Thuốc và cuộc sống

Có một trí nhớ tốt là mơ ước của mọi người nhất là học sinh, sinh viên và những người lao động trí óc, đặc biệt là những người đứng trên bục giảng. Nhưng, vì nhiều lý do khác nhau như thiên bẩm, thể chất, tuổi tác, môi trường sống, điều kiện giáo dục, chế độ ăn uống… nên khả năng ghi nhớ của mỗi người cũng khác nhau. Để  bảo vệ và tăng trí nhớ, thuốc cổ truyền cũng đóng một vai trò quan trọng.

Viễn chí: Ở nước ta có tới 11 loài viễn chí được dùng làm thuốc. Bộ phận dùng là vỏ của rễ. Rễ được ủ mềm, rút bỏ lõi, rồi đem chích với nước sắc cam thảo hoặc sao vàng… Viễn chí có tác dụng ích trí, an thần,  dùng trong các trường hợp tâm thần bất an, trí nhớ suy giảm, hay quên. Ngoài ra còn có tác dụng hóa đờm chỉ ho, khai khiếu, làm thính tai, sáng mắt. Có thể phối hợp với một số vị thuốc khác để giúp cho trí nhớ minh mẫn hơn: Viễn chí, đảng sâm, bạch truật, liên nhục, long nhãn, hắc táo nhân, mạch môn, mỗi vị 10g, sắc uống, ngày một thang, uống liền 3 tuần lễ. Bài này thích hợp cho những người kém ăn, kém ngủ mà trí nhớ suy giảm.

long-nhan-hung-yen

long nhãn

Hoặc viễn chí, liên tâm, táo nhân (sao đen), thảo quyết minh (sao đen), mạch môn, huyền sâm, chi tử, mỗi vị 12g, sắc uống ngày một thang. Uống liền 3 tuần. Bài này thích hợp cho những người cơ thể ở trạng thái nhiệt, háo khát, táo bón, tâm hồi hộp, mất ngủ trí nhớ suy giảm.

Lưu ý: Những người có thai không nên dùng các bài thuốc có viễn chí vì thành phần saponin trong viễn chí có tác dụng gây co thắt tử cung, dễ ảnh hưởng đến thai nhi.

Long nhãn: Là cùi quả, có tác dụng ích trí, an thần, được dùng trong các trường hợp trí nhớ suy giảm, hay quên. Còn có tác dụng bổ huyết, dùng khi cơ thể thiếu máu, da xanh, gầy. Khi dùng có thể phối hợp với hoàng kỳ, đương quy… hoặc phối hợp với cao ban long trong cổ phương “Nhị long ẩm”: Long nhãn 32g, cao ban long 32g. Cách dùng: long nhãn nấu kỹ với nước, vắt lấy một bát nước (300 ml), nhân lúc còn nóng, cho các miếng cao ban long vào, quấy cho tan đều. Uống ấm, cách 2 ngày uống một lần. Phương thuốc này tốt cho những người trí nhớ suy giảm, hay quên, kém ăn, kém ngủ, ra nhiều mồ hôi trộm, hay sốt về chiều, đại tiện táo kết, sắc mặt vàng vọt, da khô, phụ nữ lượng kinh nguyệt ít.

115212_nhan-sam-2

Nhân sâm: Là vị thuốc bổ khí, đứng đầu trong 4 vị quý nhất của Đông y (sâm, nhung, quế,  phụ), có tác dụng “định thần ích trí”, tức làm cho tinh thần  ổn định và tăng trí nhớ, giúp  tăng sức đề kháng của cơ thể. Dùng dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc, thuốc rượu, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong cổ phương “Thiên vương bổ tâm đan”: nhân sâm 8g, sinh địa 6g, đan sâm 8g, huyền sâm 8g, bạch linh 8g, ngũ vị tử 12g, cát cánh 8g, đương quy 12g, thiên môn 12g, mạch môn 12g, bá tử nhân 12g, toan táo nhân (sao đen) 12g. Phương này có thể bào chế dưới dạng viên hoàn,  ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần  12-16 g, uống với nước ấm, hoặc dùng dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang. Uống 2 tuần liền. Phương thuốc thích hợp cho những trường hợp tâm huyết bất túc, tinh thần bất an, thiếu máu, tim hồi hộp, mất ngủ, hay quên, trí nhớ suy giảm.

Lưu ý: Những người hay sôi bụng, đi ngoài phân nát không nên dùng phương thuốc này.

 

Theo GS.TS. Phạm Xuân Sinh

(suckhoedoisong.vn)

Để chữa rôm sảy hoặc ngứa, dân gian thường kết hợp râu ngô cùng với cây mã đề đun làm nước uống hàng ngày rất có hiệu quả.

Đó là nước râu ngô, mã đề. Râu ngô có tính mát, nhiều vitamin và các vi chất dạng tự nhiên cần thiết cho cơ thể. Mã đề cũng là tính mát, lại chứa một loại kháng sinh có tác dụng ức chế một số loại vi trùng bệnh ngoài da.

