My Weblog: umraniye elektrikci uskuadar elektrikci usta elektrikci sisli elektrikci

Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Sống khỏe

phunuonline.vn – Thống kê gần đây ở một số nước cho thấy, ung thư tuyến giáp có tỷ lệ mới mắc đứng hàng đầu, ở cả nam và nữ. Đáng báo động là bệnh tuyến giáp ở người trẻ khá nhiều, nhiều bạn trẻ khi phát hiện bệnh tỏ ra rất ngạc nhiên.

Bệnh tuyến giáp tăng nhanh

GS.TS. Lê Ngọc Hà – Chủ nhiệm Khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết, bệnh lý tuyến giáp ngày càng phổ biến và tăng nhanh ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Căn bệnh này có nhiều nguyên nhân. Những người có nguy cơ cao mắc bệnh là phụ nữ, người có tiền sử chiếu xạ, đã có nhân tuyến giáp, basedow… Trước đây khám lâm sàng thấy bướu, hạch nhưng gần đây sự phổ cập siêu âm trong khám tổng quát nên bệnh tuyến giáp được phát hiện sớm hơn.

Hiện nay để điều trị các bệnh lý tuyến giáp, trong đó có ung thư tuyến giáp thì y học đã có nhiều tiến bộ. Mặc dù ung thư tuyến giáp là bệnh ác tính nhưng vẫn có thể chữa khỏi hoàn toàn. Thống kê tỉ lệ sống sau 10 năm của bệnh nhân ung thư tuyến giáp đến 90% thậm chí cao hơn nữa (97%) và họ vẫn có cuộc sống lao động, sinh hoạt bình thường.

“Trong điều trị ung tư tuyến giáp có những giai đoạn cần kiêng muối iốt trước 2 tuần để điều trị, sau đó bệnh nhân được ăn uống đầy đủ không cần kiêng khem. Do đó bệnh nhân cần điều trị tuân thủ, chế độ ăn hợp lý chứ không phải kiêng cữ quá nhiều trong ăn uống khi mắc bệnh này khiến sức khoẻ suy yếu không đủ sức chiến đấu với bệnh tật”- PGS. Hà cho hay.

GS.TS. Lê Ngọc Hà

Chuyên gia y học hạt nhân cũng cảnh báo người dân không chia sẻ đơn thuốc, hoặc chữa trị bằng các phương pháp truyền miệng không chính thống. Bởi lẽ, mỗi người trong quá trình theo dõi chẩn đoán, điều trị tùy theo giai đoạn bệnh, tùy theo tiến trình bệnh để có cách điều trị hợp lý. Có phần hướng dẫn chung nhưng đôi khi bệnh nhân không hiểu hết, điều trị là điều trị người bệnh chứ không hẳn là điều trị bệnh nên có sự khác biệt với nhau. Thông tin giữa bệnh nhân là cần thiết nhưng việc chia sẻ này đôi khi không tốt.

Hoặc cũng có trường hợp bệnh nhân hiểu sai vì những thông tin sai lệch, bệnh nhân ngừng thuốc quá sớm, bệnh sẽ tiến triển hoặc kiêng quá mức (giảm đường, vitamin…) nên khi đến BV không đủ sức khoẻ để điều trị… Do đó, người bệnh cần lưu ý tuân thủ các chỉ dẫn của bác sĩ.

Thừa, thiếu iốt đều không tốt

Hiện nay có nhiều ý kiến băn khoăn rằng, liệu có phải chế độ ăn thiếu iốt cũng là nguyên nhân gây nên các bệnh lý tuyến giáp và ung thư tuyến giáp? Về vấn đề này, PGS.TS Lê Bạch Mai – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, người Việt chúng ta ăn khá nhiều chất đường bột dễ gây thừa cân béo phì và cũng dễ gây rối loạn chức năng tuyến giáp. Bệnh sinh ra là do sự mất cân bằng giữa tác nhân gây bệnh với yếu tố bảo vệ của cơ thể. Bệnh tuyến giáp liên quan nhiều chế độ ăn uống như thiếu iốt hoặc thừa iốt gây rối loạn chức năng tuyến giáp.

Ngoài ra, chế độ ăn thiếu canxi làm tuyến cận giáp trạng kém đi nhiều. Trong khi khẩu phần ăn hàng ngày của chúng ta chỉ đáp ứng đủ 60% lượng canxi, như vậy còn thiếu 40%, có thể đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh tuyến giáp tăng lên.

“Chúng tôi có thực đơn cho bệnh nhân điều trị, bệnh nhân dùng muối ăn không có iốt và cũng không cần phải kiêng khem quá, chỉ kiêng iốt trong vòng 2 tuần trước điều trị iốt phóng xạ để diệt tổ chức di căn. Trong thời điểm trước 2 tuần cần lưu ý kiêng iốt trong khẩu phần ăn (chỉ dưới 50 mcg trong 1 tuần) và sau mổ cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, tăng sức đề kháng để chống chọi với bệnh tật”- chuyên gia dinh dưỡng lưu ý.

PGS.TS Lê Bạch Mai

PGS. Mai cũng cho rằng, các bệnh nhân tuyến giáp sau khi điều trị thì đa phần đều trở lại cuộc sống bình thường. Bệnh nhân có thể dùng thức ăn bình thường, cân bằng, cần lưu ý hàm lượng iốt không phải kiêng nữa, có thể tăng cường thêm dinh dưỡng, cung cấp đầy đủ vitamin, khoáng chất để dẫn truyền thần kinh tốt để cơ thể khỏe mạnh. Nếu những người đang sử dụng hoocmon tuyến giáp để điều trị thì sẽ phải sử dụng thêm sữa giữa khoảng cách các bữa ăn để bổ sung thêm canxi, tăng thêm tác dụng của thuốc điều trị tuyến giáp mà vẫn không ảnh hưởng đến quá trình điều trị.

Bệnh nhân cần đảm bảo bữa ăn đa dạng 8 nhóm thực phẩm hoặc 5/8 nhóm thực phẩm trong tháp dinh dưỡng. Cần cung cấp đủ nhu cầu cơ thể về năng lượng, chất đạm béo chất bột đường, các yếu tố khoáng (nhất là canxi) và vitamin (A,B,C,E).

Để phòng tránh các bệnh lý tuyến giáp, ung thư tuyến giáp, các chuyên gia khuyến cáo người dân cần có chế độ ăn hàng ngày hợp lý, tránh thừa – thiếu iốt, có lối sống phù hợp, tập luyện đều đặn… vì các bệnh lý nói chung đều cần giảm nguy cơ gây bệnh từ ăn uống, lối sống…
“Cần ăn đủ iốt, canxi, magie, không thức khuya… Trước những căng thẳng của cuộc sống cần tìm cách giải tỏa để duy trì lối sống lành mạnh, tự mình cảm thấy thoải mái nhất, hài lòng nhất để tuyến giáp và hệ miễn dịch tốt hơn”- PGS. Mai khuyên.
Người dân lưu ý bệnh này có thể phát hiện sớm qua khám xét chủ quan của chúng ta, hoặc khám sức khỏe định kỳ.

Theo suckhoedoisong.vn

Ô nhiễm đang trở thành kẻ thù gây hại làn da. Làn da bị ô nhiễm gây nên tình trạng các lỗ chân lông bị tắc nghẹt, nổi mụn, viêm da, thúc đẩy quá trình lão hóa da nhanh chóng.

Vậy chăm sóc làn da bị ô nhiễm bằng cách nào?

Làn da thay đổi thế nào khi không khí ô nhiễm?

Ô nhiễm không khí gây tổn hại nhiều đến làn da. Tiếp xúc với không khí ô nhiễm có tính chất lâu dài, lặp đi lặp lại sẽ gây lão hóa da, các bệnh lý viêm như vảy nến, viêm da cơ địa, mày đay, viêm da tiếp xúc dị ứng, viêm nang lông, mụn trứng cá và nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư da.

Ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn chủ yếu do khói bụi, khí thải như NO2, CO, SO2, tạo thành các bụi mịn (dạng lỏng hoặc rắn) có kích thước siêu nhỏ, chỉ bằng 1/40 hạt cát. Ô nhiễm không khí rất có hại cho sức khỏe. Đặc biệt, trong những bệnh lý về da liễu, ô nhiễm không khí có thể làm khởi phát hoặc nặng lên một số bệnh như viêm da tiếp xúc dị ứng, viêm da cơ địa, mụn trứng cá, mề đay, lão hóa da, rám má, sạm da. Ô nhiễm không khí còn làm cho một số bệnh da kém đáp ứng điều trị và dễ tái phát nặng lên, kéo dài, khó điều trị hơn.

Các chuyên gia đều cho rằng, ô nhiễm không khí không chỉ tác động trực tiếp, phá vỡ hàng rào bảo vệ da mà còn gây bệnh như một yếu tố trực tiếp. Các bụi mịn, siêu mịn còn tương tác với bức xạ mặt trời (các tia UV) để gây lão hóa da nhanh chóng, tổn thương da, thậm chí ung thư da thông qua việc tác động vào các thành phần trên da như tế bào sừng, nguyên bào sợi, tế bào hắc tố.

