Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Thuốc và cuộc sống

Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu.

Rau má là loại rau thông dụng, thường dùng để chế biến nhiều cách khác nhau để làm món ăn mát bổ; ép nước hoặc chế biến thành trà giải khát có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, giải độc dùng rất tốt trong mùa hè.

Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Rau má thường dùng để làm thuốc bổ dưỡng, sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư, bạch đới, mụn nhọt, rôm sảy,… Theo nghiên cứu, dịch chiết rau má có khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học trong việc phân chia tế bào và tái tạo mô liên kết giúp vết thương chóng lành và mau lên da non, do đó được dùng để điều trị bỏng, vết thương, vẩy nến…

Cây rau má.

Một số cách dùng rau má chữa bệnh

Nước giải khát trong mùa hè:

– Nước ép rau má: Lá rau má mua về rửa sạch, giã hoặc xay nát. Cho thêm một ít nước vào, vắt và lọc bỏ bã. Thêm vào một ít đường cho dễ uống. Mỗi người, mỗi ngày có thể dùng từ 30 – 40g rau má tươi.

– Trà giải nhiệt: Rau má 200g, nhân trần 100g, lá đinh lăng 200g, cam thảo 100g. Các dược liệu đều ở dạng khô. Cách dùng: Các vị thuốc sao giòn tán vụn trộn đều, bảo quản trong bình kín tránh ẩm. Ngày dùng 30 – 40g. Hãm với nước sôi, sau 10 phút có thể dùng được. Uống thay trà trong ngày có công dụng thanh nhiệt, nhuận gan, chống khát.
Nước ép rau má có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu mát gan, dùng thích hợp trong mùa hè.

-Hạ huyết áp: Rau má 16g, rễ kiến cò 12g, lá tre l2g, rễ nhàu 16g, rễ tranh 12g, rễ cỏ xước 12g, lá dâu 12g. Sắc uống thay trà hàng ngày.Chữa rôm sảy, mẩn ngứa: Dùng 50g rau má rửa sạch giã vắt lấy nước, thêm ít đường hoặc một ít muối cho dễ uống.

Đái rắt, đái buốt do nóng: Rau má 40g, nõn tre 40g để tươi, giã nát với vài hạt muối, gạn lấy nước uống.

Hạ sốt: Lấy 30g rau má tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước sôi để nguội, vắt lấy nước, rồi hoà 10g bột sắn dây, thêm đường uống.

Chữa ho, viêm họng: Rau má rửa sạch, giã vắt lấy nước cốt đặc, hòa thêm với đường cho dễ uống. Trẻ em ngày hai lần, mỗi lần 1/2 bát ăn cơm; người lớn uống ngày hai lần, mỗi lần một bát ăn cơm. Uống liên tục 5 – 7 ngày.

Chữa mụn nhọt: Rau má và lá gấc mỗi thứ 50g rửa thật sạch, giã nhỏ, cho ít muối vào trộn đều, đắp lên chỗ đau rồi băng lại, ngày thay thuốc 2 lần, đắp cho đến khi khỏi.

Theo Suckhoedoisong.vn

Hải sản là món ăn được nhiều người ưa thích. Thủy hải sản chứa nhiều chất dinh dưỡng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe. Muốn ăn hải sản có lợi cho sức khỏe, bạn cần tránh những cách ăn uống sai lầm sau đây.

Nên ăn hải sản tươi sống, nấu chín kỹ

Nên chọn hải sản tươi sống, vì chúng đảm bảo giá trị dinh dưỡng. Nếu không có đồ tươi mới phải ăn hải sản đông lạnh. Nếu là hải sản được người bán ướp đá cục thì cần xem xét kỹ trước khi chọn mua, chỉ chọn khi biết là hải sản còn tươi chưa bị sình ươn. Hải sản tươi mới còn nguyên vẹn giá trị dinh dưỡng, mùi vị thơm ngon. Còn hải sản đã bị ươn, vỡ bụng, mềm nhũn, chảy nhớt, có mùi khó chịu… rất dễ gây ngộ độc cho người ăn.

Để giữ được nhiều giá trị dinh dưỡng và vị ngọt, nên chế biến hải sản bằng phương pháp hấp, luộc, nướng hơn là chiên rán. Làm sạch và khử mùi tanh của hải sản bằng hành, tỏi, sả, ớt… Khi ăn hải sản, nên chế biến và ăn nóng mới nhiều dinh dưỡng. Trong hải sản thường có ký sinh trùng và vi trùng. Vì vậy, bạn cần nấu chín kỹ mới ăn để tránh mắc bệnh.loi-khuyen-quy-gia-khi-an-hai-san-1

Nên chọn mua ăn hải sản tươi sống vì chúng đảm bảo giá trị dinh dưỡng ngon, bổ.

Với hải sản đông lạnh, không nên luộc hấp

Nên hạn chế luộc hay hấp những loại hải sản đã để lâu trên ngăn đá. Khi đã để lâu thì chỉ thích hợp để xào, chiên hơn, bởi sau thời gian cất trữ, vi khuẩn dần hình thành, protein mất đi nhiều, không còn hương vị… Ngoài ra, cần làm sạch và khử hết mùi tanh thường có của hải sản bằng hành, tỏi, sả, ớt… Khi ăn hải sản nên chế biến và ăn càng sớm càng tốt và ở nhiệt độ cao sẽ an toàn cho sức khỏe hơn, ăn lúc còn nóng thì nhiều dinh dưỡng hơn để nguội.Không ăn hải sản đã chế biến lâu

Nếu hải sản bị chết hoặc bảo quản ở nhiệt độ thường, chúng rất nhanh chóng bị các vi khuẩn xâm nhập và sinh sôi nảy nở nên dễ gây bệnh.

Một số loại hải sản như cá ngừ, cá thu, cá nục… vi khuẩn còn biến thịt của cá thành chất độc, nếu người ăn phải sẽ bị ngộ độc với các triệu chứng: nổi mẩn đỏ, nóng bừng, tim đập mạnh, đau đầu, khó thở…

Không ăn hải sản cùng với thực phẩm có tính lạnh

Theo đông y, hải sản có tính hàn, nên khi ăn tốt nhất tránh ăn kèm với những thực phẩm mang tính hàn khác như: rau muống, dưa chuột, dưa hấu, dấp cá, nước đá… dễ gây đầy bụng, khó tiêu.loi-khuyen-quy-gia-khi-an-hai-san-2

Không nên uống bia và uống trà sau khi ăn hải sản.