Công dụng tuyệt vời của râu ngô

rau ngoRâu ngô chính là một loại thuốc hỗn hợp của nhiều vitamin và các vi chất ở dạng tự nhiên cần thiết cho cơ thể chống oxy hóa tốt hơn bất cứ một loại thuốc bổ nào.

Râu ngô có chứa vitamin A, vitamin K, vitamin B1, B2, B6 (, vitamin H (biotin), vitamin C, vitamin PP, các chất đắng, dầu béo, vết tinh dầu và nhiều chất vi lượng khác. Vì thế khi uống nước râu bắp, có cảm giác ngọt, ngậy và mát..

Uống nước râu ngô hàng ngày có tác dụng làm tăng bài tiết mật, giảm độ nhớt của mật, tạo điều kiện dẫn mật vào ruột được dễ dàng, ngoài ra còn làm hạ đường huyết, tăng bài tiết nước tiểu và làm máu chóng đông.

Sử dụng thường xuyên nước luộc râu bắp cho người sỏi thận hay sỏi bàng quang và niệu quản sẽ làm tan các loại sỏi tạo thành do urat, phosphat, carbonat.

Theo Y học cổ truyền, râu ngô (bắp) và ruột bấc trong thân cây ngô có vị ngọt, tính bình, vào 2 kinh thận và bàng quang trị tiểu vàng, tiểu rắt buốt, bí tiểu, viêm tiết niệu, tiểu ra máu, xuất huyết nội tạng, sạn trong gan, mật, thận, sạn niệu, bàng quang, phù thủng, làm hạ áp huyết, làm thông mật trong điều trị gan mật, sỏi mật, vàng da… Đặc biệt, râu ngô là một trong các loại thảo dược dùng để điều trị bệnh gan có hiệu quả nhất. Cụ thể:

– Uống nước râu ngô có tác dụng làm tăng bài tiết mật, giảm độ nhớt của mật, tạo điều kiện dẫn mật vào ruột được dễ dàng.

– Uống nuớc râu ngô còn làm hạ đường huyết , tăng bài tiết nước tiểu và làm máu chóng đông.

– Dùng râu ngô hàng ngày thay nước chè (trà) có tác dụng rất hiệu quả cho người bị ứ mật và sỏi túi mật .

– Nước luộc rau ngô có tác dụng lợi tiểu trong các bệnh về thận.

– Nước luộc rau ngô có tác dụng trong các trường hợp bị phù có quan hệ đến bệnh tim.

Chữa sỏi đường tiết niệu:

Bạn hãy hãm hoặc sắc nước râu ngô uống hàng ngày, có thể dùng nước ngay sau khi luộc bắp ngô để uống cũng phát huy Cũng có thể phối hợp với các vị thuốc lợi tiểu khác như rễ tranh, rễ sậy, kim tiền thảo,… để tăng cường hiệu quả tác dụng.

Chữa bệnh xuất huyết:

Dùng râu ngô tươi hoặc phơi khô sắc nước uống hàng ngày, có thể kết hợp thêm các vị khác như cỏ nhọ nồi, huyết dụ, trắc bách diệp, lá sen,… để tăng thêm công dụng.

Cách sử dụng này dùng để trị các chứng: chảy máu cam, xuất huyết cho các trường hợp tiểu tiện ra máu, băng huyết, tử cung xuất huyết, chảy máu cam, chảy máu chân răng, chảy máu niêm mạc miệng lưỡi,…. rất hiệu quả.

Trị bệnh cao huyết áp:

Lấy râu ngô sắc nước uống hàng ngày, tốt nhất nên phối hợp thêm với ngưu tất, hoa hòe, cỏ ngọt, câu đằng bệnh cao huyết áp dần thuyên giảm và tiến tới ổn định.

Vừa giải nhiệt vừa chữa ngứa

Vào mùa hè, thời tiết nóng nực rất dễ khiến cho cơ thể bạn sinh nhiệt, chốc lở, rôm sảy, ngứa ngáy khó chịu. Để chữa rôm sảy hoặc ngứa, dân gian thường kết hợp râu ngô cùng với cây mã đề đun làm nước uống hàng ngày rất có hiệu quả.

Ngoài tác dụng của râu ngô như ta đã thấy thì cây mã đề cũng có những tác dụng tương tự nhưng chúng lại chứa một dạng kháng sinh gây ức chế một số vi trùng bệnh ngoài da.

ma deCây mã đề vừa có tính mát lại chứa kháng sinh gây ức chế một số vi trùng bệnh ngoài da. Ảnh minh họạ

Trong cây mã đề, từ rễ, thân lá và hoa đều chứa một glucozit gọi là aucubin hay rinantin còn gọi là aucubozit. Trong lá có chất nhầy, chất đắng, carotin, vitamin C, vitamin K yếu tố T. Trong hạt chứa chất nhầy, axit plantenolic, adnin và cholin.