Với hai cơ chế tác động vào làn da, việc nhiều người mắc các bệnh da liễu trong thời gian gần đây là điều dễ hiểu. Trong đó, đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất sẽ là những người có hàng rào bảo vệ da bị tổn thương như có cơ địa viêm da, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, từ trẻ nhỏ dưới 6 tháng đến người già. Những người có cơ địa nhạy cảm dị ứng, viêm da tiếp xúc dị ứng sẵn có như viêm da tiếp xúc dị ứng do mỹ phẩm, bôi thuốc không đúng cách; các bệnh nhân trứng cá, viêm nang lông; người thường xuyên phải làm việc ngoài trời, dưới ánh nắng mặt trời hoặc trong môi trường khói bụi, không được bảo hộ lao động đầy đủ cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Cần bôi kem chống nắng và mang khẩu trang để bảo vệ da.

Cần bôi kem chống nắng và mang khẩu trang để bảo vệ da.

Bảo vệ làn da trước các tác động môi trường

Chống nắng khi ra ngoài trời: Tia cực tím có trong ánh nắng mặt trời không chỉ khiến làn da bị đen sạm, cháy nắng mà còn gây lão hóa thậm chí ung thư da. Để chống lại tia cực tím, khi ra ngoài trời, cần bôi kem chống nắng có chỉ số SPF từ 30 trở lên và phổ rộng chống cả tia UVA và UVB. Nếu có tắm biển hoặc hồ bơi thì chọn loại kem có thêm tính chống nước. Bôi lặp lại mỗi 2 giờ nếu tiếp xúc ánh nắng nhiều.

Mang khẩu trang, mặc quần áo dài tay khi đi ra ngoài trời: Khẩu trang chọn loại vải cotton, dày. Nếu trời nắng thì cần chọn vải tối màu (đen, xanh đen, nâu, tím) vì những màu này có khả năng chống tia cực tím tốt hơn màu sáng. Rửa mặt được xem là một trong những phương pháp chăm sóc da căn bản và quan trọng nhất. Rửa mặt với loại sữa rửa mặt dịu nhẹ, phù hợp với đặc tính của từng loại da sẽ giúp loại bỏ bụi bẩn, cặn bã, lớp kem phấn trang điểm trên khuôn mặt để cho các lỗ chân lông được thông thoáng, giảm nguy cơ viêm tắc lỗ chân lông.

Mỗi ngày nên rửa mặt ít nhất 2 lần vào buổi sáng và buổi tối trước khi đi ngủ, ngoài ra những thời điểm lý tưởng để rửa mặt là sau khi tẩy trang, sau khi đi ra ngoài về, khi da mặt tiết nhiều mồ hôi, khi có cảm giác nhờn bóng…

Tiếp xúc nhiều với không khí ô nhiễm, da sẽ nhanh lão hóa. Vì vậy, làn da cần được dưỡng ẩm để luôn khỏe mạnh, láng mịn và tươi trẻ dài lâu.

Một số cách dưỡng ẩm hiệu quả cho da là vỗ nước trực tiếp lên khuôn mặt, uống đủ lượng nước cơ thể cần khoảng 8-10 ly nước mỗi ngày, ưu tiên các loại rau quả đa dạng sắc màu và thoa kem dưỡng ẩm cho da mỗi ngày, lý tưởng nhất là sau khi tắm hoặc sau khi waxing cho da.

Ngoài ra, cần tăng cường bổ sung vi chất, những loại vi chất như vitamin A, B, C, D, E… là những loại vi chất thiết yếu cho làn da. Nó cũng tham gia tích cực vào quá trình tái tạo tế bào da và chống lại quá trình oxy hóa, quá trình lão hóa da trong cơ thể. Đặc biệt những loại vi chất được mệnh danh như những “vũ khí” có khả năng thanh lọc, thải độc cho da.

Theo Suckhoedoisong.vn

Hiện nay người ta hay nhắc tới vi chất dinh dưỡng trong bữa ăn hoặc các sản phẩm dinh dưỡng như sữa chua, váng sữa, …

Hiện nay người ta hay nhắc tới vi chất dinh dưỡng trong bữa ăn hoặc các sản phẩm dinh dưỡng như sữa chua, váng sữa, … với tăng trưởng và phát triển. Vậy chúng ta hiểu biết gì về vai trò của chúng và nhu cầu hàng ngày đối với trẻ em?

Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ (tính bằng mg hoặc mcg) nhưng lại có vai trò không thể thiếu trong tăng trưởng, phát triển, duy trì và nâng cao sức khoẻ, phòng chống bệnh tật, đặc biệt là ở trẻ em.

Vitamin A (retinol) là loại tan trong dầu, có tác dụng bảo vệ mắt, chống bệnh khô mắt, đảm bảo sự phát triển bình thường của bộ xương, giúp trẻ tăng trưởng tốt, phát triển răng, bảo vệ niêm mạc và da, tăng cường sức đề kháng của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn. Thiếu vitamin A gây thoái hoá, sừng hoá các tế bào biểu mô, giảm chức năng bảo vệ cơ thể, gây bệnh khô mắt dẫn đến sẹo giác mạc và mù lòa vĩnh viễn, làm giảm khả năng miễn dịch, tăng tỷ lệ bệnh tật/ tử vong, chậm lớn và có thể ảnh hưởng tới phát triển trí tuệ. Nhu cầu vitamin A cho trẻ 6 tháng đến 3 tuổi là 400 mcg/ngày, 4-6 tuổi 450 mcg và 7-9 tuổi 500 mcg/ngày. Trẻ gái vị thành niên nhu cầu cao, 600 mcg/ngày.

Vitamin D có 2 cấu trúc sinh lý chính là D2 (ergocalciferol) và D3 (cholecalciferol), có giá trị sinh lý tương tự nhau. Vitamin D giúp cơ thể sử dụng tốt canxi và phospho để hình thành và duy trì hệ xương, răng. Thiếu vitamin D ở trẻ nhỏ gây giảm quá trình khoáng hóa can xi từ xương, dẫn tới còi xương, ở người lớn gây loãng xương, cường năng tuyến cận giáp và tăng huy động canxi từ xương. Nhu cầu vitamin D cho trẻ từ sau sinh đến vị thành niên là 5 mcg/ngày.

Vitamin E là tập hợp 8 thành phần trong tự nhiên có hoạt tính sinh học của µ-tocopherol, chức năng chính là chống oxy hoá, bảo vệ chất béo, nhất là các acid béo chưa no nhiều nhánh (PUFAs), bảo vệ màng tế bào và các lipoprotein đậm độ thấp chống các gốc tự do. Vitamin E là một trong những chất chống oxy hóa chủ yếu và ngày càng được biết đến với những chức năng phát triển và sinh sản, phòng chống ung thư và đục thủy tinh thể. Nhu cầu vitamin E với trẻ 6-11 tháng là 4 mg/ngày, 1-9 tuổi 5-6 mg/ngày và vị thành niên 12 mg/ngày.

Kẽm là một vi khoáng có nhiều chức năng sinh học như miễn dịch, chữa lành vết thương, tiêu hóa, sinh sản, phát triển thể lực, sinh sản, giúp trẻ ăn ngon miệng, kiểm soát bệnh tiểu đường. Thiếu kẽm làm trẻ chậm lớn, giảm sức đề kháng dễ mắc các bệnh nhiễm trùng. Bổ sung kẽm làm tăng tốc độ phát triển chiều cao ở trẻ thấp còi, giảm số lần và số ngày tiêu chảy ở trẻ. Trẻ dưới 6 tháng bú sữa mẹ hoàn toàn là đủ nhu cầu kẽm. Trẻ 7-11 tháng cần 0,8-2,5 mg/ngày nếu kẽm hấp thu tốt, 2,8 mg/ngày nếu kẽm hấp thu vừa, và 6,6 mg nếu kẽm hấp thu kém. Nhu cầu kẽm với trẻ 1-3 tuổi tuần tự là 2,4 mg, 4.1 mg và 8,3 mg/ngày; 4-6 tuổi 3,1 mg, 5,1 mg và 10,3 mg; 7-9 tuổi 3,3 mg, 5,5 mg và 11,3 mg/ngày. Trẻ gái vị thành niên phát triển nhanh nhu cầu kẽm rất cao, 4,6 mg, 7,8 mg và 15,5 mg/ngày, theo thứ tự.

