Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Sống khỏe

Hiện nay, thời tiết thu đông với các đợt không khí lạnh tràn về, trời hanh khô cùng với môi trường ô nhiễm… là những yếu tố thuận lợi khiến người dân hay mắc các bệnh về đường hô hấp, nhất là ở đối tượng trẻ nhỏ vốn nhạy cảm và sức đề kháng còn non kém. Trong các bệnh đường hô hấp thì viêm họng, viêm phế quản là hai bệnh khá phổ biến mà trẻ hay mắc phải.
Mỗi trẻ thường bị 4-6 lần mắc bệnh hô hấp/năm

PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy – Trưởng Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Hà Nội cho biết, bệnh lý hô hấp là bệnh rất phổ biến, nhất là ở nước ta hiện nay do đặc điểm khí hậu, ô nhiễm môi trường… Trung bình mỗi trẻ Việt thường bị từ 4-6 lần mắc bệnh hô hấp/năm.

Họng là vùng cửa ngõ hầu họng tiếp xúc trực tiếp với vi rút, vi khuẩn, trong khi trẻ non nớt do sức đề kháng yếu lại bị tác nhân tấn công liên tục nên nguy cơ mắc bệnh cao. Trước đây người ta kỳ vọng giảm bệnh hô hấp nhưng có vẻ bệnh này ngày càng gia tăng, do đó cần dự phòng cho bản thân và trẻ em.

“Trong đường hô hấp của chúng ta đều có sẵn vi rút ở thể không hoạt động, do yếu tố thuận lợi (như thời tiết chẳng hạn) sẽ làm nó chuyển sang thể hoạt động gây bệnh về đường hô hấp. Biểu hiện sớm là viêm long đường hô hấp trên như: hắt hơi, sổ mũi, ho, chảy mũi trong, hơi đau đầu, quấy khóc, khó chịu, bỏ ăn…. Ho lúc đầu ho khan, ho đờm, tiến triển dần. Đây là dấu hiệu khởi điểm hay gặp.

Nếu để nặng hơn sẽ tiến triển nặng hơn gây viêm phế quản là bệnh đường hô hấp dưới với biểu hiện là ho nhiều khò khè, khó thở…”- PGS. Thuý phân tích.

bac-si-chi-ro-dau-hieu-tre-bi-viem-hong-viem-phe-quan-va-cach-phong-ngua-1PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy.

80% bệnh do vi rút, chỉ 20% do vi khuẩn – Tuyệt đối không tự dùng kháng sinh

Hiện nay nhiều cha mẹ băn khoăn giữa nhóm các bệnh do vi khuẩn và vi rút gây ra, theo chuyên gia Nhi khoa, đây là vấn đề mà các nhà chuyên môn là bác sĩ cần phân biệt nguyên nhân gây bệnh khác nhau để có cách xử trí khác nhau. Bệnh do vi rút có thể tự khỏi sau 2-3 ngày và có đến 80% bệnh do vi rút gây nên; chỉ 20% do vi khuẩn.

PGS. Thuý tư vấn, với trẻ chỉ bị ho, cảm lạnh thông thường thì các biện pháp xông rất dễ chịu giúp thông mũi, hoặc vệ sinh nước muối cho trẻ. Nếu trẻ chỉ ho, chảy mũi cần rửa mũi, súc miệng, vệ sinh cho trẻ. Có thể dùng các loại thuốc đông y, thảo dược để dịu họng, mát họng, chúng hầu như không có tác dụng phụ, giúp trẻ loãng đờm ra, không đau họng, nuốt dễ… Cho trẻ ăn đồ lỏng, nhiều nước giúp hấp thu tốt làm lỏng đờm, vỗ long đờm… sẽ giảm tải sổ lượng vi rút ở mũi, triệu chứng thuyên giảm dần dần, sau 3 ngày trẻ đỡ hẳn. Thông thường bệnh không quá nặng như phụ huynh lo lắng.