Để có một ca nước râu ngô mã đề, bạn có thể tham khảo cách làm sau:

1. 1 bó lá mã đề mua siêu thị

2. 1 nắm râu ngô

3. 2 khúc mía

4. 1/4 thìa cà phê nhỏ muối

5. Siêu thị họ bán trong 1 túi gồm lá dứa, mã đề, rễ tranh, mía. Rửa sạch và ngâm muối loãng.

6. Thái ngắn như trong hình. Mía đập dập

7. Cho vào 1,5-2,0 lít nước đun sôi 10-15′ là được. Nếu tiết kiệm thì thêm 1 lít nước sau khi cho nước một ra bình thuỷ tinh.

8. Nước uống thanh nhiệt mà trẻ, già, trai gái đều uống được. Nếu muốn ngọt hơn thì thêm 2 thìa đường phèn hoặc thốt nốt và để tủ lạnh uống cả ngày, cả gia đình và khách đến nhà.

9. Cho vào bình thuỷ tinh cất tủ uống trong ngày.

Theo giadinhvatreem.vn)/Báo Gia đình & Xã hội

Rau dọc mùng còn gọi môn thơm, tên khoa học là Alocasia indica = Alocasia odora. Dọc mùng có mặt trong nhiều món ẩm thực của người Việt như các món canh chua, món bún…

Dọc mùng có chứa photpho, kali, canxi, magie, sắt và đặc biệt nhiều chất xơ thấm hút chất béo, cholesterol ở trong ruột, đồng thời cản trở sự hấp thụ cholesterol. Theo Đông y, dọc mùng có vị nhạt, tính mát, không độc. Dùng thanh nhiệt giải khát. Bẹ dọc mùng khô héo gọi là Phùng thu can có tác dụng thanh nhiệt, giải chất béo rất tốt lại an toàn… Xin giới thiệu một số cách dùng dọc mùng trị bệnh.

doc-mung-1431011822733

Chữa sởi ở trẻ em dùng 40g phùng thụ can sắc kỹ lấy nước cho trẻ uống.

Bệnh cảm sốt khi mới mắc, bắt đầu có ho hoặc thấy đau họng hoặc do ăn nhiều đồ béo khó tiêu: dùng phùng thụ can sắc kỹ thật đặc cho uống khi còn nóng. Bài này còn có tác dụng phòng cảm cúm chạy vào trong làm bệnh nặng hơn.

tac-hai-dang-so-cua-doc-mung-trong-mon-canh-chua_1

Dọc mùng là nguyên liệu của nhiều món ăn ngon, cũng là vị thuốc thanh nhiệt, giải khát, giảm béo.

Các món ăn từ dọc mùng rất thích hợp đối với bệnh nhân béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, gút… Người Việt Nam có món ăn dân dã là dọc mùng muối xổi rất được ưa chuộng. Dọc mùng muối còn làm tăng hương vị thơm ngon của món canh chua (lươn, cá, tép) bún bung (với thịt, chân giò, móng giò; hay ếch xào dưa môn, dưa môn bóp nước mắm, dưa môn kho cá hú…

Cách muối dọc mùng: Để an toàn vẫn phải nhớ khử ngứa bằng cách bóp muối dọc mùng trước khi nấu nướng làm từ bẹ môn  ngọt, môn ngọt có nhiều ở vùng quê. Sau khi cắt, đem phơi bẹ môn ra sân cho héo mặt, phơi xong dội qua nước cho sạch bùn đất. Lấy từng nắm bẹ môn bẻ gập lại xếp vào lu hoặc vại, cứ mỗi lớp môn như vậy lại rắc một lớp muối, sau đó đậy kín nắp vại để qua ngày mai sẽ lấy nước vo gạo đổ ngập bẹ môn, xong đậy lên mặt môn vài lớp lá chuối, đóng kín nắp lại, độ 3 hôm sau có màu vàng và có vị chua là được. Nếu có nước hèm rượu để ngâm, dưa sẽ có mùi thơm ngon hơn. Dưa môn thường được ăn kèm với cá kho, thịt luộc hay bóp nước mắm ớt, xào chung với cá thịt…

Nộm dọc mùng: Dọc mùng bóp muối cho hết ngứa sau đó vắt khô nước rồi cho lạc, chanh, ớt, rau thơm vào trộn đều là được.

Theo BS. Phó Thuần Hương (SKĐS)

Không chỉ thường gặp trong mùa lạnh, các bệnh đường hô hấp trên như viêm mũi họng, amiđan,… cũng gia tăng khi thời tiết thay đổi thất thường. Nếu không được điều trị sớm và triệt để rất dễ dẫn đến viêm phế quản, phổi. Sau đây là một số bài thuốc trị viêm amiđan cấp và mạn để bạn đọc tham khảo áp dụng.

19-kim-ngan-1412604062635

Kim ngân hoa là một trong những vị thuốc trị viêm amiđan hiệu quả.