Không ăn hải sản cùng với thực phẩm giàu vitamin C

Hải sản tươi như tôm, cua, sò, ốc… thường rất ngon, bổ. Bình thường những loại hải sản này không có nguy cơ gì cho cơ thể. Nhưng nếu ăn kèm với thực phẩm giàu vitamin C thì lại gây hại cho cơ thể, như gây ngộ độc thạch tín cấp tính, có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Không nên uống rượu bia khi ăn hải sản

Nhiều nghiên cứu cho thấy: sự kết hợp giữa bia và hải sản sẽ dễ dẫn đến nguy cơ mắc bệnh gout hoặc làm bệnh tái phát hay nặng hơn. Vì lượng purine trong hải sản trong quá trình tiêu hóa sẽ hình thành axit uric, khi chất này dư thừa sẽ gây ra bệnh gout và các bệnh khác. Nếu ăn nhiều hải sản rồi sau đó uống bia sẽ đẩy nhanh tốc độ tạo thành axit uric. Lượng axit uric với nồng độ cao sẽ tích tụ tại các khớp xương hoặc các mô mềm từ đó dễ dàng gây bệnh gout, viêm khớp xương và mô mềm.

Không nên ăn trái cây và uống trà sau khi ăn hải sản

Nhiều người thường có thói quen uống trà và ăn trái cây tráng miệng sau bữa ăn. Nhưng việc này không tốt, bởi lượng axit tannic có trong trà khi kết hợp với lượng canxi có trong hải sản cũng sẽ tạo thành canxi không hòa tan, gây kích ứng lên hệ tiêu hóa. Quá trình này cũng gây ra các triệu chứng: đau bụng, buồn nôn, nôn mửa và kết sỏi dẫn đến sỏi thận. Như vậy, tốt nhất chỉ uống trà và ăn trái cây sau khi ăn hải sản 2 tiếng trở lên.

Ai không nên ăn hải sản?

Tuy hải sản giàu dinh dưỡng, ăn lại thơm ngon, nhưng không phải ai ăn cũng tốt. Vậy ai không nên ăn hải sản?

Phụ nữ mang thai và cho con bú không nên ăn nhiều hải sản: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, phụ nữ mang thai và đang cho con bú, nếu thường xuyên ăn hải sản sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển hệ thần kinh của thai nhi hoặc của trẻ sơ sinh, đặc biệt có những triệu chứng bệnh lý mà đến khi trẻ em từ 7-14 tuổi mới xuất hiện. Vì thế, các chuyên gia khuyến cáo: phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú nên hạn chế ăn hải sản, tốt nhất mỗi tuần chỉ nên ăn 1-2 lần và mỗi lần chỉ dưới 100 gam.

Bệnh nhân mắc bệnh gout hay viêm khớp: Những người bị bệnh gout cần kiêng ăn hải sản. Ăn hải sản và uống rượu bia làm tăng axit uric trong máu dễ gây bệnh gout hoặc làm cho bệnh này tăng nặng.

Người có cơ địa dị ứng: Hải sản nói chung thường chứa chất gây dị ứng. Đây là thức ăn gây dị ứng nhiều nhất trong số các trường hợp bị dị ứng do ăn uống. Chất gây dị ứng có trong hải sản khi vào cơ thể sẽ gây ra phản ứng quá mẫn. Phản ứng dị ứng rất đa dạng và thường xảy ra nhanh, chỉ vài phút hay vài giờ sau khi ăn. Nhẹ thì nổi mề đay từng vùng hoặc khắp người, gây ngứa ngáy, phù nề mặt. Nặng thì ngoài nổi ban và ngứa còn phù mặt, nôn, đau quặn bụng, cảm giác nóng rát thượng vị, tiêu chảy, khó thở… Thậm chí bị sốc phản vệ, có thể tử vong.

Theo Suckhoedoisong.vn

Trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều yếu tố gây độc cho da mà chúng ta không nghĩ tới như: khói bụi, ô nhiễm môi trường, hóa chất tồn tại trong các sản phẩm sinh hoạt hàng ngày… Tại BV Da liễu Trung ương thường xuyên tiếp nhận bệnh nhân mắc bệnh lý về da do nhiễm độc, trong đó có nhiễm độc từ nguồn nước sinh hoạt.
Da dễ bị nhiễm độc

TS.BS Vũ Nguyệt Minh – Phó trưởng khoa Tế bào gốc, BV Da liễu Trung ương cho biết, da chiếm khối lượng rất lớn trên cơ thể và nó cũng là một cơ quan của cơ thể tương tự như tim, gan, thận…. Vì thế các cơ quan khác bị nhiễm độc thì da cũng bị nhiễm độc. Song quá trình nhiễm độc của da thường dễ và nhanh hơn các cơ quan khác do da bao phủ bên ngoài cơ thể, tiếp xúc trực tiếp với môi trường, khi môi trường bên ngoài không đảm bảo thì da lại càng dễ bị nhiễm độc.

Theo TS. Minh, có 2 nguyên nhân chính khiến cho da bị nhiễm độc là tiếp xúc trực tiếp (như công nhân trong môi trường làm việc với các hóa chất độc hại như chì, than…). Có 4 chất độc cho cơ thể mà da rất dễ bị ngộ độc đó là: Arsen, cadmium, chì và thủy ngân. Trong đó, tại Bệnh viện Da liễu Trung ương hay gặp nhất là các bệnh nhân nhiễm độc từ nguồn nước sinh hoạt có chứa arsen.

Khảo sát nguồn nước ở đồng bằng sông Hồng và thành phố Hà Nội của các chuyên gia Việt Nam và Thụy Sỹ cho thấy: nồng độ arsen từ 0,1- 810 μg/l, có 27% giếng có nồng độ arsenic vượt quá nồng độ an toàn 10 μg/l do Tổ chức Y tế thế giới quy định.

Ngoài ra, công nhân làm nghề luyện kim, khai mỏ, sản xuất kính… hoặc uống thuốc điều trị hen phế quản cổ truyền có nguy cơ cao nhiễm arsen. Arsen lắng đọng tại tổ chức giàu keratin như móng, tóc và da, gây ra biểu hiện sừng dạng điểm dày trên bàn tay, chân, thậm chí là ung thư da.

canh-bao-de-nhiem-doc-da-ung-thu-da-neu-khong-bao-ho-che-chan-cho-co-the-1Da là bộ phận tiếp xúc trực tiếp với môi trường, khi môi trường bên ngoài không đảm bảo thì da lại càng dễ bị nhiễm độc. Ảnh minh họa.