Iod giúp tuyến giáp trạng hoạt động bình thường, phòng bệnh bướu cổ và thiểu năng trí tuệ. Thiếu iod ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trưởng và phát triển, đặc biệt là não bộ. Hậu quả rất nặng nề của thiếu iod bào thai là tăng tỷ lệ tử vong trước/ sau sinh và chứng đần độn (cretinism). Sử dụng muối ăn tăng cường iod hàng ngày là biện pháp chính để phòng chống thiếu iod. Thừa iod gây thiểu năng tuyến giáp. Nhu cầu iod với trẻ 0-9 tuổi là 90 mcg/ngày, 10-15 tuổi 120-150 mcg/ngày và trẻ 16-18 tuổi 150 mcg/ngày.

Bên cạnh các vi chất với chức năng phát triển trên, một loạt vi chất khác tuy không trực tiếp nhưng góp phần thúc đẩy phát triển.

Có thể kể ra đầu tiên là Sắt. Với vai trò rất quan trọng, sắt cùng với protein tạo thành huyết sắc tố (hemoglobin) – yếu tố vận chuyển O2 và CO2, phòng bệnh thiếu máu và là thành phần các men oxy hóa khử. Thiếu sắt thường do ăn uống thiếu, một số tình trạng sinh lý (đang lớn, phụ nữ hành kinh, mang thai, sau sinh …) và bệnh lý (ký sinh trùng, đặc biệt giun móc và sốt rét) gây thiếu máu và suy dinh dưỡng.

Selen là thành phần của enzyme glutathione peroxidase, có chức năng khôi phục hoạt tính của các chất chống các gốc oxy tự do, làm giảm quá trình lão hoá, phòng các bệnh mạn tính không lây và ung thư.

Vitamin K gồm phylloquinone (K1) nguồn thực vật, menaquinone (K2) từ thực phẩm nguồn động vật và chất tổng hợp menadione (K3), có chức năng chính như một coenzyme trong tổng hợp nhiều thể hoạt động sinh học của protein, tham gia quá trình đông máu và làm tăng tiềm năng gắn calci vào xương.

Vitamin C có chức năng chống oxy hóa, bảo vệ cơ thể, tham gia vào quá trình tạo keo (hình thành collagen), tổng hợp carnitin, chất dẫn truyền thần kinh, hoạt hóa các hormon, khử độc thuốc, giúp hấp thu và sử dụng sắt, calci và acid folic. Ngoài ra, vitamin C còn có chức năng chống dị ứng, tăng miễn dịch, kích thích tạo dịch mật, giải phóng các hormon steroid và chuyển cholesterol thành acid mật.

Vitamin B1 hoạt động như một coenzym trong 2 loại phản ứng oxy hóa khử carboxyl và transketol hóa. Thiếu B1 sẽ dẫn đến rối loạn chuyển hoá glucid và acid amin, gây giảm acetylcholine ảnh hưởng tới chức năng hoạt động hệ thần kinh. Bệnh thiếu B1 (beriberi) thường gặp ở trẻ bú chai trẻ  – 5 tháng tuổi, bệnh phát triển rất nhanh, nếu không điều trị kịp thời trong vòng vài giờ có thể tử vong.

Vitamin B2 tham gia cấu trúc của 2 coenzym: flavin mononucleotid (FMN) và flavin adenin dinucleotid (FAD), hoạt động trong phản ứng oxy hóa khử. Vitamin B2 rất cần cho sự phát triển và sinh sản, là một phần trong nhóm enzym phân giải và sử dụng đạm, đường, béo. B2 cũng rất cần cho hô hấp tế bào, cho mắt, da, móng tay và tóc.

Vitamin PP (Niacin) hay vitamin Bcần thiết cho qúa trình tổng hợp đạm, béo và đường 5 carbon, tạo ADN và ARN, là những coenzym cho chuyển hoá năng lượng và tổng hợp các hormone sinh dục. Niacin nâng cao hiệu quả lưu thông và giảm cholesterol máu, là chất quan trọng sống còn cho hoạt động của hệ thần kinh, hình thành và duy trì làn da, lưỡi, hệ thống tiêu hóa.

Vitamin B6 là coenzym của trên 60 phản ứng sinh hoá chuyển nhóm amin, khử amin và khử carboxyl, liên quan đến hình thành các chất trung gian thần kinh và điều hoà hoà hoạt động các hormon oestrogen, androgen và progesteron. Thiếu B6 gây rối loạn chuyển hóa đạm (chậm phát triển, thiếu máu, …), gây tổn thương da và thần kinh.

Folat hay vitamin B9, hoạt động như một co-enzyme trong phản ứng di chuyển một gốc carbon trong chuyển hóa acid nucleic và các amino acid. Thiếu folat ở phụ nữ mang thai gây khuyết tật ống thần kinh. B12 giúp tạo hồng cầu, giữ cho các tổ chức của hệ tiêu hóa và thần kinh được tốt. Thiếu B12 cùng với rối loạn chuyển hoá folat gây thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ hoặc rối loạn dẫn truyền thần kinh.

Kết quả khảo sát nhanh của Viện Nghiên cứu Y Xã hội học cho thấy, trừ sữa chua Hoa Kỳ và số sữa chua, váng sữa nhập ngoại, hầu hết các sản phẩm cả nhập ngoại và sản xuất tại Việt Nam đều không ghi rõ thành phần vi chất dinh dưỡng trên bao bì. Mong muốn của chúng ta là được sử dụng những sản phẩm bổ sung tối đa các vi chất cần cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.

Theo Suckhoedoisong.vn

Ngày 19/12/2019, Báo Sức khỏe Đời sống phối hợp cùng BV Chợ Rẫy tổ chức chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe “Tăng cường hệ tiêu hóa, cốt lõi phòng chống dịch bệnh” tại BV Chợ Rẫy, với sự tham gia của các bác sĩ BV Chợ Rẫy, BS. CKII Hồ Tấn Phát, Trưởng khoa Nội Tiêu hóa và TS. BS. Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng.

Mỗi ngày, BV Chợ Rẫy tiếp nhận khám và điều trị cho hàng ngàn lượt bệnh nhân. Theo các chuyên gia, bên cạnh các nguyên nhân do bẩm sinh, di truyền, chúng ta nhận thấy phần lớn các bệnh từ chế độ dinh dưỡng, đặc biệt là các bệnh mạn tính không lây nhiễm. Bên cạnh đó, tại Việt Nam, các bệnh về tiêu hóa vẫn đứng hàng đầu ở tỷ lệ người mắc bệnh, nhất là các bệnh loét đường tiêu hóa chiếm hơn 50% trong cộng đồng.

Một hệ tiêu hóa bị tổn thương sẽ khởi đầu cho sức khỏe toàn thân bị suy yếu vì không được cung cấp đủ các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất để hoạt động (Ảnh minh họa)

Một hệ thống tiêu hóa tốt đóng một vai trò cốt lõi trong sức khỏe toàn thân. Hệ thống tiêu hóa không chỉ là cơ quan chính của cơ thể đối với việc tiếp nhận và hấp thu chất dinh dưỡng. Hệ thống các cơ quan tiêu hóa quan trọng này cũng hoạt động như một loại tổng đài hoặc trung tâm liên lạc với não bộ là một trong những tuyến đầu của cơ thể trong cuộc chiến chống lại bệnh tật.

Tiêu hóa cung cấp các chất dinh dưỡng như protein, chất béo, carbohydrate, vitamin và khoáng chất, nước từ thức ăn và đồ uống để cơ thể bạn hấp thụ và sử dụng cho năng lượng, tăng trưởng và sửa chữa tế bào.

Thỉnh thoảng, mọi người ở mọi lứa tuổi đều gặp phải các vấn đề về tiêu hóa, nhưng khi chúng ta già đi, những phiền toái như táo bón, tiêu chảy và khí gas gây đầy bụng… có thể ngày càng trở nên phổ biến. Các khía cạnh của sức khỏe thể chất của chúng ta thay đổi tự nhiên theo tuổi tác, nhưng chế độ ăn uống kém, sử dụng quá nhiều thực phẩm không đảm bảo chất lượng, uống nước không đúng cách… sẽ góp phần làm giảm men tiêu hóa và hệ vi sinh vật đường tiêu hóa mất cân bằng, dẫn đến sự tàn phá cả hệ thống tiêu hóa và miễn dịch của chúng ta.

Những gì chúng ta ăn và uống, cách chúng ta ăn, chất lượng từng loại thực phẩm, đặc biệt là chất lượng nước, cũng có thể làm suy giảm sức khỏe tiêu hóa (Ảnh minh họa)

Hiện nay ở Việt Nam, theo BS. CKII Hồ Tấn Phát, bệnh nhân đến khám và điều trị các bệnh về lý đường tiêu hóa tăng 20% mỗi năm. Tại nhiều hội thảo khoa học chuyên đề liên quan đến tiêu hóa, các chuyên gia khuyến cáo, 10% dân số Việt Nam mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa.