Viêm amiđan cấp

Y học cổ truyền gọi là hầu nga hay phong nhiệt nhũ nga. Nguyên nhân do nhiệt độc ở phế vị bên trong kết hợp với phong nhiệt bên ngoài gây ra. Bệnh được chia làm 2 thể:

Thể nhẹ (ngoại cảm phong nhiệt): Người bệnh có biểu hiện sợ lạnh, nhức đầu, amiđan sưng đỏ, họng đau, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch phù hoạt sác. Phương pháp chữa là sơ phong thanh nhiệt, tân lương giải biểu. Dùng một trong các bài:

Bài 1: bạc hà, ngưu bàng tử mỗi vị 8g; huyền sâm, sinh địa, sơn đậu căn mỗi vị 12g; kim ngân hoa, cỏ nhọ nồi, bồ công anh mỗi vị 16g; cát cánh, xạ can mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Thanh yên lợi cách thang gia giảm: ngưu bàng tử 12g; bạc hà, cát cánh mỗi vị 6g; kim ngân hoa 40g; liên kiều 16g; cam thảo, hoàng cầm, hoàng liên mỗi vị 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Ngân kiều tán gia giảm: kim ngân hoa, huyền sâm mỗi vị 16g; liên kiều, đạm trúc diệp, ngưu bàng tử mỗi vị 12g; cam thảo 8g; cát cánh 6g; kinh giới, bạc hà mỗi vị 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể nặng (hỏa độc hay nhiệt độc ở phế vị): Người bệnh có biểu hiện sốt cao, miệng khô, tuyến amiđan sưng to, loét hoặc hóa mủ; họng đau nhiều, người bệnh ăn uống khó, nổi hạch ở dưới hàm, nước tiểu đỏ, táo bón, rêu lưỡi vàng đầy, mạch sác hữu lực. Phương pháp chữa là thanh nhiệt giải độc ở phế vị; hoạt huyết, trừ mủ. Dùng một trong các bài:

Bài 1: kim ngân hoa, thạch cao sống mỗi vị 20g; sinh địa, huyền sâm, cam thảo nam mỗi vị 16g; hoàng liên, hoàng bá, tang bạch bì mỗi vị 12g; xạ can 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Phức phương lượng cách thang gia giảm: thạch cao sống 40g; kim ngân hoa, huyền sâm mỗi vị 16g; hoàng cầm, liên kiều, đạm trúc diệp, sơn chi tử mỗi vị 12g; cát cánh, cam thảo mỗi vị 8g; bạc hà 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Hoàng liên thanh hầu ẩm gia giảm: kim ngân hoa 40g; liên kiều, ngưu tất mỗi vị 20g; hoàng cầm, sơn đậu căn, xích thược, huyền sâm mỗi vị 12g; xạ can 8g; hoàng liên 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu táo bón thêm đại hoàng 8 – 12g.

kim-ngan-hoa-1432831964683

Viêm amiđan mạn

Y học cổ truyền gọi là hư hỏa nhũ nga. Nguyên nhân do phế vị âm hư, tân dịch không đầy đủ, hư hỏa vượng lên trên gây bệnh. Người bệnh hay bị viêm amiđan tái phát, miệng khô hơi đau, miệng hôi, ho khan, sốt nhẹ, người gầy yếu, mệt mỏi. Phương pháp chữa là dưỡng âm thanh phế, hoạt huyết tiêu viêm. Dùng một trong các bài:

Bài 1: sa sâm, mạch môn, tang bạch bì, ngưu tất mỗi vị 12g; huyền sâm 16g; xạ can 8g; thăng ma 6g; cát cánh 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Lục vị địa hoàng gia giảm: sinh địa 16g; sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, thiên hoa phấn, tri mẫu, địa cốt bì mỗi vị 8g; hoài sơn, huyền sâm, ngưu tất mỗi vị 12g; xạ can 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Dưỡng âm thanh phế thang gia giảm: sinh địa 20g; huyền sâm, bạch thược, đan bì mỗi vị 12g; mạch môn, bối mẫu, thiên hoa phấn, địa cốt bì mỗi vị 8g; cam thảo, bạc bà mỗi vị 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Ích khí thanh kim thang gia giảm: sa sâm, mạch môn, huyền sâm, tang bạch bì mỗi vị 12g; xạ can 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu miệng hôi thêm thạch hộc, tri mẫu mỗi vị 12g; ho khan thêm hạnh nhân 8g, bối mẫu 6g.

Theo Lương y Thái Hòe (SKĐS)

Mất ngủ nhất thời thường do thời tiết, công việc bề bộn, lo nghĩ hoặc do cơ thể suy nhược… mà sinh ra chứ chưa phải là bệnh. Chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt hằng ngày một cách khoa học, không nên lạm dụng thuốc ngủ. Việc tập thể dục, đi bộ, xoa bóp và dùng các món ăn thuốc dưới đây sẽ giúp bạn ổn định thần kinh, ngủ ngon.

Cháo long nhãn hạt dẻ: long nhãn 15g, hạt dẻ bóc vỏ 20g, gạo tẻ 50g, đường một ít. Đập vụn hạt dẻ, đem nấu với gạo thành cháo; khi cháo chín tới, cho long nhãn vào khuấy đều, đun sôi, cháo chín cho đường vào ăn.

Cháo trứng gà, hạt kê: trứng gà 1 quả, hạt kê 100g. Hạt kê vo sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, nấu cháo, khi cháo gần chín đánh trứng gà vào, đun tiếp một lát là được. Mỗi tối ăn 1 lần. Công hiệu: bổ tim, an thần, chữa thiếu máu, bồn chồn mất ngủ.

chao_hat_de_long_nhan

Cháo hạt dẻ long nhãn bổ tâm an thần, rất tốt  cho người bị mất ngủ.