Nguyên nhân thứ 2 là do chế độ ăn uống, thuốc men… Thời gian gần đây, người ta nhắc nhiều tới vấn đề nhiễm độc chì trong thuốc. Đặc biệt là chì có trong các loại thuốc cam, thuốc tưa lưỡi gây ngộ độc hay gặp ở trẻ em. Chì còn có trong một số loại sơn, sản xuất ắc quy, thủy tinh, đồ tráng men… Oxit chì hấp thu dễ dàng qua da. Ngộ độc chì gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thần kinh trung ương và nhiều cơ quan khác.

Với nhiễm độc thủy ngân, theo BS. Nguyệt Minh thường là do ăn các loại cá sống ở tầng đáy của đại dương. Cá loại cá càng to thì nguy cơ nhiễm độc thủy ngân càng lớn. Bên cạnh đó, trẻ em có thể vô tình tiếp xúc với thủy ngân khi ngậm nhiệt kế thủy ngân bị vỡ, thủy ngân bốc hơi dễ dàng ở nhiệt độ phòng có thể tấn công vào hệ thần kinh trung ương, phổi, viêm miệng, viêm ruột…

Một chất độc cho da được nhắc tới nhiều đó chính là khói thuốc lào, thuốc lá. Chất cadmium có trong thuốc lá do nhiễm từ nguồn đất cũng là một chất độc cho cơ thể, và tất nhiên nó cũng gây hại cho da.
Cách nào trị nhiễm độc cho da?

Hiện nay trên mạng xã hội và các spa, thẩm mỹ viện quảng cáo rất nhiều về phương pháp hút chì thải độc tố cho da với những lời quảng cáo “có cánh” để “làn da sạch không tì vết”, “hút chì thải độc điều trị mụn tốt nhất”… Tuy nhiên, Giám đốc BV Da liễu Trung ương Nguyễn Văn Thường khẳng định, hút chì, thải độc trên da mặt không có cơ sở khoa học.

“Thải chì chỉ là “chiêu trò” câu khách của các cơ sở làm đẹp hiện nay, không có chuyện chì được hút đen đầy mặt như các spa đang quảng cáo”. (Mời bạn đọc xem chi tiết tại đây).

canh-bao-de-nhiem-doc-da-ung-thu-da-neu-khong-bao-ho-che-chan-cho-co-the-2Chăm sóc da từ khi còn trẻ sẽ giúp da đẹp và khỏe hơn.

Một biện pháp khác cũng hay được nhắc đến đó là detox thải độc cho da. Tuy nhiên theo BS. Nguyệt Minh, con người sinh sống trong môi trường chịu tác động rất lớn của tia UVA, UVB và các yếu tố ô nhiễm khác. Các ảnh hưởng từ môi trường, đặc biệt là ánh sáng này làm da sinh ra các gốc tự do gây độc cho tế bào da và dẫn đến ung thư da, lão hóa da.

Khái niệm thải độc hiện nay hay nhắc đến là chống lại gốc tự do do chính cơ thể sinh ra. Các thực phẩm detox hiện nay chủ yếu là có các thành phần trung hòa gốc tự do như vitamin C, vitamin E, glutathione, acetyl cysteine,… giảm thiểu các chất này tác hại lên cơ thể.

Còn trong trường hợp nếu như bị nhiễm chất độc như arsen, chì, cadmium hay thủy ngân…. từ môi trường vào cơ thể thì cách phòng tránh tốt nhất là phát hiện yếu tố nguy cơ và tránh tiếp xúc. Trong trường hợp này nếu dùng detox vitamin E, vitamin C là không cao bằng việc cách ly với nguồn nhiễm.

Có thể dùng các loại vitamin hỗ trợ quá trình đào thải chất độc ví dụ: Vitamin E, kẽm có lợi trong quá trình đào thải Asen; vitamin C có lợi trong quá trình đào thải thủy ngân qua mồ hôi…

Để có được làn da đẹp, khỏe mạnh, PGS.TS Nguyễn Văn Thường khuyến cáo, chị em cần chú ý chăm sóc da ngay từ khi còn trẻ (khoảng 26 – 27 tuổi).

Đối với nam giới quá trình lão hoá chậm hơn nên việc chăm sóc da có thể bắt đầu khi 31 – 32 tuổi.

Việc chăm sóc da hàng ngày đơn giản nhất là uống nhiều nước, tăng cường ăn rau xanh, trái cây, ngủ đủ giấc và bôi kem chống nắng từ 2 – 3 tiếng/lần, bôi trước khi đi ra ngoài đường 30 phút.

Đặc biệt, vào thời điểm mùa hè cần hạn chế ra ngoài trời nắng, nếu phải ra ngoài nên mặc áo chống nắng, đội mũ rộng vành, đeo kính để bảo vệ cơ thể khỏi tác hại của ánh nắng mặt trời.

Theo Suckhoedoisong.vn

Cỏ nhọ nồi tên khác cây cỏ mực, hạn liên thảo, mặc hán liên. Cỏ nhọ nồi tính hàn, vị ngọt, chua, lợi về các kinh tỳ, vị, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, mát huyết, cầm máu, bổ gan thận…

dùng tươi hoặc sấy khô. Tại nước ta, Viện Dược liệu từng nghiên cứu tác dụng cầm máu và độc tính của cỏ nhọ nồi cho thấy cây có khả năng chống lại tác dụng của dicumarin (thuốc chống đông), cầm máu ở tử cung, tăng trương lực tử cung… Vị thuốc này còn được dùng trong điều trị sốt xuất huyết, bệnh nha chu, trị sưng gan, sưng bàng quang, bó ngoài giúp liền xương… hỗ trợ điều trị ung thư và nhiều bệnh khác. Dưới đây là những phương thuốc điển hình:

Chi huân ẩm (thuốc nhức đầu): cỏ nhọ nồi 10g, đương quy 12g, xuyên khung 10g, thục địa 12g, thanh khao 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Chữa huyết hư, nhức đầu.

Giảm phì ẩm (thuốc giảm béo): cỏ nhọ nồi 15g, hãm với nước sôi, uống thay trà hằng ngày.

Tiêu khát ẩm (chữa tiểu đường, người gầy mệt mỏi): lư căn tươi 30g, ô mai 5 quả, mạch môn đông 10g, nam sa sâm 10g, ngọc trúc 10g, nữ trinh tử 10g,  cỏ nhọ nồi 10g. Sắc uống ngày một thang.