Các bệnh thường gặp của hệ tiêu hóa: Ợ nóng, còn được gọi là bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD); viêm loét dạ dày; sỏi mật; táo bón; tiêu chảy…

Theo các chuyên gia y tế, rất nhiều nguyên nhân có thể gây nguy hại cho chức năng tiêu hoá. Ở một số người, có thể vấn đề là do di truyền. Ở những người khác, có thể xảy ra tình trạng hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công “nhầm” vào chính hệ thống tiêu hóa, gây ra các “thảm hoạ” tiêu hóa của cơ thể. Những gì chúng ta ăn và uống, cách chúng ta ăn, chất lượng từng loại thực phẩm, đặc biệt là chất lượng nước, cũng có thể làm suy giảm sức khỏe tiêu hóa.

Báo Sức khỏe & Đời sống hy vọng từ chương trình giáo dục truyền thông sức khỏe “Tăng cường hệ tiêu hóa, cốt lõi phòng chống dịch bệnh”, các bác sĩ nội tiêu hóa cũng như dinh dưỡng sẽ chia sẻ các phương cách chăm sóc sức khỏe đường tiêu hóa, như một cốt lõi để phòng chống bệnh tật, đặc biệt bằng chế độ dinh dưỡng, ngay từ những chuyện nhỏ nhất như uống nước ngày mấy cốc, uống loại nước nào…

Hãy gọi theo số 0909 928 335 hoặc email: suckhoecongdongskds@gmail.com để đăng ký tham gia chương trình. 200 vị khách tham gia đầu tiên sẽ được nhận nhiều phần quà có giá trị lên đến 2 triệu đồng.

Báo Sức khỏe và Đời sống trân trọng cảm ơn BS. CKII Hồ Tấn Phát, Trưởng khoa Nội Tiêu hóa và TS. BS. Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng đã nhận lời tham gia chương trình.

Trân trọng cảm ơn sự đồng hành của thiết bị lọc nước điện giải ion kiềm Panasonic, Nhật Bản.

Theo Suckhoedoisong.vn

phunuonline.vn – Những phân tử ô nhiễm rất nhỏ đi vào trong không khí góp phần làm gia tăng các biến cố tim mạch đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.

Ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề toàn cầu. Ở những đô thị lớn tại châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh ô nhiễm bụi đã tăng lên mức báo động trong nhiều năm gần đây do sự phát triển nhanh của công nghiệp cùng với các phương tiện giao thông. Chúng ta đang phải đối mặt với những nguy cơ ô nhiễm không khí, tiếng ồn và nguồn nước đã gây tác hại đáng kể lên sức khỏe người dân. Ô nhiễm cho thấy có thể làm tăng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não và rối loạn nhịp. Bài viết này sẽ đề cập đến ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng thế nào đến bệnh tim mạch và bạn sẽ phải làm gì để tự bảo vệ bản thân.

Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng lên bệnh lý tim mạch

Những phân tử ô nhiễm rất nhỏ đi vào trong không khí góp phần làm gia tăng các biến cố tim mạch đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Những phân tử này được thấy có thành phần EPA như PM 2,5 đến từ khí thải của xe, của các nhà máy điện, các cơ sở công nghiệp, các vụ cháy. Tổn thương của tầng ozone trong nhiều năm qua gây ra những bệnh lý phổi và cũng có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não.

Những phân tử ô nhiễm rất nhỏ có thành phần EPA như PM 2,5 từ khí thải của các khu công nghiệp góp phần làm gia tăng các biến cố tim mạch.

Ở người bình thường, ô nhiễm môi trường chỉ góp phần rất nhỏ làm kích hoạt nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não hoặc tần số tim không đều. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bệnh lý tim mạch ô nhiễm rất dễ kích thích gây nên nhồi máu cơ tim, phải can thiệp tim mạch, đau ngực, rối loạn nhịp.

 

Một số nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy ô nhiễm môi trường làm tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch . Tổ chức Y tế thế giới ước tính ô nhiễm môi trường là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 13. Mỗi năm có khoảng 80.0000 người tử vong do ô nhiễm môi trường gây ra. Trong những nước phát triển cao như tại Bắc Mỹ, ô nhiễm cũng đứng thứ 14 làm bùng phát bệnh lý tim mạch sau các nguyên nhân như hút thuốc, béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, lạm dụng rượu, sử dụng ma túy, tăng cholesterol máu, thói quen ăn uống như ăn nhiều muối, ít rau và hoa quả, chế độ ăn nhiều thịt…

Các nghiên cứu cho thấy thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh cũng làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc đột tử do nhồi máu cơ tim. Biến đổi thời tiết và ô nhiễm môi trường cùng xuất hiện sẽ nguy hiểm cho những người có nguy cơ cao. Thời tiết quá nóng đặc biệt nguy hiểm cho những người có bệnh tim mạch, người già và những người đang phải sử dụng thuốc tim mạch.

Bảo vệ bản thân trước nguy cơ ô nhiễm

Giảm nguy cơ bao gồm lựa chọn một cuộc sống khỏe mạnh (như ngừng hút thuốc lá, điều trị tăng huyết áp và mỡ máu). Tránh những vùng, những nơi có nhiều ô nhiễm. Các phần tử ô nhiễm thỉnh thoảng chúng ta cũng có thể thấy được bằng mắt thường như dạng một hình ảnh mờ sương.

Tuy nhiên, ô nhiễm không phải lúc nào cũng dễ nhìn thấy, thậm chí ở mức độ nguy cơ cao. Về mặt nào đó, nguy cơ ô nhiễm cao sẽ ở những đường phố nhiều xe cộ đi lại, vào những giờ tan tầm, ở gần nhà máy hoặc gần những vụ cháy. Với những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao nên tránh những vùng này.

Một số người đeo khẩu trang để bảo vệ đường hô hấp nhưng cách làm này không được chứng minh sẽ giúp bảo vệ được nguy cơ ô nhiễm. Các khẩu trang thông thường không thể ngăn cản được các mảnh PM 2,5 nhỏ. Tuy nhiên, ở chỗ đông người, nơi ô nhiễm cao hoặc đang gần đám cháy, việc dùng khẩu trang lúc này là cần thiết.

Người bệnh tim mạch có thể tránh đến các khu vực bị ô nhiễm không khí thông qua các bản tin dự báo thời tiết trên truyền hình hoặc đài báo. Tránh tập thể dục ở những đường phố đông đúc và ở thời điểm mà mức độ ô nhiễm cao. Có thể đóng cửa sổ khi ô nhiễm cao và dùng điều hòa. Nên có kế hoạch tham gia các hoạt động ngoài trời khi ô nhiễm không khí thấp như: đạp xe, đi bộ, tập thể dục thể thao… Dừng những hoạt động ngoài trời nếu bạn thấy mức ô nhiễm không khí là cao.

Theo suckhoedoisong.vn

Thời tiết lạnh, một số nơi nhiệt độ còn giảm sâu gây băng tuyết đã ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người, nhất là những người có sức đề kháng kém như người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ mang thai,…

Thông thường là các bệnh về đường hô hấp như cảm lạnh, ho, viêm họng, sổ mũi,… Chăm sóc sức khỏe đúng cách khi trời lạnh sẽ giúp tăng cường sức đề kháng, phòng bệnh lây nhiễm, chống chọi lại sự khắc nghiệt của thời tiết.

Dễ ốm mùa đông

Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, những virus phổ biến gây cảm lạnh ở người sinh trưởng và phát triển tốt hơn trong môi trường mát mẻ. Điều này đồng nghĩa với việc vào mùa đông, các loại vi khuẩn, virus gây bệnh có xu hướng chọn mũi thay vì sinh sống trong đường ruột ấm và ẩm ướt.

Thêm vào đó, không khí lạnh cũng khiến hệ miễn dịch của cơ thể sản xuất ít tế bào bạch cầu hơn, khiến cho các vi khuẩn, virus có thể “tự do” hơn trong việc xâm nhập cơ thể. Nhiệt độ lạnh hơn cũng khiến cho các phản ứng miễn dịch trở nên chậm chạp hơn, đồng thời khiến cơ thể nhạy cảm.

Vì vậy,chủ động bảo vệ sức khỏe, giữ ấm cơ thể để tăng cường sức đề kháng, chống chọi lại sự khắc nghiệt của thời tiết.

Đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ

Thực phẩm chính là nguồn cung cấp năng lượng cần thiết để giữ ấm cơ thể trong mùa đông. Do đó, muốn giữ ấm cơ thể tốt nhất thì nên ăn đủ bữa và nạp đủ lượng dinh dưỡng cần thiết.

Lượng thực phẩm cung cấp sẽ giúp cho quá trình đốt cháy calo được diễn ra thuận lợi, tạo điều kiện sinh nhiệt liên tục cho cơ thể. Bên cạnh đó, thức ăn còn cung cấp năng lượng cần thiết thông qua lượng đường được hấp thụ, tăng khả năng giữ ấm trong điều kiện thời tiết lạnh. Đặc biệt, một số món ăn từ các loại gia vị như gừng, tỏi… cũng giúp giữ ấm cơ thể rất tốt. Các món ăn nên ăn khi còn nóng, vừa giúp làm ấm cơ thể hơn, vừa giúp bảo vệ hệ thống miễn dịch.

cham-soc-suc-khoe-mua-lanh-dung-cach-1Mùa lạnh cần cung cấp dinh dưỡng nhiều hơn để phòng chống rét.