Trường hợp trẻ sốt cao liên tục, qua thăm khám có nhiễm khuẩn, họng có mủ, bỏ ăn, li bì khó đánh thức… thì cần dùng kháng sinh. Việc có quyết định dùng kháng sinh hay không là do bác sĩ quyết định, cha mẹ tuyệt đối không tự ý điều trị.

“Thực tế các gia đình hiện nay có ít con, cha mẹ dành mọi yêu thương cho con nên khi con hắt hơi, sổ mũi đã rất lo lắng, tuy nhiên theo tôi cần tăng cường kiến thức khoa học. Rửa nước muối cần phải được bác sĩ chỉ định đúng, kỹ thuật rửa đúng, chứ không thiết cần phải rửa hàng ngày. Mũi – họng thông nhau, rửa không đúng cách sẽ từ viêm mũi sẽ thành viêm tai cho nên không nên lạm dụng việc này. Nếu trẻ bị bệnh cần bình tĩnh không nên ngay lập tức vào viện vì dễ lây chéo khiến bệnh nặng hơn”- PGS. Thuý nói.

bac-si-chi-ro-dau-hieu-tre-bi-viem-hong-viem-phe-quan-va-cach-phong-ngua-2PGS.TS Nguyễn Thị Lâm.

Chú ý chế độ dinh dưỡng cho trẻ

PGS.TS Nguyễn Thị Lâm – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia tư vấn, bất kỳ giai đoạn nào của trẻ, cha mẹ cũng cần phải chú ý chế độ dinh dưỡng cho con, không phải riêng lúc ốm đau. Nên cho trẻ ăn đa dạng các loại thực phẩm, khi trẻ ăn đủ dinh dưỡng thì khả năng miễn dịch tốt hơn.

Trẻ có dấu hiệu viêm đường hô hấp trên thì nên cho trẻ ăn thức ăn mềm, ăn lỏng, chia nhỏ bữa ăn trong ngày, xen kẽ có thể là cháo súp, cho trẻ uống sữa, sinh tố thêm vào bữa phụ… Những món ăn gây kích thích làm họng tổn thương như ăn cay quá sẽ khiến trẻ bị ho, khó chịu hơn. Trẻ có nguy cơ dị ứng cần tránh món ăn gây dị ứng như cá, tôm, nhộng, lạc… vì dễ làm tăng tình trạng viêm đường hô hấp ở trẻ.

Hiện nay việc sử dụng sản phẩm có tính chất kìm khuẩn, diệt khuẩn, giảm triệu chứng được bào chế, chiết xuất từ thảo dược thiên nhiên được cấp phép đang khá được quan tâm. Các chuyên gia Nhật Bản khuyến cáo nên dùng các sản phẩm organic, không ăn sản phẩm biến đổi gen… Ngay cả WHO khuyến cáo điều trị bệnh lý đường hô hấp trên (ho, cảm lạnh) chỉ cần làm dịu họng chứ không cần giảm ho, dùng thảo dược giảm đau họng, làm dịu họng, điều hòa miễn dịch, cân bằng trở lại.

Các bác sĩ cũng lưu ý, việc dùng sản phẩm thảo dược cần phải được cấp phép, chứng nhận về chất lượng, vệ sinh an toàn, thẩm định cụ thể chứ không phải tự chế, tự pha để dùng. Với các thuốc Tây y không phải lúc nào cũng khuyến cáo sử dụng mà phải có kê đơn của bác sĩ mới được sử dụng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, tình trạng gầy, nhẹ cân chỉ một phần nhỏ là do di truyền, nhưng đa số trường hợp là biểu hiện của một cơ thể thiếu chất dinh dưỡng và chưa biết cách luyện tập sức khỏe.

Tại sao cơ thể lại gầy?

Ăn kém, ngủ kém

Thường xuyên có cảm giác chán ăn hoặc ăn ít do hệ tiêu hóa hoạt động không tốt khiến dinh dưỡng vào cơ thể hàng ngày không đủ, lâu dần dẫn đến tình trạng mệt mỏi, gây bệnh cho các cơ quan trong cơ thể. Ngoài ra, thói quen thức khuya, ngủ ít của một số người cũng dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi, mệt mỏi, ăn uống không ngon miệng.