Canh thịt nấu hạt sen, khiếm thực: thịt lợn 200g, hạt sen 50g, khiếm thực 50g, muối vừa đủ. Thịt rửa sạch cho vào nồi cùng hạt sen, khiếm thực, đổ nước vừa đủ, nấu canh, cho gia vị, ăn trong ngày lúc nào cũng được. Công hiệu: bổ thận cố tỳ, ninh tâm an thần, chữa tâm phiền mất ngủ, hồi hộp, lo âu, mộng mị, tiểu đêm nhiều.

Canh hàu, thịt lợn: thịt hàu tươi 150g, thịt lợn nạc 150g, gia vị vừa đủ. Thịt lợn rửa sạch, thái miếng. Hàu làm sạch, cho thịt hàu và thịt lợn vào nồi, đổ nước vừa đủ, nấu canh, thịt chín cho gia vị là được. Ăn trong bữa cơm.

Canh hến nấu bách hợp, ngọc trúc: thịt hến 50g, bách hợp 30g, ngọc trúc 20g, muối, bột ngọt vừa đủ. Thịt hến rửa sạch, thái nhỏ. Bách hợp, ngọc trúc rửa sạch cho vào túi, tất cả cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, hầm chín nhừ, bỏ túi thuốc, cho muối, gia vị, ăn kèm trong bữa, ăn thịt, uống canh. Công hiệu: bổ âm, dưỡng tâm, trị mất ngủ, khát nước, gan bàn tay bàn chân nóng.

Gà giò hầm long nhãn: gà giò 1 con làm sạch cho vào nồi với long nhãn 30g, một ít rượu, giấm, hành, gừng, muối, gia vị, hầm nhỏ lửa trong khoảng 1 giờ. Ăn trong ngày. Công hiệu: bổ tỳ vị, an thần, ngủ ngon.

Nấm mèo hấp đường phèn: nấm mèo đen 10g, nấm mèo trắng 10g, đường phèn 30g. Nấm ngâm cho nở, bỏ tạp chất, rửa sạch cho vào bát cùng đường phèn, nước vừa đủ đem hấp hoặc chưng cách thủy khoảng 1 giờ. Ăn cả cái và nước. Công hiệu: bồi dưỡng cơ thể, giải độc, ngủ tốt.

Nước quả dâu, đường phèn: quả dâu tươi 50g, đường phèn vừa đủ. Quả dâu rửa sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, nấu chín cho đường vào đánh tan là được. Ngày dùng 1 thang. Công hiệu: bổ âm huyết, nhuận tràng, thông tiện, chữa mất ngủ do can thận âm hư, hay quên.

Nước tiểu mạch, cam thảo, táo tàu: tiểu mạch 60g, cam thảo 6g, táo tàu 30g. Tiểu mạch xát vỏ, táo ngâm nở bỏ hạt, cho vào nồi cùng cam thảo,  đổ nước vừa đủ, đun khoảng 1 giờ, chắt lấy nước, bỏ bã, uống trong ngày. Công hiệu: bổ dưỡng tâm can, an thần định chí, chữa mất ngủ, hồi hộp, bồn chồn, tinh thần hoảng hốt.

Theo Lương y Nguyễn Minh (suckhoedoisong.vn)

Trong các món ăn bổ thận tráng dương , người ta thường nói đến thịt chó, thịt dê, nhưng thịt gà cũng là một loại thực phẩm bổ dưỡng, rất tốt cho nam giới bị suy nhược, liệt dương, xuất tinh sớm.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Gà mái lông vàng 1 con, nhục thung dung 20g, hoài sơn 20g, phục linh 6g, gạo tẻ 150g. Gà mái lông vàng làm sạch, bỏ nội tạng. Hoài sơn, phục linh, nhục thung dung, sấy khô, nghiền thành bột. Cho các bột này vào nồi, đổ thịt gà, gạo, thêm nước nấu cháo. Ăn vào sáng và chiều. Công dụng: trị khí huyết suy yếu, đầu váng, mắt hoa, ăn ít, lưng đau, liệt dương.

thit-ga-chua-benh-quy-ong-mem-yeu

Cháo gà hạt sen khiếm thực tốt cho nam giới bị di tinh

Thịt gà đen 100g, đông trùng hạ thảo 10g, hoài sơn 30g. Cho tất cả nguyên liệu trên vào nồi, thêm nước hầm nhừ rồi nêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: trị tinh khí, hư suy.

Thịt gà đen 50g, kỷ tử 10g, gừng tươi vài lát. Cho tất cả nguyên liệu trên vào nồi, hầm nhừ, nêm vừa miệng rồi ăn nóng. Công dụng: trị can thận hư, tinh huyết kém.