Uống thật nhiều nước

Có một quan niệm sai lầm phổ biến rằng cơ thể cần ít nước hơn trong những tháng mùa đông. Sự thật là dù nhiệt độ cao hay thấp, kể cả bạn không toát mồ hôi và không cảm thấy khát nước, thì cơ thể bạn cũng luôn cần nước. Vì vai trò của nước trong cơ thể không thay đổi trong cả mùa đông và mùa hè: vận chuyển chất dinh dưỡng và ôxy đến các tế bào, loại bỏ chất thải, tạo điều kiện cho cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng, bảo vệ các cơ quan quan trọng, làm ẩm, làm dịu da và mắt, đảm bảo duy trì huyết áp bình thường. Nước cũng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, giúp bảo vệ chống lại sự kiệt sức do nhiệt độ quá nóng trong những tháng hè, cũng như vào mùa đông nước rất cần thiết để đảm bảo giúp cơ thể chống lại cái lạnh.

Nên uống từ 6 – 8 ly nước mỗi ngày để giữ nước và luôn luôn giữ cho cơ thể được ấm. Điều này sẽ có lợi ích lớn trong việc tránh cho cơ thể bị giảm nhiệt độ, khiến chúng ta dễ mắc các bệnh hô hấp như ho, sổ mũi hoặc cảm lạnh, nặng hơn là viêm phế quản, viêm phổi.

Duy trì tập luyện thể dục, thể thao mỗi ngày

Khi thời tiết lạnh, cơ thể thường ít vận động hơn, rất khó để duy trì tập thể dục đều đặn mỗi ngày. Tuy nhiên, việc luyện tập thể dục thể thao giúp cơ thể giải phóng một lượng endorphin – một chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ, có tác dụng tạo cảm xúc tích cực, cải thiện tâm trạng, và giảm đau.

Lợi ích của việc tập thể dục hàng ngày là không thể phủ nhận. Hãy đặt mục tiêu thực hiện ít nhất 150 phút tập thể dục mỗi tuần trong mùa đông để tăng cường nguồn năng lực tích cực cho cơ thể, đẩy lùi mọi bệnh tật.

Lưu ý, nên uống nước trước, trong và sau khi tập luyện dù bạn không cảm thấy khát. Khi nhiệt độ giảm đột ngột, các mạch máu co lại khiến máu không thể lưu thông tốt, do đó, bàn tay, bàn chân, mũi và thậm chí tai cũng có thể thấy lạnh.

Bổ sung đầy đủ vitamin

Mùa đông với đặc trưng là ngày ngắn đêm dài nên cơ thể thường ít tiếp xúc với ánh nắng trực tiếp, điều này làm giảm lượng vitamin D trong cơ thể. Đây là một chất thiết yếu có vai trò quan trọng trong việc giữ cho hệ thống miễn dịch và khả năng miễn dịch thích ứng của chúng ta hoạt động tốt. Cả hai hệ miễn dịch này đều rất cần thiết và đều cần mức vitamin D đầy đủ để hoạt động.Vì vậy, thiếu hụt vitamin D có thể khiến các tế bào miễn dịch không thể phản ứng một cách thích hợp, làm chúng ta dễ bị nhiễm trùng hơn.

Ngoài ra, vitamin D rất cần thiết cho việc biến đổi thực phẩm thành năng lượng nên nếu thiếu vitamin này, cơ thể sẽ không hấp thu các chất dinh dưỡng từ thức ăn và kết quả là dẫn đến thiếu năng lượng, gây mệt mỏi.

Theo Suckhoedoisong.vn

Thời tiết lạnh đột ngột làm cho các bệnh về hô hấp ở người già, trẻ em gia tăng. Những bệnh nhân bị hen sẽ tái phát và trở nặng hơn.

Để bảo vệ sức khỏe trong mùa đông việc giữ ấm cơ thể là vô cùng cần thiết. Dưới đây là  lời khuyên hữu ích không chỉ với những người đang mắc bệnh mà cả những người có sức khỏe bình thường để vượt qua mùa đông lạnh giá.

Mặc quần áo đủ ấm

Đây là biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất để giữ ấm cơ thể. Tuy nhiên không nên mặc quần áo dày, mà nên mặc quần áo mỏng, nhiều lớp, để gió lạnh không thể luồn vào cơ thể. Đối với trẻ em, mặc quần áo nhiều lớp còn có tác dụng để có thể cởi cho trẻ khi toát mồ hôi do chơi đùa, hoặc nằm ngủ. Mồ hôi của trẻ nếu không kịp lau có thể thấm ngược trở lại cơ thể gây các bệnh đường hô hấp.

Nguyên tắc đầu tiên để ngừa bệnh hô hấp là giữ ấm vùng mũi – cổ – ngực. Khi ở trong nhà cũng nên mặc áo chống rét, chọn loại áo cao cổ, choàng khăn. Nên trang bị dụng cụ sưởi hoặc lò sưởi làm ấm không khí và đóng cửa để tránh gió lùa vào nhà. Khi ra đường phải mang khẩu trang để tránh hít phải khí lạnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến tai, mũi, họng và đường hô hấp. Đặc biệt lưu ý không được mặc phong phanh khi trời lạnh bởi điều này có thể khiến bạn dễ viêm phổi và đột quỵ.

5-cach-giu-am-co-the-de-tranh-benh-khi-vao-dong-1Mặc ấm là biện pháp đơn giản và hữu hiệu nhất để giữ ấm cơ thể.

Ăn đủ chất

Ăn đủ các chất đường, protein, đặc biệt là mỡ giúp cho cơ thể có cơ chất để sinh năng lượng chống rét. Nên ăn thức ăn nấu chín kỹ, mềm, dễ tiêu, số lượng ít nhưng chất lượng phải đảm bảo như súp, cháo thịt, các món hầm… Chia thành nhiều bữa nhỏ. Buổi sáng và trưa nên ăn thức ăn giàu calori và bữa tối ăn nhẹ nhàng hơn kèm theo chút hoa quả. Tránh ăn quá no, uống quá nhiều vào bữa tối vì có thể gây mất ngủ do đầy bụng trướng hơi và đi tiểu nhiều.

Bên cạnh đó, cần dùng những thức ăn nóng ấm, rắc thêm ít tiêu sẽ giúp làm ấm vùng phổi. Tăng cường các loại trái cây có tác dụng giữ ấm phổi, tốt cho hệ hô hấp như nhãn, xoài, ổi… Uống trà vào mỗi buổi sáng cũng là thói quen tốt giúp hệ hô hấp khỏe mạnh hơn.

Ngâm chân bằng nước ấm

Mùa đông, thời tiết lạnh khiến các mạch máu dưới da co lại, máu lưu thông chậm… Một trong những bộ phận trên cơ thể nhạy cảm với lạnh chính là bàn chân. Vì thế, ngoài việc giữ ấm cơ thể cần phải đặc biệt chú ý chăm sóc và giữ ấm đôi bàn chân. Giữ cho đôi chân khỏe mạnh chính là cách để bảo vệ sức khỏe trong mùa đông. Mỗi tối trước khi đi ngủ, nên ngâm chân vào chậu nước ấm cho chút muối ăn khoảng 10-15 phút. Nếu có điều kiện có thể dùng nước ấm pha chút tinh dầu bạc hà, hoắc hương hoặc nấu nước lá chanh, lá bạch đàn,… Ngâm chân bằng nước ấm sẽ giúp “sưởi ấm” cho cả chân và cơ thể, giúp có giấc ngủ ngon.

Chú ý, khi đi ra ngoài lạnh về, không nên hơ ngay bàn chân gần bếp lửa, lò sưởi dù là sưởi điện, không dùng túi chườm nóng, kể cả chăn sưởi ấm quá nóng. Dùng bít tất ngắn có chất liệu sợi bông, len. Nên đi giầy đế dày và có tấm lót. Nên thường xuyên thay tất, giữ vệ sinh cho đôi chân.

Không tắm lâu và hạn chế tập thể dục sáng sớm hoặc tối muộn

Tắm quá lâu, tắm nước lạnh khi nhiệt độ ngoài trời hạ thấp vô cùng nguy hiểm, thậm chí dẫn tới tử vong. Vì thế, cần tăng nhiệt độ nước tắm, tắm trong phòng kín gió và tuyệt đối không tắm quá lâu. Nếu nhiệt độ ngoài trời quá thấp, nên hạn chế tắm nhiều, chỉ cần vệ sinh bằng khăn ẩm và tắm 2 ngày 1 lần là đủ.