Chế độ dinh dưỡng không cân đối

Thói quen kén ăn, hay bữa ăn chỉ tập trung vào 1-2 món chính, ít đổi món của một số gia đình có thể gây ra sự thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Những biểu hiện ban đầu có thể chỉ là thể trạng gầy, về sau, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự  linh hoạt của các cơ quan trong cơ thể.

Ăn uống tốt nhưng không hấp thụ được

Một rắc rối mà nhiều người gầy hay gặp phải là khả năng hấp thu kém. Nhiều người lầm tưởng, cứ ăn được nhiều sẽ béo lên. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ thể không thể sử dụng trực tiếp các loại thức ăn chúng ta ăn vào hàng ngày mà cần qua một quá trình chuyển hóa thức ăn thành các chất dinh dưỡng. Quá trình này sẽ bị hạn chế nếu:

– Các lợi khuẩn đường ruột hoạt động kém.

– Cơ thể thiếu một số khoáng chất cần cho quá trình chuyển hóa dinh dưỡng.

– Mắc một số bệnh như đau dạ dày, táo bón… ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan tiêu hóa.

6-bai-tap-the-duc-giup-tang-can-1Các giải pháp giúp người gầy tăng cân

Điều chỉnh thời gian ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý

Một thời gian biểu hợp lý, kết hợp vận động, ăn uống, nghỉ ngơi sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh và kích thích cảm giác thèm ăn ở người gầy.

Cân bằng các chất dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày

Chế độ ăn cân bằng các chất dinh dưỡng là điều kiện quan trọng cho một quá trình tăng cân bền vững. Theo lời khuyên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một bữa ăn cần có đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng là: đạm (bao gồm cả đạm động vật và thực vật): 12-14%, chất béo 18-20%, chất đường bột chiếm 65-70%, vitamin và chất khoáng.

Tích cực luyện tập thể thao

Vận động càng nhiều, cơ thể sẽ tiêu hao nhiều calo khiến chúng ta có cảm giác nhanh đói và thèm ăn. Trạng thái này rất có lợi cho kế hoạch tăng cân của người gầy. Dành 30 phút mỗi ngày để thực hiện 6 bài tập sau đây, bạn sẽ nhanh chóng sở hữu vóc dáng đầy đặn và săn chắc.

Động tác 1:

Nằm thẳng xuống sàn, lưng chạm đất, 2 tay đặt phía sau gáy. Chân trái giơ lên, phần đùi và phần bắp chân gập một góc 90 độ, tiếp theo đến chân phải, sao cho 2 chân đặt sát và song song với nhau.

Bắt đầu động tác nâng 1/2 người trên lên, 1/2 người dưới giữ nguyên trong tư thế đó. Nâng lên hạ xuống 8 lần.

Động tác 2:

Giữ đầu và tay trong tư thế nâng lên, kết hợp với bài tập chân. Trong lúc chân co vào và thẳng ra thì đầu và tay vẫn giữ nguyên tư thế đó.

Kéo đồng thời 2 chân thẳng dài hết sức, một góc 45 độ so với mặt sàn. Tiếp sau đó lại co vào ở tư thế ban đầu. Thực hiện 8 lần động tác này.

Động tác 3:

Giữ nguyên chân ở tư thế duỗi thẳng, một góc 45 độ so với mặt sàn. Hai tay kéo thẳng, chéo lên hướng đầu. Giữ tư thế này trong 10 nhịp đếm từ 1 – 10.

Động tác 4

Tiếp theo, vẫn giữ người ở tư thế cuối của động tác 3. Hai tay kéo ngang sang 2 bên rồi chạy xuống song song ở phần trên hông. Đầu rướn lên, không chạm đất.

Hai tay đánh lên, xuống nhanh và mạnh, làm liên tục với 10 nhịp đếm như vậy.

Động tác 5

Co 2 chân ép sát bụng, 2 tay ôm lấy phần đầu gối.

Sau khi thở sâu, đặt 2 tay úp xuống nền sàn, 2 chân giơ thẳng lên trên một góc 90 độ so với sàn.