Gà ri 1 con nhỏ, râu ngô 30g, đông trùng hạ thảo 10g, gừng 5g, hành 10g, muối lượng thích hợp. Gà ri làm sạch, bỏ bộ lông, râu ngô rửa sạch, bỏ vào nồi, đổ vào ít nước, nấu 25 phút, lọc lấy nước, đông trùng hạ thảo ngâm rượu, rửa sạch, gừng thái lát, hành cắt khúc. Bỏ gà (đã nhét đông trùng hạ thảo vào bụng) vào thố, đổ nước râu ngô vào, lấy thố cho vào nồi chưng cách thủy khoảng 45 phút là được. Chia làm 2 lần ăn. Công dụng: trị thận hư dương suy.

Gan gà trống 1 cái, mật cá chép 1 cái. Mật cá chép và gan gà trống đem nghiền nát, ngâm với 500ml rượu trắng trong 5-7 ngày, thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 30ml. Công dụng: trị nam giới yếu sinh lý.

Ruột gà 100g, nhục thung 15g, ba kích thiên 12g, gừng tươi 5g. Ruột gà bóp muối, rửa thật sạch, cắt đoạn 5cm. Ba kích thiên, nhục thung dung chia ra rửa sạch, cho vào một túi vải nhỏ, buộc chặt miệng túi lại. Đem ruột gà và túi thuốc bỏ vào nồi đất, thêm nước vừa đủ, cho gừng và muối vào, đun trên lửa lớn đến khi sôi thì bớt lửa, nấu thêm 1 giờ nữa thì vớt túi thuốc ra, nêm gia vị vừa dùng. Công dụng: trị liệt dương, đái són, ban đêm tiểu tiện nhiều.

Trứng gà 1 quả, cá trắm đen 500g, phục linh 50g, sơn dược 50g, gừng, hành, gia vị đủ dùng. Cá trắm đen rửa sạch, để ráo nước. Phục linh, sơn dược tán thành bột. Đập trứng gà vào bột thuốc, đánh tan. Phi thơm hành mỡ rồi cho cá trắm vào xào qua, khi cá chín, đổ hỗn hợp trứng và hai thứ thuốc trên vào, đảo nhanh tay, bắc ra cho gừng hành, gia vị vào là dùng được. Ăn nóng. Công dụng: trị suy giảm tình dục.

BS.Hoàng Thuần

Theo suckhoedoisong.vn

Từ lâu chúng ta đa biết trái bơ rất giàu chất béo, song phần lớn lượng chất béo đó là chất béo đơn không bão hòa, được coi là chất béo có lợi.

Từ lâu chúng ta đa biết trái bơ rất giàu chất béo, song phần lớn lượng chất béo đó là chất béo đơn không bão hòa, được coi là chất béo có lợi. Các chất béo đơn không bão hòa có thể giúp giảm hàm lượng cholesterol có hại, giảm nguy cơ đột quỵ và đau tim.

Trái bơ giúp giảm lượng cholesterol có hại

Nhóm các nhà nghiên cứu của Mỹ tập hợp một nhóm 45 tình nguyện viên khỏe mạnh tuổi từ 21-70 bị thừa cân hoặc béo phì. Mỗi tình nguyện viên được yêu cầu tuân theo 1 trong 3 chế độ ăn giảm cholesterol trong vòng 5 tuần. Trong 3 chế độ ăn, chế độ 1 là ít chất béo và không có trái bơ, chế độ 2 là lượng chất béo bình thường (trung bình) và không có trái bơ và chế độ 3 là chất béo bình thường với 1 trái bơ mỗi ngày.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng, hàm lượng LDL (low-density lipoprotein ) hay cholesterol có hại của các tình nguyện viên giảm trung bình 8,3mg/dL sau khi tuân theo chế độ ăn 1 và 7,4mg/dL sau khi tuân theo chế độ ăn 2. Đặc biệt, lượng cholesterol có hại giảm 13,5mg/dL khi họ tuân theo chế độ ăn 3.

Nhóm nghiên cứu tin rằng, kết quả nghiên cứu này cho thấy chúng ta nên thay thế các acid béo bão hòa trong chế độ ăn của mình bằng các chất béo tốt cho sức khỏe hơn từ trái bơ cũng như các nguồn khác.

Theo Sức khỏe và Đời sống/Medical News Today, 1/2015)

 

Ngoài tác dụng chống ung thư nổi tiếng, tỏi cũng có khả năng làm đẹp da rất tốt.

Lọc máu và trị mụn

Bạn đã quá mệt mỏi với việc phải che đậy đi làn da đầy mụn xấu xí của mình? Hãy sử dụng tỏi để tiêu diệt tận gốc vấn đề nan giải này nhé. Việc bạn cần làm đơn giản chỉ là ngâm 2 tép tỏi vào nước và uống chúng mỗi khi thức dậy, kết hợp với uống việc cung cấp đầy đủ 2 lít nước mỗi ngày.

Nếu như muốn giảm cân, bạn có thể cho vài giọt nước chanh vào nước tỏi, chúng sẽ giúp lọc máu và đẩy tất cả các chất độc trong cơ thể ra ngoài.

