thường xuyên dọn nhà, lau nhà, dọn dẹp giường chiếu để diệt lông sâu bọ và phấn hoa. Nếu nhà có nhiều cây xanh cần chú ý chu kỳ ra hoa để đóng cửa sổ kịp thời để kiểm soát chất gây dị ứng. Đối với nhà nuôi chó mèo, hàng tuần cần vệ sinh cho vật nuôi không ôm, vuốt ve và đùa nghịch với chúng mà cần nhốt, xích chúng. Bên cạnh đó, đối với người bệnh viêm da dị ứng cần tăng cường uống nước, ăn hoa quả, rau xanh để cung cấp đủ vitamin, tăng cường hệ miễn dịch, hạn chế sử dụng chất kích thích. Tránh một số gia vị như ớt cay, hạt tiêu… cũng là một biện pháp phòng và cải thiện được bệnh.

Theo Suckhoedoisong.vn

Vitamin là những hợp chất hữu cơ mà tế bào người và động vật không thể tự tổng hợp (trừ vitamin D). Chúng có mặt trong thức ăn với số lượng nhỏ, cấu trúc hoàn toàn khác với glucid, protid và lipid nhưng lại rất cần thiết cho một số phản ứng chuyển hóa giúp duy trì sự phát triển và sự sống bình thường của cơ thể. Khi bị thiếu hụt vitamin sẽ gây nên bệnh lý đặc hiệu.

Có mấy loại vitamin?

Dựa vào tính chất hòa tan trong nước hay dầu mà các vitamin được xếp thành 2 nhóm: vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E, K…) và vitamin tan trong nước (vitamin nhóm B như B1, B2, B3, B5, B6, B8, B9, B12 và vitamin C).

Tuỳ theo giới và giai đoạn phát triển của cơ thể, nhu cầu vitamin rất khác nhau. Vì thế việc lựa chọn thuốc bổ sung vitamin không đơn giản. Sự thiếu hụt vitamin do nhiều nguyên nhân và đồng thời có thể thiếu nhiều loại vitamin cùng một lúc. Do vậy, trong điều trị cần phải tìm nguyên nhân và phối hợp nhiều loại vitamin khác nhau.

Bổ sung vitamin cho trẻ cần theo đúng hướng dẫn, chỉ định của bác sĩ.

Do cơ thể không thể tự tổng hợp được vitamin (ngoại trừ khi tắm, phơi nắng thích hợp để biến tiền vitamin D thành vitamin D), nên ta phải ăn uống đầy đủ và cân bằng dưỡng chất để được cung cấp đủ vitamin hàng ngày.

Trẻ nào cần bổ sung vitamin?

Nếu hàng ngày ta cho trẻ ăn uống với chế độ dinh dưỡng cân bằng, đầy đủ thì không sợ thiếu vitamin. Ðặc biệt, nên tăng cường rau củ, trái cây các loại cho bữa ăn vì đây là nguồn vitamin thiên nhiên tốt nhất. Đối với trẻ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn, đương nhiên phải được bổ sung vitamin; hoặc trẻ sau giai đoạn bị bệnh (nhiễm khuẩn, ho hen, tiêu chảy…) thì việc uống thêm vitamin là cần thiết.

Vậy đối với trẻ bình thường có nên bổ sung vitamin? Về mặt lý thuyết, nếu trẻ ăn uống cân bằng, hợp lý, đầy đủ và tình trạng bình thường (tức không có dấu hiệu suy dinh dưỡng) thì không cần bổ sung vitamin. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin. Bởi vì các vitamin vốn có trong thực phẩm sẽ bị mất đi hay giảm trầm trọng trong một bữa ăn đầy đủ nhưng chất lượng thực phẩm không đảm bảo (rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C), hoặc bảo quản chế biến thực phẩm không tốt (gạo càng trắng càng có ít vitamin B1, thức ăn nấu quá kỹ vitamin C sẽ không còn…). Vì vậy nhiều khi bác sĩ vẫn khuyên cho những trẻ xem ra khỏe mạnh uống bổ sung vitamin. Còn với trẻ béo phì, bác sĩ thường khuyên nên ăn chế độ ít chất béo và cần thiết phải bổ sung các vitamin, vì chế độ ăn ít chất béo không giúp hấp thu đủ lượng vitamin tan trong dầu là vitamin A, D, E, K.

Cần lưu ý, việc sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm. Trong các loại vitamin, vitamin A và D không được dùng thừa, dùng quá liều vì sẽ tích lũy lại trong cơ thể và có thể gây ngộ độc. Nếu dùng loại vitamin đa sinh tố (multivitamin) ngày uống 1 viên thì không được chứa quá 5.000 đơn vị quốc tế (IU) vitamin A và không quá 400 IU vitamin D. Nếu dùng loại dung dịch uống, phải lấy số giọt hoặc thể tích (số ml) theo đúng bản hướng dẫn sử dụng thuốc. Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu. Không nên dùng vitamin C liều quá cao (hơn 1g/ngày) vì có thể gây tiêu chảy, loét đường tiêu hóa, sỏi thận khi dùng dài ngày.

Theo Suckhoedoisong.vn

escort eskişehir escort samsun escort gebze escort sakarya escort edirne