Giữ tư thế này kết hợp đồng thời với hít vào thở ra 8 nhịp, hơi đẩy phần chân lên.

Động tác 6

Để tay gấp xuống sau gáy, 2 chân để gấp khoanh sao cho 2 mép chân ngoài chạm đất. Giữ tư thế này và chỉ rướn phần đầu lên 8 nhịp.

Kết thúc: Co 2 chân lên ép sát vào phần bụng, 2 tay ôm đầu gối và bật dậy.

Những động tác này tưởng như đơn giản nhưng rất hiệu quả cho việc kích thích cơ vận động và tăng khả năng hấp thụ chất cho cơ thể ngày một tốt hơn.

Theo Suckhoedoisong.vn

Viêm da dị ứng là bệnh viêm da mạn tính, kéo dài, hay tái phát. Bệnh có thể xảy ra bất kỳ vị trí nào ở da trên cơ thể, nhưng phổ biến nhất là ở vùng mặt và tay – chân, bệnh có xu hướng bùng phát từng đợt theo chu kỳ nhất là khi thời tiết thay đổi, khô hanh.

Nguyên nhân

Viêm da dị ứng là một bệnh phức tạp do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó vai trò của gen tương tác với yếu tố môi trường là cơ chế sinh bệnh chính của bệnh, các dị nguyên trong không khí như bọ nhà, lông chó, lông mèo, nấm mốc và một số dị nguyên thức ăn, thời tiết… được cho là vai trò chủ yếu trong các đợt cấp của bệnh.

Triệu chứng của bệnh

Ngứa là một triệu chứng nổi bật của viêm da dị ứng và do gãi gây ra nhiều tổn thương thứ phát khác trên vùng da bị bệnh. Các tổn thương gồm có nốt sần, vết giống ban đỏ và mụn nước, mụn nước có thể kết tụ lại tạo thành mảng; nhiều tổn thương do nhiễm khuẩn và trầy da, thể hiện thành rỉ nước và đóng vảy. Bên cạnh đó, các dấu hiệu khác của viêm da dị ứng là: xanh tím quanh miệng, xuất hiện thêm một nếp gấp nữa dưới mí mắt dưới (đường Dennie), tăng số chỉ tay, tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn da, nhất là khi bị nhiễm Staphylococcus aureus. Bệnh nhân bị viêm da dị ứng thường có da khô và ngứa, một số trường hợp tăng IgE huyết thanh.

Mặc dù vị trí có thể xảy ra bất cứ nơi nào, nhưng nó xuất hiện thường xuyên nhất trên bàn tay và bàn chân, ở mặt trước của của khuỷu, phía sau đầu gối, và trên mắt cá chân, cổ tay, mặt, cổ và ngực. Viêm da dị ứng cũng có thể ảnh hưởng đến da quanh mắt, bao gồm cả mí mắt. Gãi có thể gây tấy đỏ và sưng quanh mắt. Đôi khi, cọ xát hoặc gãi trong khu vực này gây loang lổ lông mày và lông mi.

Viêm da dị ứng thường bắt đầu ở trẻ em trước tuổi 5 và có thể kéo dài vào tuổi trưởng thành. Đối với một số, nó phát định kỳ và sau đó sẽ giảm trong một thời gian, thậm chí lên đến vài năm. Ngứa gãi nhiều làm phát ban sây sát có thể làm cho bệnh nhân ngứa nhiều hơn.

troi-kho-hanh-phong-viem-da-di-ung-1

Các biến chứng

Đa số những người bị viêm da dị ứng cũng có vi khuẩn tụ cầu đang phát triển trên da. Điều này làm triệu chứng và tăng mức độ nghiêm trọng của bệnh. Khi mắc bệnh, bệnh nhân thường xuyên tắm nước quá nóng hoặc tắm vòi sen dài, da khô, stress hoặc thời tiết hanh khô… khiến cho bệnh tái phát hoặc nặng hơn. Nếu bệnh nhân sử dụng chất tẩy rửa, xà phòng hoặc tiếp xúc với cát bụi, khói thuốc lá, mỹ phẩm và một số loại thực phẩm như trứng, sữa, cá, đậu nành hay lúa mì… cũng làm tăng thêm mức độ trầm trọng của bệnh… Đây là những yếu tố làm cho viêm da dị ứng càng nặng nề hơn khiến bệnh nhân phải nhập viện.