Chữa cảm lạnh

Sử dụng tỏi có thể giúp bạn thoát khỏi những cơn cảm lạnh hay cơn sốt day dẳn. Hãy ăn khoảng từ 2 đến 3 tép tỏi mỗi ngày và bạn hoàn toàn có thể dùng chung với mật ong hoặc gừng để giảm mùi hăng của tỏi. Ngoài việc ăn trực tiếp, bạn cũng có thể uống trà hoặc rượu tỏi để không chỉ để chữa khỏi bệnh cảm lạnh, mà còn giúp cải thiện hệ miễn dịch của chúng ta.
tải xuống

Phòng ngừa các bệnh tim mạch

Thêm tỏi vào khẩu phần ăn mỗi ngày sẽ giúp giảm lượng cholesterol trong cơ thể khá đáng kể. Tỏi cũng có khả năng cân bằng lượng đường trong máu và huyết áp. Các bạn cũng nên lưu ý rằng, chất Allicin trong tỏi sẽ bị giảm tác dụng khi được nấu chín. Vì vậy, bạn nên sử dụng tỏi khi còn sống nếu có thể nhé.

Ngăn ngừa ung thư

Hàng ngàn nghiên cứu cho thấy rằng tỏi có một khả năng phòng chống ung thư rất tốt, đặc biệt là ung thư dạ dày và ung thư đại trực tràng nếu như bạn sử dụng tỏi mỗi ngày. Tỏi cũng làm tăng sức đề kháng của cơ thể của các bạn nữ, ngăn ngừa căn bệnh ung thư vú đấy.

Bảo vệ làn da và mái tóc

Tỏi có khả năng bảo vệ làn da chúng ta khỏi các tia cực tím của mặt trời và làm chậm lại quá trình đào thải collagen, giúp chúng ta giữ được một làn da mịn màng và ít nếp nhăn. Thậm chí nếu như bạn mắc những bệnh nấm ngoài da, tỏi cũng có thể được sử dụng để giúp cho da đỡ mẫn cảm và dễ chịu hơn.

Tỏi cũng sẽ giúp tránh tình trạng tóc mỏng. Bạn có thể sử dụng tỏi bằng cách cọ trực tiếp những miếng tỏi lên da đầu hoặc sử dụng dầu tỏi để ngăn ngừa rụng tóc.

Khả năng siêu kháng khuẩn

Tỏi là một trong những nguyên liệu kháng khuẩn tốt nhất được dân gian sử dụng từ xưa để chữa bệnh. Nước khi được ngâm cùng với tỏi sẽ giúp tiêu diệt những côn trùng có trong ổ bụng của chúng ta. Ngoài ra, súc miệng bằng tỏi sẽ giúp làm sạch và bảo vệ răng khỏi hàng tá loại vi khuẩn gây ra bệnh răng miệng đấy.

Chữa trị vết thương

Ngoài các công dụng kể trên, tỏi cũng có khả năng làm lành các vết thương một cách nhanh chóng. Hãy đặt tỏi vào trong băng cá nhân và đặt lên chỗ bạn bị thương. Bạn sẽ thấy bất ngờ với công dụng tuyệt vời của chúng.

Chú ý:

  1. Những người mắc bệnh hen suyễn không nên sử dụng quá nhiều tỏi vì chúng sẽ ảnh hưởng đến đường hô hấp của bạn.
  2. Bạn phải tránh xa tỏi một khoảng thời gian trước khi làm phẫu thuật hay liệu trình chữa trị một căn bệnh nào đó.
  3. Không được ăn hơn 2-3 củ tỏi mỗi ngày nếu như không có chỉ định của bác sĩ.

Theo giadinhvatreem.vn

  Giá đỗ xanh hiện được coi là rau sạch. Loại tốt phải có cọng thân mập, cong tự nhiên, chất giòn, dài 3 – 4cm, màu trắng…

Giá đỗ xanh, vị thuốc dưỡng nhan

Giá đỗ xanh hiện được coi là rau sạch. Loại tốt phải có cọng thân mập, cong tự nhiên, chất giòn, dài 3 – 4cm, màu trắng, hạt đỗ teo lại, vỏ hạt bong ra nhưng vẫn còn nguyên không tách rời, lá mầm có màu vàng nhạt hoặc ánh xanh lục, hơi nhú ra, rễ mầm màu nâu nhạt.

Trong 100g giá đỗ xanh có 5,5g protid, 5,3g glucid, 38g Ca, 91mg P, 1,4mg Fe, 0,2mg vitamin B1, 0,13mg vitamin B2, 0,75mg vitamin PP, 0,09mg vitamin B6, 10mg vitamin C, đặc biệt rất giàu vitamin E với hàm lượng 15 – 25mg và cung cấp 44 calo.

Giá đỗ xanh có thể ăn sống, dầm giấm, muối dưa, luộc, xào và phối hợp với nguyên liệu khác để chế biến các món ăn.