Cánh niên an ẩm (thuốc cho phụ nữ mãn kinh): phiền táo, nhức đầu , ngủ không ngon giấc…):  cỏ nhọ nồi 9g, hồng hoa 9g, hoàng cầm 9g, đương quy 9g, xuyên khung 6g, sinh địa 12g, hoa cúc 9g, bạch thược 12g, ngưu tất 9g, nữ trinh tử 9g, lá dâu 9g. Sắc uống ngày một thang.

Thận viêm khang ẩm (chữa viêm cầu thận, viêm thận mạn tính, lưng đau triền miên): cỏ nhọ nồi 30g, tiểu kế 30g, xuyên khung 10g, thục địa 10g, đương quy 10g, xích thược 15g, bạch thược 15g, bồ hoàng 15g. Sắc uống ngày một thang.

Lợi trọc thang (chữa viêm tiền liệt tuyến): cỏ nhọ nồi 15g, câu kỷ tử 15g, thục địa 15g, ích trí nhân 10g, thỏ ty tử 12g, đảng sâm 15g, hoàng kỳ 15g, tỏa dương 10g, nữ trinh tử 12g, thổ phục linh 24g, đương quy 6g, vương bất lưu hành 10g. Sắc uống ngày một thang.

Ích khí cố thận thang (thang ích khí bổ thận, chữa xuất huyết tử cung): cỏ nhọ nồi 30g, hoàng kỳ 60g, bạch thược 15g, thục địa 15g, sinh địa 15g, kinh giới sao 10g, nữ trinh tử 15g, thăng ma 6g, phúc bồn tử 15g. Sắc uống ngày một thang.

Chú ý: Người viêm đại tràng mạn tính, đại tiện lỏng, sôi bụng không nên dùng cỏ nhọ nồi. Cỏ nhọ nồi không gây giãn mạch, không hạ huyết áp, nhưng có thể gây sẩy thai.

Theo Suckhoedoisong.vn

Rau cải cúc còn có tên tần ô. Không chỉ làm rau ăn, còn được xem là vị thuốc chữa bệnh hiệu quả. Rau cải cúc có mùi thơm mát…

Rau cải cúc còn có tên tần ô. Không chỉ làm rau ăn, còn được xem là vị thuốc chữa bệnh hiệu quả. Rau cải cúc có mùi thơm mát, có thể ăn sống như xà lách, chế dầu xốt cà chua, bóp giấm, ăn với lẩu, nấu canh thịt, cá, đặc biệt món cá thát lát nấu với tần ô rất ngon, được nhiều người ưa thích.

Theo y học cổ truyền, rau tần ô vị ngọt nhạt, hơi đắng the, mùi thơm, tính mát. Tác dụng kiện tỳ vị, tiêu đàm, giáng hỏa. Chữa ho lâu ngày, viêm họng, đau mắt, đau đầu, thổ huyết. Rau tần ô chứa protid; glucid, ngoài ra còn chứa nhiều vitamin B1, C, A đều là dưỡng chất có lợi cho sức khỏe. Rau tần ô mềm, rất thích hợp với người già và trẻ em.

Dưới đây là một số món ăn bài thuốc từ tần ô có tác dụng chữa bệnh:

Chữa phế nhiệt ho khan: rau tần ô 100g hoặc hơn, cá khoai, gia vị vừa đủ nấu thành canh, ăn tuần vài lần.

Chữa bệnh tỳ vị hư ăn không ngon: rau tần ô 150g, thịt cá lóc 50g, gừng, hành ngũ gia vị vừa đủ nấu canh ăn.mon-an-thuoc-tu-rau-cai-cuc-1

Cháo rau tần ô chữa ngoại cảm, ho, đau họng.

Chữa đau đầu ngoại cảm và nội thương: rau tần ô 150g sắc uống hoặc nấu canh ăn.

Chữa tăng huyết áp, đau đầu: rau tần ô 100g, cá thát lát 100g, gừng, hành gia vị vừa đủ nấu canh ăn.

Chữa ngoại cảm ho đau họng: rau tần ô 100g rửa sạch thái nhỏ cho vào bát tô, đổ cháo nóng lên độ 5 – 10 phút, cho thêm gừng hành gia vị vừa đủ trộn đều, ăn khi cháo còn nóng cho ra mồ hôi.

Chữa trẻ ho lâu ngày: rau tần ô 100g  rửa sạch, thái nhỏ, cho ớt, mật ong, gừng hấp cách thủy lấy nước thuốc chia ra làm nhiều lần để trẻ uống.

Chữa nhức đầu kinh niên: rau tần ô một nắm hơ nóng đắp lên hai bên thái dương vào buổi tối trước khi đi ngủ hoặc lúc thấy nhức đầu. Đồng thời nấu nước rau tần ô uống.

Chữa đau mắt đỏ: rau tần ô 150g, cá diếc 1-2 con, hành, gia vị vừa đủ nấu canh ăn.

Chữa chứng chảy máu cam: rau tần ô 100g, cà chua, gan lợn, hành, gia vị vừa đủ làm sốt cà chua với gan lợn, chấm rau tần ô ăn hoặc phối hợp rau tần với gan lợn ăn.

Lưu ý: rau tần ô dễ bị nhiễm trứng giun nên nấu canh ăn chín. Nếu ăn sống, bóp giấm, sốt cà phải rửa thật sạch.

Theo Suckhoedoisong.vn

Nhiều người cho rằng ăn gạo nếp gây béo hơn ăn gạo tẻ, ăn đồ nếp nóng, dễ mọc mụn…. Theo PGS Nguyễn Thị Lâm – Nguyên Phó Viện Trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, sự khác biệt duy nhất giữa gạo nếp và gạo tẻ là do cảm quan của chúng ta về độ dính và độ dẻo của chúng. Trong thực tế, hai loại gạo này gần như tương đồng về mặt giá trị dinh dưỡng.

Cơm nếp no lâu hơn cơm tẻ do nhiều dinh dưỡng

Trong 100 g gạo nếp có 344 kcal, trong khi cùng 100 g gạo tẻ có 350 kcal. Nhưng khi ăn cùng một bát, với cơm nếp sẽ có lượng nhiều hơn do bản chất hạt dẻo, dính nên vô tình bị nén xuống còn bát cơm tẻ lại có độ rời rạc. Đó chính là lý do người ta ăn cơm nếp có cảm giác no hơn và béo hơn khi ăn cơm tẻ song nếu hiểu bản chất và ý thức được lượng cơm nạp vào chúng ta sẽ không thấy sự khác nhau này.