Không nên ngồi ì một chỗ vì thời tiết lạnh mà nên thường xuyên vận động. Buổi sáng và buổi tối, có thể tập thể dục, đi bộ khoảng 30 phút mỗi ngày. Đi bộ cũng là cách tốt nhất để cải thiện lưu thông máu cho bàn chân. Việc đặt áp lực lên đôi chân khi đi bộ đã là một động tác để dồn lưu lượng máu trong các tĩnh mạch lên đôi chân. Trong khi ngồi làm việc hoặc xem tivi, có thể gập các ngón chân lại và duỗi các ngón chân ra. Cứ lặp lại động tác này khi có thể hoặc làm ít nhất 10 phút mỗi ngày sẽ giúp chân khỏe mạnh và giảm đau. Tuy nhiên đặc biệt lưu ý, nhiệt độ ngoài trời lúc sáng sớm hoặc tối muộn thường rất lạnh và có những cơn gió mạnh, gió độc. Ra ngoài trong khoảng thời gian này sẽ khiến cơ thể bị nhiễm lạnh, dễ dẫn tới cảm lạnh, ảnh hưởng tới hệ thần kinh, có thể gây méo miệng. Thậm chí, một số người có sức đề kháng quá yếu, trẻ em hoặc người lớn tuổi ra khỏi nhà trong điều kiện nhiệt độ như vậy tiềm ẩn nguy cơ đe dọa tính mạng. Chính vì vậy, thời gian tập thể dục buổi sáng sẽ muộn hơn và buổi chiều phải sớm hơn các mùa trong năm.

Tránh xa rượu, bia

Nhiều người cho rằng thời tiết lạnh, uống rượu sẽ làm ấm người. Tuy nhiên uống quá nhiều rượu lại gây ra những tác hại khôn lường với sức khỏe. Uống rượu, nhất là uống say trong thời tiết lạnh rất nguy hiểm dễ bị đột quỵ. Nhiều trường hợp đã tử vong do uống rượu. Khi uống rượu, các mạch máu giãn ra, khi gặp trời lạnh, mạch đột ngột co lại, huyết áp dễ tăng lên gây tai biến và dẫn đến tử vong. Cách tốt nhất là không uống rượu, nếu phải uống và uống quá say không nên ra ngoài trời lạnh ngay.

Theo Suckhoedoisong.vn

Chăm sóc sức khỏe của người mẹ khi mang thai có liên quan mật thiết đến sức khỏe của thai nhi.

Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy suy dinh dưỡng bào thai là yếu tố góp phần làm tăng các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận và bệnh tim mạch khi trẻ trưởng thành. Người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống không hợp lý là nguyên nhân của suy dinh dưỡng bào thai (trẻ đẻ ra có cân nặng < 2.500g).

Theo kết quả điều tra toàn quốc năm 2015 cho thấy 32,8% phụ nữ có thai (PNCT), 25,5% phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ), 27,8% trẻ em (TE) dưới 5 tuổi bị thiếu máu. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở te dưới 24 tháng tuổi (42.7- 45%). PNTSĐ khu vực miền núi có tỷ lệ thiếu máu cao nhất (27.9%), khu vực nông thôn  và thành phố có thiếu máu thấp hơn với tỷ lệ tương ứng là 26.3 và 20.8%. Thiếu máu do thiếu sắt chiếm tỷ lệ 63,6 % TE; 54,3% PNCT và 37,7% PNTSĐ các trường hợp thiếu máu. Thiếu sắt chiếm tỷ lệ 50,3% TE; 47,3% PNCT và 23,6% PNTSĐ.

Phụ nữ dễ bị thiếu máu thiếu sắt hơn nam giới vì dự trữ sắt của họ thấp do mất máu trong các kỳ kinh nguyệt. Khi có thai, dự trữ sắt trong cơ thể phụ nữ không đáp ứng đủ việc tạo hồng cầu, do sự tăng thể tích máu ngày càng nhiều để nuôi thai nhi. Bệnh thiếu máu ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cả mẹ lẫn con.Người mẹ thiếu máu thường mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, khi đẻ có nhiều rủi ro, tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn so với bà mẹ bình thường.Người ta đã coi thiếu máu là một yếu tố nguy cơ trong sản khoa.

Đối với thai nhi, thiếu máu thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên lượng sắt dự trữ của cơ thể trẻ thấp. Khi mang thai tổng lượng sắt cần > 1.000mg hay nhu cầu sắt hàng ngày là 59,2mg sắt nguyên tố (so với 39,2mg/ngày ở phụ nữ không có thai).

phu-nu-co-thai-nen-yeu-sat-acid-folic-1Cần phải bổ sung sắt, acid folic bằng đường uống

Ở nước ta, những kiến thức về chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi mang thai đã được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều phụ nữ không được tiếp cận đầy đủ những thông tin về dinh dưỡng hợp lý để chuẩn bị cho việc đón đứa con chào đời thông minh và khỏe mạnh. Theo kết quả của một số nghiên cứu, để hỗ trợ thai nhi phát triển tối ưu, các vi chất dinh dưỡng như sắt, acid folic, kẽm, canxi… và các vitamin đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đây là vấn đề đang được quan tâm ở Việt Nam, vì tình trạng thiếu vi chất ở bà mẹ mang thai chưa được quan tâm đầy đủ. Bổ sung sắt, acid folic đầy đủ sẽ giúp cải thiện sức khỏe bà mẹ và thai nhi.

Sắt trong cơ thể có vai trò rất quan trọng vì đây là yếu tố cần thiết để tạo hồng cầu.Sắt có nhiệm vụ vận chuyển oxy và CO2 trong quá trình hô hấp, có vai trò quan trọng trong sự phát triển trí não ở trẻ nhỏ.Sắt còn giúp bảo vệ cơ thể không bị nhiễm khuẩn vì sắt tham gia vào thành phần của một enzym trong hệ miễn dịch, sắt giúp biến đổi betacaroten thành vitamin A, giúp tạo collagen (giúp gắn kết các mô cơ thể).Nếu sắt không được cung cấp đủ sẽ đưa đến thiếu máu thiếu sắt. Lượng sắt ở trẻ sơ sinh là 250mg, ở trẻ 1 tuổi khoảng 420mg và ở người trưởng thành khoảng 3.500mg – 4.000mg.

Acid folic (hay còn gọi là folat, vitamin B9) rất cần thiết cho sự phát triển, phân chia tế bào và cho sự hình thành tế bào máu.Nhu cầu acid folic trung bình ở người trưởng thành 400µg/ngày. Nhu cầu này tăng lên trong thời kỳ mang thai (600µg/ ngày) để đáp ứng cho sự phân chia tế bào cũng như sự tăng kích thước của tử cung.

Acid folic rất cần cho quá trình tổng hợp nhân tế bào acid deoxyribo nucleic (AND), acid ribo nucleic (ARN) và protein; cho sự hình thành nhau thai; sự tăng trưởng của bào thai. Do số lượng tế bào hồng cầu gia tăng theo sự gia tăng của khối lượng máu và do tăng thải folate qua nước tiểu trong khi mang thai, nên phụ nữ mang thai thường hay thiếu acid folic. Sự thiếu hụt này sẽ làm thiếu máu hồng cầu; nguy cơ sẩy thai cao; sinh non, sinh con nhẹ cân.

Đặc biệt, việc thiếu acid folic có thể gây khuyết tật ống thần kinh của thai nhi, gây nứt đốt sống và não úng thủy (não có nước). Nứt đốt sống là một khuyết tật, trong đó một bộ phận của một hay nhiều đốt sống không phát triển trọn vẹn, làm cho một đoạn tủy sống bị lộ ra.Nứt đốt sống có thể xảy ra ở bất cứ đốt sống nào nhưng thường gặp ở dưới thắt lưng và mức độ nghiêm trọng tùy vào số mô thần kinh bị phô bày. Sự hoàn thiện của việc khép ống thần kinh kết thúc vào ngày thứ 28 của thai kỳ. Cho nên, bổ sung acid folic trước khi thụ thai mới có hiệu quả dự phòng khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi.

Mỗi phụ nữ mang thai đều có nguy cơ tiềm ẩn sinh ra những em bé bị nứt đốt sống, cho dù họ bao nhiêu tuổi, con so (lần đầu) hay con rạ (từ lần hai) mặc dù lần mang thai trước đó bà mẹ đã sinh ra đứa trẻ khỏe mạnh. Tuy vậy, một số trường hợp phụ nữ cần phải bổ sung acid folic (theo chỉ định của nhân viên y tế) sau:

– Tình trạng dinh dưỡng kém, bị sụt cân, ăn ít, khẩu phần ăn không cân đối, thiếu vi chất dinh dưỡng.

– Có giai đoạn không ăn được do mệt mỏi, chán ăn hay lo lắng nhiều.

– Mới sẩy thai, hay thai chết lưu.

– Làm việc vất vả hoặc bị căng thẳng thần kinh.

– Phụ nữ đẻ dày, đẻ nhiều, có thể để lại hậu quả tình trạng dinh dưỡng kém, nên rất cần cung cấp đủ acid folic trước khi mang thai.