Khi mắc, bệnh nhân gãi nhiều do ngứa có thể phá vỡ da và gây ra lở loét và vết nứt có thể bị lây nhiễm. Một dạng nhẹ hơn của nhiễm khuẩn da là chốc lở, thường do nhiễm tụ cầu. Ở một số trường hợp nặng gãi ngứa và kéo dài có thể làm tăng cường độ của ngứa, có thể dẫn đến da thường xuyên bị trầy xước trở nên dày. Các vùng da lui bệnh có thể sống, màu đỏ hoặc đậm hơn phần còn lại của làn da. Gãi liên tục cũng có thể dẫn đến sẹo vĩnh viễn hoặc thay đổi màu da đây chính là viêm da thần kinh (neurodermatitis). Nếu bệnh nhân không được điều trị, có thể gây biến chứng mắt, có thể dẫn đến hư hỏng mắt vĩnh viễn. Khi các biến chứng xảy ra, ngứa trong và xung quanh mí mắt trở nên trầm trọng. Các dấu hiệu và triệu chứng của biến chứng mắt cũng bao gồm nước mắt, viêm mí mắt và viêm kết mạc. Nếu nghi ngờ biến chứng mắt, gặp bác sĩ kịp thời.

Xử trí như thế nào?

Tùy từng cơ địa và nguyên nhân gây dị ứng mà có cách xử trí khác nhau. Mỗi người cần phải xác định nguyên nhân gây dị ứng để tránh tiếp xúc với những dị nguyên gây bệnh. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân bị viêm da dị ứng khi thay đổi thời tiết khiến da dãn nở thất thường gây kích ứng. Thời tiết hanh khô bệnh nhân dễ bị ngứa, càng gãi thì da càng bị kích ứng và sưng tấy. Chính vì vậy, đối với người có làn da mẫn cảm với thời tiết, nhiệt độ, không nên tắm nước quá nóng. Sau khi tắm người bệnh cần dùng kem dưỡng ẩm phù hợp, tránh các thành phần dễ gây kích ứng da, tẩy rửa mạnh, bôi kem ngay từ khi mới đầu vào mùa hanh có thể hạn chế tái phát bệnh.

Thường xuyên dọn nhà, lau nhà, dọn dẹp giường chiếu để diệt lông sâu bọ và phấn hoa. Nếu nhà có nhiều cây xanh cần chú ý chu kỳ ra hoa để đóng cửa sổ kịp thời để kiểm soát chất gây dị ứng. Đối với nhà nuôi chó mèo, hàng tuần cần vệ sinh cho vật nuôi không ôm, vuốt ve và đùa nghịch với chúng mà cần nhốt, xích chúng. Bên cạnh đó, đối với người bệnh viêm da dị ứng cần tăng cường uống nước, ăn hoa quả, rau xanh để cung cấp đủ vitamin, tăng cường hệ miễn dịch, hạn chế sử dụng chất kích thích. Tránh một số gia vị như ớt cay, hạt tiêu… cũng là một biện pháp phòng và cải thiện được bệnh.

Theo Suckhoedoisong.vn

Vitamin là những hợp chất hữu cơ mà tế bào người và động vật không thể tự tổng hợp (trừ vitamin D). Chúng có mặt trong thức ăn với số lượng nhỏ, cấu trúc hoàn toàn khác với glucid, protid và lipid nhưng lại rất cần thiết cho một số phản ứng chuyển hóa giúp duy trì sự phát triển và sự sống bình thường của cơ thể. Khi bị thiếu hụt vitamin sẽ gây nên bệnh lý đặc hiệu.

Có mấy loại vitamin?