Về mặt thuốc, giá đỗ xanh có vị ngọt, nhạt, hăng, hơi tanh, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, chỉ khát, tiêu thực. Dược liệu thường được dùng dưới dạng tươi sống hoặc muối chua (dưa giá). Những người hiếm con (cả nam lẫn nữ) và phụ nữ dễ bị sẩy thai, hàng ngày nên ăn nhiều giá sống sẽ rất tốt. Tác dụng chính là do vitamin E trong giá rất cần thiết cho cơ thể, trong trường hợp thiểu năng sinh dục và khó sinh đẻ. Phụ nữ ít sữa sau khi đẻ, ăn giá sống cũng làm tăng tiết sữa. Ăn nhiều giá còn bảo vệ được tế bào của cơ thể ngăn ngừa quá trình lão hóa, kéo dài tuổi thọ. Khi bị ho có đờm, khô cổ, khản tiếng, háo khát, lấy giá sống trộn với ít muối, ép lấy nước, ngậm làm nhiều lần trong ngày. Để chữa ngộ độc thức ăn và kim loại, chứng bí đái, say rượu, uống nước ép giá sống pha thêm đường.

Theo tài liệu nước ngoài, ăn giá đỗ xanh hàng ngày có khả năng làm da mặt bớt khô, chống nếp nhăn. Vitamin E trong giá có tác dụng hấp thụ tia tử ngoại chống lão suy, tẩy sạch các chấm đen trên da mặt. Gần đây, các nhà nghiên cứu cho thấy phụ nữ Nhật Bản và Trung Quốc ít bị ung thư vú do ăn nhiều giá đỗ xanh. Ngoài ra, giá đỗ xanh còn giúp phụ nữ giảm nhẹ các thay đổi khó chịu ở thời kỳ mãn kinh.

Chú ý: Không dùng giá ngâm nước sôi hoặc xào nấu vì nhiệt độ cao làm mất hoạt tính tác dụng của các men tiêu hóa sẵn có trong giá đỗ.

Theo DS. Huyền Hoa (Sức khỏe và Đời sống)

Theo dược học cổ truyền, lá ổi vị đắng sáp, tính ấm, có công dụng tiêu thũng giải độc, thu sáp chỉ huyết.

Ổi là loại cây ăn quả phổ biến, mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi hoặc được trồng trong vườn, quanh nhà để lấy quả ăn. Đây là loại quả có nhiều dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin C. Ngoài ra các bộ phận của cây ổi như búp non, lá non, vỏ rễ và vỏ thân còn được dùng làm thuốc.

Cây ổi trung bình cao khoảng 3 – 10m, thân nhẵn nhụi, vỏ già tróc ra từng mảng. Hoa ổi màu trắng, thơm dịu. Quả nặng từ 30 – 600g, tuỳ theo giống mà ổi nhiều hay ít hạt, ruột quả mầu trắng hoặc hồng, đỏ hoặc vàng.  Nghiên cứu dược lý cho thấy dịch chiết từ các bộ phận của cây ổi đều có khả năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc và cầm đi lỏng.

Theo dược học cổ truyền, lá ổi vị đắng sáp, tính ấm, có công dụng tiêu thũng giải độc, thu sáp chỉ huyết. Quả ổi vị ngọt hơi chua sáp, tính ấm, có công dụng thu liễm, kiện vị cố tràng. Các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa bệnh đường tiêu hóa như tiêu chảy, viêm dạ dày ruột cấp và mạn tính, mụn nhọt, vết thương bầm tím…

Ổi được dùng làm thuốc như sau:

Trị tiêu chảy do nóng: Dùng vỏ dộp ổi 20g sao vàng, lá chè tươi 15g sao vàng, nụ sim 10g, trần bì 10g, củ  sắn dây 10g sao vàng, tất cả tán bột, người lớn mỗi lần uống 10g, trẻ em uống bằng nửa liều người lớn. Hoặc vỏ rộp ổi sao vàng 20g, vỏ duối sao vàng 20g, vỏ quýt sao vàng 20g, bông mã đề sao vàng 20g, sắc đặc uống nóng. Dùng 3 – 5 ngày. 18-2-1429241656822

Búp ổi chữa tiêu chảy rất tốt.

Tiêu chảy do lạnh: Dùng búp ổi sao 12g, gừng tươi 8g nướng cháy vỏ, hai thứ sắc cùng 500ml nước, cô còn 200ml, chia uống 2 lần trong ngày. Dùng 3-5 ngày.

Tiêu chảy do công năng tỳ vị hư yếu: Dùng lá hoặc búp ổi non 20g, gừng tươi nướng cháy 10g, ngải cứu khô 40g, sắc cùng 3 bát nước, cô còn 1 bát, chia uống vài lần trong ngày. Dùng 5 – 7 ngày.

Tiêu chảy do ăn phải thức ăn ôi thiu, thức ăn sống lạnh: Búp ổi 20g sao qua; vỏ quýt khô 10g; gừng nướng chín 10g, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Giảm đau nhức răng do sâu răng: Vỏ rễ  cây ổi sắc với một ít dấm chua, ngậm nhiều lần trong ngày.

Trị mụn nhọt mới phát: Lá ổi non và lá đào lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát rồi đắp. Làm nhiều lần trong ngày.

Lưu ý: Người bị táo bón không nên dùng.

Theo Bác sĩ Nguyễn Thị Nga (SKĐS)