– Có tiền sử sinh con khiếm khuyết ống thần kinh.

– Nghiện cà phê, rượu hay thuốc lá.

Nhiều nghiên cứu lớn trên thế giới gần đây đã chỉ ra rằng, nồng độ acid folic đủ cao trong máu người mẹ rất cần thiết cho việc đóng ống thần kinh bình thường ở thai nhi. Có thể ngăn ngừa 70% – 80% số trẻ bị dị dạng ống thần kinh nếu trước và trong thời gian mang thai người mẹ được bổ sung acid folic đầy đủ.

phu-nu-co-thai-nen-yeu-sat-acid-folic-2

Các giải pháp phòng chống thiếu sắt và acid folic

Ăn uống hợp lý, đa dạng các loại thực phẩm là biện pháp phòng chống thiếu vi chất tốt nhất. Trước và trong khi có thai, cần có khẩu phần ăn đủ số lượng và cân đối về chất lượng để đảm bảo cung cấp đủ vitamin, các khoáng chất và các yếu tố vi lượng. Để phòng thiếu acid folic và sắt, nên ăn các loại thịt có màu đỏ như thịt lợn, thịt bò, gan, các loại rau có màu xanh thẫm như bông cải, các loại đậu, ngũ cốc. Để tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu sắt, cần tăng cường vitamin C, nên cần ăn đủ rau xanh và hoa quả chín.

Phụ nữ dự định mang thai, mang thai và cho con bú nên sử dụng thực phẩm có tăng cường sắt/acid folic để đảm bảo cung cấp đủ lượng sắt và acid folic hàng ngày, kết hợp với các vitamin và khoáng chất khác.

Bổ sung sắt, acid folic bằng đường uống: phụ nữ là đối tượng rất dễ bị thiếu sắt và acid folic và trong một số trường hợp, sự bổ sung hai chất dinh dưỡng này thông qua ăn uống là không đủ, do vậy, cần phải bổ sung bằng đường uống thuốc. Phụ nữ không mang thai bổ sung sắt/acid folic mỗi tuần 1 viên (60mg sắt nguyên tố, 2.800µg acid folic) trong thời gian 3 tháng, nghỉ 3 tháng, sau đó tiếp tục bổ sung 3 tháng.

PNCT cần uống bổ sung viên sắt/acid folic 1 viên/ngày (60mg sắt nguyên tố và 400µg acid folic) từ khi phát hiện có thai đến sau khi sinh 1 tháng. Để tránh tác dụng phụ (như buồn nôn, táo bón…) của viên sắt nên uống sau bữa ăn 1 – 2 giờ, sắt hấp thu tốt khi trong khẩu phần ăn sử dụng những thực phẩm có nhiều vitamin C. Không uống sắt cùng với chè, cà phê vì chất tanin trong chè, cà phê sẽ giảm hấp thu sắt.

Theo Suckhoedoisong.vn

Trẻ em có hai giai đoạn phát triển thể chất vượt trội là giai đoạn 1000 ngày đầu đời (từ khi trẻ được mang thai đến 24 tháng tuổi và giai đoạn tuổi dậy thì). Hai giai đoạn này nếu trẻ được cung cấp đầy đủ dưỡng chất và có môi trường sống lành mạnh thì sẽ đạt được chiều cao tối ưu.

1.000 ngày đầu đời được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhấn mạnh là giai đoạn vàng phát triển chiều cao và thể chất. Trẻ có thể tăng 25cm trong năm đầu tiên và 10cm mỗi năm trong 2 năm tiếp theo, nếu được bổ sung dinh dưỡng đúng và đủ. Đây là giai đoạn quyết định đến 60% khả năng tăng trưởng chiều cao của trẻ trong tương lai.

Giai đoạn trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi đạt tốc độ phát triển nhanh nhất so với mọi giai đoạn khác. Trẻ có cân nặng gấp đôi cân nặng sơ sinh trong vòng 4-5 tháng đầu và gấp 3 lần cân nặng sơ sinh vào cuối năm thứ nhất. Đến ngày sinh nhật đầu tiên của trẻ, chiều dài nằm (tức là chiều cao của trẻ) đã tăng gấp rưỡi so với chiều dài khi sinh.

hai-giai-doan-vang-phat-trien-chieu-cao-cua-tre-1

Trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi đạt tốc độ phát triển chiều cao nhanh nhất so với mọi giai đoạn khác.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, giai đoạn trẻ có nguy cơ suy dinh dưỡng cao nhất là từ 12-24 tháng tuổi, và tỷ lệ suy dinh dưỡng giữ ở mức cao cho tới 60 tháng (5 tuổi). Những trẻ bị suy dinh dưỡng trong 2 năm đầu của cuộc sống sẽ bị ảnh hưởng đến phát triển thể lực, đặc biệt là chiều cao của trẻ ở tuổi vị thành niên. Sự phát triển trí não của những trẻ này cũng sẽ kém hơn những trẻ khác. Trẻ dưới 2 tuổi cũng là giai đoạn diễn ra sự chuyển tiếp về nuôi dưỡng (ăn dặm và sau đó dần chuyển sang ăn bữa ăn cùng gia đình), đồng thời là giai đoạn trẻ dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là tiêu chảy và viêm đường hô hấp. Do vậy, trong giai đoạn này trẻ cần được chăm sóc cẩn thận hơn.

Sau 2 tuổi, tốc độ tăng trưởng không quá nhanh khoảng 6,2 cm mỗi năm, mật độ xương cũng tăng lên khoảng 1% một năm ở cả bé trai và bé gái. Tuy nhiên việc có chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng sẽ tiếp tục hỗ trợ cho sự phát triển chắc khỏe của xương là tiền đề cho sự phát triển chiều cao ở lứa tuổi dạy thì.

hai-giai-doan-vang-phat-trien-chieu-cao-cua-tre-2

Sau 2 tuổi, tốc độ tăng trưởng không quá nhanh khoảng 6,2 cm mỗi năm, mật độ xương cũng tăng lên khoảng 1% một năm ở cả bé trai và bé gái.

Giai đoạn dậy thì

Lứa tuổi dậy thì (từ 12-18 tuổi) đặc trưng bởi sự tăng trưởng vượt bậc về cả cơ bắp, khung xương cũng như các chức năng sinh dục. Tốc độ tăng trưởng nhanh cả về chiều cao, cân nặng và trẻ sẽ đạt đỉnh của tốc độ tăng chiều cao khi mà trẻ có thể tăng khoảng 10-15 cm/năm và mức tăng sẽ giảm dần sau đó. Ở giai đoạn 10 tuổi, cứ mỗi năm bé gái  tăng  10 cm chiều cao và tăng dần đến khi đạt được 15 cm một năm ở độ tuổi 12.

Đỉnh tốc độ tăng trưởng của trẻ nam là 12 tuổi (10cm/ năm) và đạt tối đa đến 14 tuổi (15 cm/năm). Tốc độ tăng trưởng sẽ giảm dần trong khoảng 15 tuổi ở nữ giới và khoảng 17 tuổi ở nam giới. Thời gian phát triển chiều cao mạnh nhất ở nữ giới là từ 8-17 tuổi, quyết định đến 23% chiều cao trung bình ở người trưởng thành. Kích thước xương, khối lượng xương và mật độ chất khoáng ở mỗi xương tăng lên khoảng 4% mỗi năm tính từ giai đoạn trẻ 8 tuổi cho đến qua giai đoạn vị thành niên.

hai-giai-doan-vang-phat-trien-chieu-cao-cua-tre-3

Lứa tuổi dậy thì (từ 12-18 tuổi), trẻ có thể tăng khoảng 10-15 cm/năm

Sự tích lũy nhanh chóng về khối lượng xương có liên quan đến sự tăng trưởng và phát triển chiều cao và có thể cả sự hoạt động của các hormone tăng trưởng như IGF-1, steroid sinh dục và các receptor của các hormone. Vai trò của khẩu phần ăn càng trở nên rất quan trọng đối với sự phát triển cơ thể của trẻ em trong giai đoạn này. Các chất dinh dưỡng chính để tăng trưởng và phát triển gồm protein, sắt, canxi, vitamin A, vitamin D, iot và kẽm.

Ngoài ra, còn có vai trò của hormone GH và các hormone sinh dục. Trong giai đoạn này, cơ thể có nhiều tiềm năng để khắc phục các tình trạng chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng ở các giai đoạn trước. Lưu ý việc dùng thuốc thay thế hormone chỉ sử dụng trong những trường hợp trẻ đã được thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng chặt chẽ để chẩn đoán xác định, tuyệt đối không tự ý dùng các thuốc thay thế hormone này sẽ không có tác dụng và nguy hiểm tính mạng của trẻ.

Nhiều nghiên cứu còn cho thấy, ở những năm tiếp theo, khi cơ thể được ăn uống hợp lý, tích cực rèn luyện thể dục thể thao trong môi trường và lối sống lành mạnh, chiều cao con người vẫn tiếp tục tăng ít cho đến 25 tuổi ở nữ giới và 28 tuổi ở nam giới.