PGS.TS Nguyễn Thị Lâm cũng cho biết, việc ăn nhiều hay ăn ít cơm nếp phụ thuộc vào thói quen, sở thích chứ ăn cơm nếp nhiều không ảnh hưởng tới sức khoẻ, thậm chí ngược lại, cơm nếp có lợi cho sức khoẻ. Nhiều người thậm chí ăn nếp thay cơm.

Sở dĩ có sự khác nhau về độ dẻo của hai loại gạo này là bởi hai thành phần amilozơ và amylopectin trong mỗi hạt tinh bột. Trong đó, amilopectin có vai trò quyết định đến tính dẻo của hạt. Trong gạo, ngô tẻ, lượng amilopectin chiếm 80%, còn trong gạo, ngô nếp, lượng amilopectin có tới 90% nên xôi thường rất dẻo, dính vào nhau.

Sự khác biệt duy nhất giữa gạo nếp và gạo tẻ là do cảm quan của chúng ta về độ dính và độ dẻo của chúng. Trong thực tế, hai loại gạo này gần như tương đồng về mặt giá trị dinh dưỡng.

Cơm nếp bị nóng

Về điều này, BS.CK I Đông Y Bùi Văn Phao cho hay, gạo nếp có tính ôn ấm nên khi ăn nhiều có thể bị nóng. Trong đông y khuyến cáo những người có thể chất thiên nhiệt hoặc đàm nhiệt, những người đang bị bệnh có sốt, ho khạc đờm vàng, vàng da, chướng bụng… nên tránh dùng đồ nếp.

Còn về việc nhiều người quan niệm ăn đồ nếp sẽ khiến chỗ bị sưng viêm, vết thương mưng mủ, lương y Hồng Minh giải thích: người bệnh bị mưng mủ thường là người thể hàn, tích độc nhiều (béo, đờm dãi nhiều) do vậy thức ăn chứa nhiều đạm, có chất dẻo nhiều, khó tiêu như thịt trâu, gạo nếp, thịt chó càng làm tình trạng nặng thêm.

Gạo nếp được chế biến thành các vị thuốc để chữa bệnh. ẢNh: minh họa

Bài thuốc chữa bệnh từ gạo nếp

Theo lương y Bùi Hồng Minh, gạo nếp vị ngọt, tính ấm vào được ba đường kinh tỳ, vị và phế, có công dụng bổ trung ích khí, kiện tỳ dưỡng vị, ích phế chỉ hãn, có thể dùng gạo nếp chữa bệnh theo các bài thuốc:

Bồi bổ cho người suy nhược: gạo nếp 250 g, rượu vang 500 ml, trứng gà hai quả. Tất cả cho vào bát to, đem hấp cách thuỷ cho chín, chia ăn vài lần.

Người ăn kém, hay buồn nôn: gạo nếp 30 g tán ra bột mịn, nấu thành dạng hồ loãng, cho thêm 30 g mật ong, chia ăn vài lần trong ngày.

Người bị bệnh đường ruột, đại tiện lỏng nát kéo dài: gạo nếp 500 g ngâm nước một đêm, để ráo rồi sao thơm. Hoài sơn 50 g, sao vàng. Hai thứ tán thành bột mịn, mỗi sáng dùng 20 – 30 g, khuấy đều với nước sôi, thêm chút đường đỏ và hạt tiêu để làm món điểm tâm.

Người viêm dạ dày mãn tính và loét dạ dày: gạo nếp lượng vừa đủ, cho thêm táo tàu đun thành cháo loãng để ăn. Ngày ăn từ 1 – 2 lần.

Người nôn mửa không dứt: gạo nếp sắc với gừng: gạo nếp 20g , sao vàng; gừng tươi ba lát giã nhỏ. Đem hai thứ sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống trong ngày.

Trị thiếu máu: gạo nếp 100 g, đậu đen 30 g, hồng táo 30 g, đun thành cháo. Mỗi ngày ăn từ 1 – 2 lần.

Tăng tiết sữa: gạo nếp, cho thêm nước vào nấu nhừ với chân giò hoặc móng giò heo, lõi thông thảo, đu đủ non và lá sung sẽ giúp làm tăng tiết sữa.

Theo Suckhoedoisong.vn

“Trước kia, mình lúc nào cũng ao ước một lần đủ tự tin bước ra ngoài với gương mặt mộc. Nhưng lần nào cũng thế, chỉ khi nào trang điểm thật cẩn thận xong mình mới thoải mái đi làm hay đi chơi được. Thậm chí nhiều khi ở nhà mình cũng để lớp trang điểm, đến lúc đi ngủ mới tẩy đi vì không muốn để chồng nhìn thấy những vết nám, tàn nhang và nếp nhăn trên khuôn mặt.”

Khi mình gần như buông xuôi trong cuộc chiến trị nám da, thì may mắn tình cờ biết đến bí quyết về bộ sản phẩm giúp giữ gìn và tái sinh làn da không tuổi.”- chia sẻ của chị Thanh (29 tuổi, sống tại Cổ Nhuế, Hà Nội).

Tuổi thì có thể già đi, nhưng đừng để điều đó xảy ra với làn da của bạn

Cảm nhận về chị Thanh là một người phụ nữ xinh đẹp, tự tin và cũng rất cởi mở. Dáng người cân đối, làn da trắng làm nổi bật nên ngũ quan xinh đẹp. Nói chuyện với chị một lúc chúng tôi còn bất ngờ hơn khi thấy làn da của chị rất căng mịn, trắng sáng và không thấy bất kì nếp nhăn nào. Khi thấy chúng tôi bày tỏ sự hâm mộ với làn da của mình, chị Thanh thoải mái chia sẻ và cho chúng tôi xem những bức ảnh của chị cách đây 1 năm. Những bức ảnh và người đang nói chuyện với chúng tôi bây giờ giống như hai người khác nhau.

Nhớ lại thời gian trong quá khứ, chị Thanh chia sẻ: “Cách đây một năm các bạn mà gặp mình sẽ không thể nhận ra đâu, người thì xồ xề, các vết nám kín hết hai bên má. Mình giữ lại những bức ảnh này để nhắc nhớ bản thân rằng là phụ nữ, tuổi tác có thể già đi, đây là sự tất nhiên của tạo hóa, nhưng không thể để làn da già đi mà không có biện pháp ngăn chặn.”