Dựa vào tính chất hòa tan trong nước hay dầu mà các vitamin được xếp thành 2 nhóm: vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E, K…) và vitamin tan trong nước (vitamin nhóm B như B1, B2, B3, B5, B6, B8, B9, B12 và vitamin C).

Tuỳ theo giới và giai đoạn phát triển của cơ thể, nhu cầu vitamin rất khác nhau. Vì thế việc lựa chọn thuốc bổ sung vitamin không đơn giản. Sự thiếu hụt vitamin do nhiều nguyên nhân và đồng thời có thể thiếu nhiều loại vitamin cùng một lúc. Do vậy, trong điều trị cần phải tìm nguyên nhân và phối hợp nhiều loại vitamin khác nhau.

Bổ sung vitamin cho trẻ cần theo đúng hướng dẫn, chỉ định của bác sĩ.

Do cơ thể không thể tự tổng hợp được vitamin (ngoại trừ khi tắm, phơi nắng thích hợp để biến tiền vitamin D thành vitamin D), nên ta phải ăn uống đầy đủ và cân bằng dưỡng chất để được cung cấp đủ vitamin hàng ngày.

Trẻ nào cần bổ sung vitamin?

Nếu hàng ngày ta cho trẻ ăn uống với chế độ dinh dưỡng cân bằng, đầy đủ thì không sợ thiếu vitamin. Ðặc biệt, nên tăng cường rau củ, trái cây các loại cho bữa ăn vì đây là nguồn vitamin thiên nhiên tốt nhất. Đối với trẻ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn, đương nhiên phải được bổ sung vitamin; hoặc trẻ sau giai đoạn bị bệnh (nhiễm khuẩn, ho hen, tiêu chảy…) thì việc uống thêm vitamin là cần thiết.

Vậy đối với trẻ bình thường có nên bổ sung vitamin? Về mặt lý thuyết, nếu trẻ ăn uống cân bằng, hợp lý, đầy đủ và tình trạng bình thường (tức không có dấu hiệu suy dinh dưỡng) thì không cần bổ sung vitamin. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin. Bởi vì các vitamin vốn có trong thực phẩm sẽ bị mất đi hay giảm trầm trọng trong một bữa ăn đầy đủ nhưng chất lượng thực phẩm không đảm bảo (rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C), hoặc bảo quản chế biến thực phẩm không tốt (gạo càng trắng càng có ít vitamin B1, thức ăn nấu quá kỹ vitamin C sẽ không còn…). Vì vậy nhiều khi bác sĩ vẫn khuyên cho những trẻ xem ra khỏe mạnh uống bổ sung vitamin. Còn với trẻ béo phì, bác sĩ thường khuyên nên ăn chế độ ít chất béo và cần thiết phải bổ sung các vitamin, vì chế độ ăn ít chất béo không giúp hấp thu đủ lượng vitamin tan trong dầu là vitamin A, D, E, K.

Cần lưu ý, việc sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm. Trong các loại vitamin, vitamin A và D không được dùng thừa, dùng quá liều vì sẽ tích lũy lại trong cơ thể và có thể gây ngộ độc. Nếu dùng loại vitamin đa sinh tố (multivitamin) ngày uống 1 viên thì không được chứa quá 5.000 đơn vị quốc tế (IU) vitamin A và không quá 400 IU vitamin D. Nếu dùng loại dung dịch uống, phải lấy số giọt hoặc thể tích (số ml) theo đúng bản hướng dẫn sử dụng thuốc. Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu. Không nên dùng vitamin C liều quá cao (hơn 1g/ngày) vì có thể gây tiêu chảy, loét đường tiêu hóa, sỏi thận khi dùng dài ngày.

Theo Suckhoedoisong.vn

Sơ tiết là tìm cách cởi bỏ sự ức chế, bế tắc để nhằm đạt được sự thư thái, bình thản về thể xác và tinh thần.
Trong y học cổ truyền, những phương pháp như “sơ biểu giải tà” , “sơ tán phong tà”, “sơ phong tiết nhiệt”, “sơ phong hóa thấp”, “sơ can lý khí”, “sơ can giải uất” cũng nằm trong ý nghĩa trừ bỏ tà khí ra bên ngoài, làm lưu thông khí huyết và lập lại cân bằng âm dương trong hoạt động của các tạng phủ.