Phần lớn trẻ em Việt Nam mới sinh đều có chiều dài tương đương với trẻ em sinh ra tại các quốc gia khác trên thế giới (trên 50cm), nhưng từ 3 tuổi trở lên, khoảng cách chiều cao của trẻ em Việt Nam cách biệt dần và dần bị trẻ em thế giới bỏ xa. Chiều cao trung bình của người Việt trưởng thành hiện nằm trong nhóm những nước có chiều cao thấp ở châu Á và càng xa hơn các quốc gia châu Âu mặc dù chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em do Viện Dinh Dưỡng triển khai trong nhiều thập kỷ qua đã đạt được những hiệu quả đáng kể về cải thiện chiều cao trẻ em. Tuy nhiên, các tiêu chí trong cuộc sống để giúp phát triển chiều cao tối ưu ở hầu hết các vùng miền vẫn chưa đạt đến được như đảm bảo đủ dinh dưỡng không thiếu ăn, không thiếu vi chất, môi trường sống trong sạch không nhiễm khuẩn, bụi, hóa chất…. Vì thế nắm bắt được các giai đoạn tăng trưởng chiều cao của trẻ cùng với các yếu tố ảnh hưởng đến chiều cao đặc biệt là dinh dưỡng hợp lý giúp cho các bậc phụ huynh có những biện pháp can thiệp kịp thời giúp trẻ đạt được chiều cao tối ưu.

Theo Suckhodoisong.vn

Hiện nay, thời tiết thu đông với các đợt không khí lạnh tràn về, trời hanh khô cùng với môi trường ô nhiễm… là những yếu tố thuận lợi khiến người dân hay mắc các bệnh về đường hô hấp, nhất là ở đối tượng trẻ nhỏ vốn nhạy cảm và sức đề kháng còn non kém. Trong các bệnh đường hô hấp thì viêm họng, viêm phế quản là hai bệnh khá phổ biến mà trẻ hay mắc phải.
Mỗi trẻ thường bị 4-6 lần mắc bệnh hô hấp/năm

PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy – Trưởng Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Hà Nội cho biết, bệnh lý hô hấp là bệnh rất phổ biến, nhất là ở nước ta hiện nay do đặc điểm khí hậu, ô nhiễm môi trường… Trung bình mỗi trẻ Việt thường bị từ 4-6 lần mắc bệnh hô hấp/năm.

Họng là vùng cửa ngõ hầu họng tiếp xúc trực tiếp với vi rút, vi khuẩn, trong khi trẻ non nớt do sức đề kháng yếu lại bị tác nhân tấn công liên tục nên nguy cơ mắc bệnh cao. Trước đây người ta kỳ vọng giảm bệnh hô hấp nhưng có vẻ bệnh này ngày càng gia tăng, do đó cần dự phòng cho bản thân và trẻ em.

“Trong đường hô hấp của chúng ta đều có sẵn vi rút ở thể không hoạt động, do yếu tố thuận lợi (như thời tiết chẳng hạn) sẽ làm nó chuyển sang thể hoạt động gây bệnh về đường hô hấp. Biểu hiện sớm là viêm long đường hô hấp trên như: hắt hơi, sổ mũi, ho, chảy mũi trong, hơi đau đầu, quấy khóc, khó chịu, bỏ ăn…. Ho lúc đầu ho khan, ho đờm, tiến triển dần. Đây là dấu hiệu khởi điểm hay gặp.

Nếu để nặng hơn sẽ tiến triển nặng hơn gây viêm phế quản là bệnh đường hô hấp dưới với biểu hiện là ho nhiều khò khè, khó thở…”- PGS. Thuý phân tích.

bac-si-chi-ro-dau-hieu-tre-bi-viem-hong-viem-phe-quan-va-cach-phong-ngua-1PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy.

80% bệnh do vi rút, chỉ 20% do vi khuẩn – Tuyệt đối không tự dùng kháng sinh

Hiện nay nhiều cha mẹ băn khoăn giữa nhóm các bệnh do vi khuẩn và vi rút gây ra, theo chuyên gia Nhi khoa, đây là vấn đề mà các nhà chuyên môn là bác sĩ cần phân biệt nguyên nhân gây bệnh khác nhau để có cách xử trí khác nhau. Bệnh do vi rút có thể tự khỏi sau 2-3 ngày và có đến 80% bệnh do vi rút gây nên; chỉ 20% do vi khuẩn.

PGS. Thuý tư vấn, với trẻ chỉ bị ho, cảm lạnh thông thường thì các biện pháp xông rất dễ chịu giúp thông mũi, hoặc vệ sinh nước muối cho trẻ. Nếu trẻ chỉ ho, chảy mũi cần rửa mũi, súc miệng, vệ sinh cho trẻ. Có thể dùng các loại thuốc đông y, thảo dược để dịu họng, mát họng, chúng hầu như không có tác dụng phụ, giúp trẻ loãng đờm ra, không đau họng, nuốt dễ… Cho trẻ ăn đồ lỏng, nhiều nước giúp hấp thu tốt làm lỏng đờm, vỗ long đờm… sẽ giảm tải sổ lượng vi rút ở mũi, triệu chứng thuyên giảm dần dần, sau 3 ngày trẻ đỡ hẳn. Thông thường bệnh không quá nặng như phụ huynh lo lắng.

Trường hợp trẻ sốt cao liên tục, qua thăm khám có nhiễm khuẩn, họng có mủ, bỏ ăn, li bì khó đánh thức… thì cần dùng kháng sinh. Việc có quyết định dùng kháng sinh hay không là do bác sĩ quyết định, cha mẹ tuyệt đối không tự ý điều trị.

“Thực tế các gia đình hiện nay có ít con, cha mẹ dành mọi yêu thương cho con nên khi con hắt hơi, sổ mũi đã rất lo lắng, tuy nhiên theo tôi cần tăng cường kiến thức khoa học. Rửa nước muối cần phải được bác sĩ chỉ định đúng, kỹ thuật rửa đúng, chứ không thiết cần phải rửa hàng ngày. Mũi – họng thông nhau, rửa không đúng cách sẽ từ viêm mũi sẽ thành viêm tai cho nên không nên lạm dụng việc này. Nếu trẻ bị bệnh cần bình tĩnh không nên ngay lập tức vào viện vì dễ lây chéo khiến bệnh nặng hơn”- PGS. Thuý nói.

bac-si-chi-ro-dau-hieu-tre-bi-viem-hong-viem-phe-quan-va-cach-phong-ngua-2PGS.TS Nguyễn Thị Lâm.

Chú ý chế độ dinh dưỡng cho trẻ

PGS.TS Nguyễn Thị Lâm – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia tư vấn, bất kỳ giai đoạn nào của trẻ, cha mẹ cũng cần phải chú ý chế độ dinh dưỡng cho con, không phải riêng lúc ốm đau. Nên cho trẻ ăn đa dạng các loại thực phẩm, khi trẻ ăn đủ dinh dưỡng thì khả năng miễn dịch tốt hơn.

Trẻ có dấu hiệu viêm đường hô hấp trên thì nên cho trẻ ăn thức ăn mềm, ăn lỏng, chia nhỏ bữa ăn trong ngày, xen kẽ có thể là cháo súp, cho trẻ uống sữa, sinh tố thêm vào bữa phụ… Những món ăn gây kích thích làm họng tổn thương như ăn cay quá sẽ khiến trẻ bị ho, khó chịu hơn. Trẻ có nguy cơ dị ứng cần tránh món ăn gây dị ứng như cá, tôm, nhộng, lạc… vì dễ làm tăng tình trạng viêm đường hô hấp ở trẻ.

Hiện nay việc sử dụng sản phẩm có tính chất kìm khuẩn, diệt khuẩn, giảm triệu chứng được bào chế, chiết xuất từ thảo dược thiên nhiên được cấp phép đang khá được quan tâm. Các chuyên gia Nhật Bản khuyến cáo nên dùng các sản phẩm organic, không ăn sản phẩm biến đổi gen… Ngay cả WHO khuyến cáo điều trị bệnh lý đường hô hấp trên (ho, cảm lạnh) chỉ cần làm dịu họng chứ không cần giảm ho, dùng thảo dược giảm đau họng, làm dịu họng, điều hòa miễn dịch, cân bằng trở lại.

Các bác sĩ cũng lưu ý, việc dùng sản phẩm thảo dược cần phải được cấp phép, chứng nhận về chất lượng, vệ sinh an toàn, thẩm định cụ thể chứ không phải tự chế, tự pha để dùng. Với các thuốc Tây y không phải lúc nào cũng khuyến cáo sử dụng mà phải có kê đơn của bác sĩ mới được sử dụng.

Theo Suckhoedoisong.vn

escort eskişehir escort samsun escort gebze escort sakarya escort edirne