Khóc thét về sự thay đổi sau khi sinh con

Chị Thanh luôn quan niệm việc chăm sóc da là rất cần thiết. Ngay từ thời con gái chị đã để ý đến việc dưỡng da và chăm sóc làn da. Bản thân chị nhận thấy da của mình cũng khá ổn, vì vậy chị chỉ dùng kem dưỡng và kem chống nắng là đủ để làn da được bảo vệ mà vẫn mịn màng.

Mọi việc thay đổi sau khi sinh xong bé đầu tiên, vui mừng vì gia đình có thêm một thành viên mới nhưng chị để ý da mặt bắt đầu xuất hiện các vết nám và tàn nhang, trên da mặt còn xuất hiện nhiều vết nám nhỏ, da mỏng hơn, có nhiều mạch máu nhỏ xuất hiện li ti dưới da khiến chị tư ti rất nhiều. “Lúc ấy mình khá lo lắng, có tìm hiểu trên mạng thì được biết nguyên nhân các vết nám da có thể do thay đổi nội tiết tố sau sinh. Vì vậy, mình có tìm đến các loại thuốc giúp cân bằng nội tiết. Nhưng các vết nám da vẫn ngoan cố không chịu đi.”

Chị Thanh nhớ lại “Thời gian sau đó, quá bận rộn với công việc và chăm sóc gia đình, mình dường như quên đi sự tồn tại của các khiếm khuyết kia trên khuôn mặt. Cho đến khi sinh bé thứ hai, tình trạng các vết nám trở nên trầm trọng. Chúng mọc nhiều hơn ở hai bên má và đậm màu hơn. Thậm chí, da mình không được mịn màng như trước nữa, và có thêm các nếp nhăn ở đuôi mắt mỗi khi cười.”

Chị càng khủng hoảng hơn vì sau khi sinh bé thứ hai, dù tập luyện và kiêng ăn nhưng vẫn không thể lấy lại được vóc dáng. “Cơ thể xồ xề cùng gương mặt nám sạm luôn ám ảnh mình, khiến mình không thể không nghĩ đến chúng. Bản thân là một người rất coi trọng vẻ bề ngoài, thời gian đó, mình bị stress nặng vì những thay đổi sau khi sinh con mang lại. Và hậu quả là mình không dám ra ngoài nếu không trang điểm cẩn thận” Chị Thanh chia sẻ

Thay làn da, đổi cuộc đời

“Đây là hồi chuông cảnh báo nhắc mình cần phải có biện pháp để làn da trở lại như thời con gái.” Sau đó, chị Thanh tìm hiểu rất nhiều thông tin trên mạng, cả vào spa, thẩm mỹ viên điều tri theo liệu trình nhưng các vết nám da không hề mờ đi. Khi chị đang có ý định sang bệnh viện đại học Y để điều trị triệt để nám thì vô tình xem được clip review một bộ sản phẩm trị nám của Hana Giang Anh.

“Mình mê xem live stream lắm, những lúc rảnh rỗi thường ngồi xem live stream tâm sự, review sản phẩm và bán hàng. Nhiều khi chồng mình còn càu nhàu sao em xem live stream nhiều thế mà không chán à. Nhưng cũng nhờ mê xem live stream mà mình biết được bộ sản phẩm trị nám chiết xuất từ nhau thai cừu này.” – chị Thanh vui vẻ nói.

Ban đầu, tuy thấy review rất tốt, nhưng vì là người cẩn thận mỗi khi sử dụng bất kì mỹ phẩm nào, chị Thanh chỉ thử ở những vùng da bị rạn, thâm nám sau sinh ở nách và mông. Kết quả bất ngờ, những vết thâm nám chỗ đó mờ đi đáng kể. Tin tưởng sử dụng, chị bôi lên mặt và kết quả da sáng lên trông thấy. Bên cạnh đó chị vẫn dùng cả viên uống nhau thai cừu nữa. Sau một thời gian đều đặn trong uống ngoài bôi, các vết nám hai bên má mờ đi, da sáng và mịn màng hơn. Chị Thanh cũng từ bỏ ý định đi điều trị tại bệnh viện và sử dụng bộ sản phẩm này mỗi ngày. Chi Thanh hào hứng “Tất cả nhờ có bộ sản phẩm chiết xuất từ nhau thai cừu này. Mình cũng đã giới thiệu cho nhiều bạn bè sử dụng và mong chờ những thay đổi tích cực cho làn da mà sản phẩm mang lại.”

Một làn da không nám sạm, nếp nhăn giúp chị Thanh tự tin hơn trong công việc cũng như cuộc sống. Giờ đây, chị không còn mất hàng tiếng đồng hồ để trang điểm mỗi khi ra ngoài, chỉ cần sử dụng son hoặc một lớp trang điểm nhẹ nhàng là đủ để chị tự tin dù đã là mẹ của hai con.


Bộ sản phẩm chống lão hóa da Chamrlux Anti-Aging chứa tinh chất nhau thai cừu, là giải pháp kết hợp chăm sóc từ bên trong và bên ngoài thật sự cần thiết để nuôi dưỡng làn da được tươi trẻ.

Sheep Placenta – Nhau thai cừu đã được sử dụng từ lâu. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học hiện đại đã cho thấy, nhau thai cừu chứa các thành phần có hoạt tính sinh học cao như các enzyme, acid nucleic, cytokine… có tác dụng trên nhiều mặt như làm đẹp da, chống lão hóa, phục hồi sức khỏe và tăng cường hệ miễn dịch.

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Charmlux Anti-Aging với tinh chất nhau thai cừu tươi kết hợp với các dưỡng chất từ thiên nhiên như Astaxanthin, Collagen và Coenzym Q10 giúp trẻ hóa và làm chậm quá trình lão hóa da như làm căng da, giảm nám sạm, tàn nhang, dưỡng da trắng mịn.

Bên cạnh đó, kem dưỡng trắng Charmlux Anti-Aging chứa chiết xuất nhau thai cừu, mật ong lên men, Hyalo-oligo… giúp da trắng hồng tự nhiên, đồng thời phục hồi nhanh chóng những tổn thương của làn da do tác động xấu của môi trường.

Hãy sử dụng kết hợp cả bộ sản phẩm nhau thai cừu Charmlux Anti-Aging giúp chăm sóc làn da cả bên trong lẫn bên ngoài, để luôn có làn da tươi trẻ, mịn màng, tràn đầy sức sống.

Sản phẩm có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc hoặc liên hệ mua hàng bằng  cách gọi điện ngay đến số tổng đài 1900.6436 hoặc truy cập:

Fanpage Charmlux Anti-Aging: https://www.facebook.com/Nhauthaicuu.Charmlux/

Website Charmlux Anti-Aging: http://charmlux.vn/

Website Dược Việt Đức Store: Viên uống nhau thai cừu CharmluxKem nhau thai cừu Charmlux

Theo dược học cổ truyền, sắn dây vị ngọt, tính mát, có công dụng giải cơ thoái nhiệt, phát biểu thấu chẩn, sinh tân chỉ khát, thăng dương chỉ tả.

Theo dược học cổ truyền, sắn dây vị ngọt, tính mát, có công dụng giải cơ thoái nhiệt, phát biểu thấu chẩn, sinh tân chỉ khát, thăng dương chỉ tả, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt do ngoại cảm, đau cổ gáy, đau đầu, sởi, sốt cao khát nước, đái tháo đường, tiêu chảy, kiết lỵ, huyết áp cao, thiếu máu cơ tim, chảy máu cam,…

Có nhiều cách chế biến nước sắn dây giải khát, tuy nhiên có thể kể ra vài phương thức chính sau đây:

Bài 1: Củ sắn dây thái phiến, phơi hoặc sấy khô, đựng trong lọ kín để dùng dần, mỗi ngày lấy 20 – 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Khi uống, có thể pha thêm một chút đường phèn. Cũng có thể cho vào nồi sắc lấy nước uống.

Bài 2: Bột sắn dây 3 thìa cà phê, đường trắng vừa đủ, hai thứ đem hòa với nước sôi để nguội trong cốc, chế thêm một chút nước cốt chanh hoặc quất (cũng có thể cho quất hoặc chanh thái lát), quấy đều rồi uống. Tùy theo sở thích có thể đem ướp lạnh hoặc cho thêm vài viên nước đá.

Bài 3: Củ sắn dây thái phiến và câu đằng lượng bằng nhau, hai thứ đem tán vụn, phơi hoặc sấy khô, trôn đều rồi đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày lấy 30g đựng trong túi vải buộc kín miệng rồi đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Đây là loại nước giải khát rất tốt cho những người bị cao huyết áp, đau đầu, nhiệt miệng, cổ vai đau nhức.

Bài 4: Củ sắn dây 200g, đan sâm 180g, bạch linh 90g, cam thảo 60g. Tất cả sấy khô tán vụn, đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày lấy 40g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Đây là thứ nước giải khát cực tốt cho những người mắc các bệnh tim mạch. Tuy nhiên, phụ nữ có thai không được dùng.

Lưu ý: Trên thị trường hiện nay có hai loại sắn dây: sắn dây ta và sắn dây tàu (có nguồn gốc từ Trung Quốc). Sắn dây tàu cho lượng bột nhiều hơn nhưng chất lượng giải nhiệt và mùi thơm không bằng sắn ta. Hơn nữa, vì lợi nhuận, gian thương thường hay trộn bột sắn thường với bột sắn dây để kiếm lời. Bởi vậy, khi mua người tiêu dùng cần thận trọng, tốt nhất là nên tự mình mua củ sắn dây tươi về tự chế biến hoặc thuê các cơ sở có uy tín và đảm bảo vệ sinh. Dân gian thường ướp bột sắn dây với hoa bưởi hoặc hoa nhài để làm tăng thêm sức hấp dẫn của loại nước giải khát độc đáo này.

Theo Suckhoedoisong.vn

Kim ngân hoa còn gọi nhẫn đông, là nụ hoa của cây nhẫn đông (Lonicera japonica Thunb.), thuộc họ cơm cháy (Caprifoliaceae).

Nhẫn đồng đằng là dây leo của cây nhẫn đông (hay gọi là kim ngân dây), công dụng giống kim ngân hoa nhưng hơi kém hơn; có tác dụng trừ phong nhiệt ở kinh lạc mà giảm đau. Kim ngân hoa sao đen gọi là kim ngân hoa khôi, có tác dụng lương huyết, cầm đi lỵ, trị xích lỵ, đại tiện ra máu.

Kim ngân hoa có các flavonoid (luteolin, lonicerin…); tanin và chất sáp… Có tác dụng kháng virut, vi khuẩn, chống viêm hạ sốt, điều hoà chức năng miễn dịch, giảm mỡ máu, tăng nhu động ruột, tăng tiết dịch vị và dịch mật. Theo Đông y, kim ngân hoa vị ngọt, tính lạnh; vào phế, vị, tâm, tỳ, đại tràng. Tác dụng thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ lỵ. Dùng cho các trường hợp nhiễm vi khuẩn, virut gây bệnh cấp tính sốt nóng, viêm khí phế quản, đau rát họng ho, miệng khô họng khát, hội chứng kiết lỵ, mụn nhọt lở ngứa, phát ban. Liều dùng, cách dùng: 8 – 125g bằng cách nấu, sắc, hãm.

Một số bài thuốc có kim ngân

Giải độc, trị nhọt. Trị ung nhọt do nhiệt độc.

Bài 1 – Thanh trường ẩm: kim ngân hoa 200g, mạch đông 63g, địa du 63g, hoàng cầm 16g, cam thảo 12g, huyền sâm 125g, ý dĩ nhân 20g, đương quy 125g. Sắc uống. Trị viêm ruột thừa cấp tính hoặc viêm phúc mạc cục bộ.

Bài 2: kim ngân hoa (hoặc kim ngân dây) 12g, cúc hoa 2g, bồ công anh 12g, sinh cam thảo 4g. Sắc uống. Trị mụn nhọt sưng đau.

Bài 3: kim ngân hoa 20g, cam thảo 20g. Sắc uống. Dùng một lượng kim ngân hoa tươi, giã nát, chế với rượu, đắp xung quanh chỗ đau. Trị mọi chứng ung thũng nhọt độc.

Bài 4: kim ngân hoa 20g, bồ công anh 16g, liên kiều 12g, hoàng cầm 12g, tạo giác thích 12g, bối mẫu 8g, trần bì 6g, cam thảo 4g. Sắc uống. Chữa mụn nhọt.

Tán nhiệt giải biểu. Trị chứng nhiệt mới mắc phát sốt.

Bài 1 –  Ngân kiều tán: kim ngân hoa 16g, liên kiều 12g, cát cánh 8g, bạc hà 4g, trúc diệp 12g, cam thảo 4g, kinh giới tuệ 8g, ngưu bàng tử 12g, đậu nhự 8g. Sắc uống. Tân lương giải biểu, thanh nhiệt giải độc. Trị các bệnh thuộc nhiệt, ớn lạnh phát sốt, yết hầu sưng đau hoặc viêm tuyến mang tai cấp tính.

Bài 2: kim ngân hoa 20g, bồ công anh 20g, hạ khô thảo 20g. Sắc uống. Phòng viêm màng não.

Bài 3: kim ngân hoa 16g, nhân trần 20g, xa tiền 16g, phục linh 12g, ý dĩ 12g, trư linh 8g, trạch tả 8g, đại phúc bì 8g. Chữa viêm gan virut.

Bài 4: kim ngân hoa 20g, bạch mao căn 20g, cỏ nhọ nồi 16g, hoa hòe 16g, liên kiều 12g, hoàng cầm 12g, chi tử 8g, tri mẫu 8g. Chữa sốt xuất huyết; nếu khát nước, thêm huyền sâm 12g, sinh địa 12g.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn; người mụn nhọt thuộc âm hoặc khi vỡ chảy nước, mủ chảy ra màu trong nhạt đều không nên dùng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Câu kỷ tử còn gọi củ khởi, địa cốt, rau khởi. Tên khoa học: Lycium sinense Mill., họ cà (Solanaceae).

Cây củ khởi cho 2 vị thuốc là câu kỷ tử và địa cốt bì. Câu kỷ tử là quả chín sấy khô; địa cốt bì là vỏ rễ phơi hay sấy khô.

Trong 100g quả chứa 3,1g protein, 1,9g lipid, 9,1g carbohydrat, 1,6g chất xơ; tinh dầu, sesquiterpen cùng các ester, các acid béo. Trong hạt chứa các chất sterol (gramisterol, citrostadiennol, lophenol, obtusifoliol…). Vỏ rễ chứa alcaloid (Kukoamin), õ-sitosterol và nhiều chất khác

Theo Đông y, câu kỷ tử vị ngọt, tính bình; vào kinh can và thận. Địa cốt bì vị ngọt, tính hàn; vào phế, can và thận. Câu kỷ tử có tác dụng tu dưỡng can thận, nhuận phế, ích tinh, minh mục. Trị các chứng can thận âm hư, đau đầu hoa mắt chóng mặt ù tai, thị lực giảm, đau lưng mỏi gối, suy nhược thần kinh, liệt dương di tinh, đái tháo đường, viêm gan mạn, vô sinh… Địa cốt bì có tác dụng lương huyết, thanh phế, giáng hỏa. Trị hư lao triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, ho hen, nôn ra máu, tiểu ra máu, đái tháo đường, tăng huyết áp, mụn nhọt… Ngày dùng 6 – 15g.

thuoc-va-mon-an-tu-cau-ky-tu-1

Kỷ tử (quả khô của cây câu kỷ) trị đau đầu ù tai hoa mắt chóng mặt, đau lưng mỏi gối, giảm thị lực…

Câu kỷ tử được dùng làm thuốc trong các trường hợp

Tư thận, dục âm (bổ thận, nuôi dưỡng chân âm):

Hoàn câu kỷ: câu kỷ tử, hoàng tinh liều lượng bằng nhau tán thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Ngày 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước nóng. Trị chứng thận hư tinh kém, lưng và xương sống đau buốt.

Dưỡng can, minh mục (nuôi can, làm sáng mắt):
Bài 1 – Kỷ cúc địa hoàng hoàn: câu kỷ tử 12g, cúc hoa 12g, thục địa 16g, đan bì 6g, sơn dược 8g, phục linh 8g, sơn thù 8g, trạch tả 8g. Các vị nghiền bột, luyện với mật làm hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước muối loãng hoặc nước nóng. Trị các chứng can thận âm hư, sốt về chiều, mồ hôi trộm, hoa mắt, đau mắt khô rát.
Bài 2 – Rượu câu kỷ: câu kỷ tử ngâm trong rượu 5 – 7 ngày, chắt ra. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 – 2 thìa canh. Trị yếu gan sinh đau mắt, ra gió chảy nước mắt; bổ dưỡng, chống yếu mỏi cơ, làm đẹp da…
Món ăn thuốc có câu kỷ tử
Chim câu hầm hoàng kỳ kỷ tử: kỷ tử 30g, hoàng kỳ 60g, chim câu non 1 con. Chim câu làm sạch, cho hoàng kỳ, kỷ tử vào hầm cách thủy, thêm gia vị. Dùng cho người sa dạ dày, sa thận, sa trực tràng, sa tử cung.
Cháo kỷ tử: kỷ tử 30g, gạo tẻ 100g, đường trắng vừa đủ. Nấu cháo gạo tẻ và kỷ tử. Khi ăn, thêm đường. Dùng tốt cho người đau lưng, tê bại hai chân, đau đầu ù tai hoa mắt chóng mặt.
Cháo thận dê lá khởi: lá củ khởi 500g, thận dê 2 đôi, thịt dê 250g, gạo tẻ 250g, hành 5 củ. Thận dê và thịt dê làm sạch thái lát, lá củ khởi dùng vải xô gói lại. Tất cả cho trong nồi, đổ nước nấu cháo, cháo chín nhừ, thêm gia vị chia ăn trong ngày, ăn nóng. Thích hợp với người thận hư suy giảm tính dục, di tinh liệt dương, đau bại vùng thắt lưng, đau mỏi đầu gối.
Cháo địa cốt bì: địa cốt bì 30g, tang bạch bì 15g, mạch đông 15g, bột miến dong 100g. Các dược liệu sắc lấy nước, nấu hồ cháo với bột miến dong. Dùng tốt cho người đái tháo đường, khát nước uống nhiều, gầy yếu suy kiệt.
Rượu kỷ tử nhân sâm ngũ vị tử: kỷ tử 30g, nhân sâm 9g, ngũ vị tử 30g, rượu trắng 500ml. Các dược liệu ngâm trong rượu. Sau 7 ngày dùng được. Mỗi ngày uống 30 – 50ml, chia làm 1 hoặc 2 lần vào bữa ăn. Trị suy nhược thần kinh, thiếu máu, viêm gan mạn, thị lực giảm.
Kiêng kỵ: Người đang thực nhiệt (nhiễm khuẩn, viêm tấy), bị đàm thấp, tiêu chảy không dùng.

Theo Suckhoedoisong.vn