Dân gian có câu: “Bất như ý sự thường bát cửu, như nhân chi ý nhất nhị phân”, ý nói ở đời mười điều thì có tới tám, chín điều không thuận theo ý ta, có chăng chỉ được một hai điều. Và những việc trái với ý muốn, những khó khăn, lo toan, phiền muội, uất ức luôn khiến cho người ta rơi vào tâm trạng bị ức chế, mệt mỏi chán nản, thậm chí lâu ngày có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, là nguy cơ để phát sinh các căn bệnh như suy nhược thần kinh, mất ngủ, trầm cảm, viêm loét đường tiêu hóa, tăng huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não…

Vận dụng phương pháp “sơ tiết” về tinh thần của y học cổ truyền giúp chúng ta giải phóng áp lực về tâm lý từ đó tiêu trừ và phòng ngừa bệnh tật. Phương pháp này có thể thực hiện bằng miệng hoặc bằng đầu óc chân tay.phuong-phap-so-tiet-giai-stress-1

Tự tìm cách cởi bỏ sự ức chế, bế tắc để nhằm đạt được sự thư thái, bình thản về thể xác và tinh thần gọi là “sơ tiết”.

“Sơ tiết” đường miệng

Khi có điều gì bực bội không vui, nên tìm một người nào đó gần gũi và hiểu mình để trút bầu tâm sự, như vậy có thể giải thoát khỏi sự ức chế về tâm lý. Tuy nhiên cần chú ý chọn đúng đối tượng có thể lắng nghe và thấu hiểu mình, bởi vì lắng nghe người khác trút giận chẳng có gì là thích thú cả, nếu không phải là một người hiểu bạn, thông cảm với bạn thì chẳng ai muốn nghe bạn nói và nếu như có nhẫn nại lắng nghe bạn nói xong thì họ cũng không thể đưa ra những lời khuyên chân tình và hiệu quả.

“Sơ tiết” bằng đầu óc chân tay

Cách thứ nhất đó là “sơ tiết” bằng ngòi bút. Khi bạn giận ai đó, hãy dùng bút viết thật nhiều, viết ra tất cả những gì khiến bạn giận giữ và kìm nén ức chế trong lòng mà không thể giãi bày trực tiếp với ai trên cõi đời này. Có thể viết thành một bức thư mà đối tượng nhận chính là người mà bạn đang giận. Tuy nhiên nên nhớ một điều rằng bức thư ấy chỉ có thể viết và để đấy chứ không thể gửi cho ai cả.

Cách thứ hai để “sơ tiết” là sáng tác theo khả năng của mình, có thể viết văn, làm thơ, viết kịch, sáng tác nhạc, vẽ tranh, nặn tượng…Không ít nhà văn nổi tiếng đã cho ra đời các tác phẩm kinh điển trong hoàn cảnh khó khăn cùng cực, ví như Tư Mã Thiên sáng tác “Sử ký” sau khi ông bị kết tội tử hình, Tào Tuyết Cần sáng tác “Hồng Lâu Mộng” trong những năm tháng ông gặp phải muôn vàn khó khăn cực nhọc.

Theo y học cổ truyền, đối với tâm lý tinh thần, vấn đề mà Đông y gọi là “thất tình” (bảy thứ tình chí là hỉ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh), “sơ tiết” là một biện pháp rất hữu hiệu để trút bỏ sự uất ức, bực tức, buồn chán trong lòng, lập lại sự cân bằng âm dương trong đời sống tinh thần. “Sơ tiết” có thể làm giảm bớt sự mệt mỏi ức chế về tâm lý, khiến cho con người cảm thấy nhẹ nhõm và thoải mái trong lao động và cuộc sống. Tuy nhiên cần nhớ một điều là, “sơ tiết” cũng cần phải tuân theo nguyên tắc “tam nhân chế nghí” của y học cổ truyền phương Đông, đó là “nhân nhân chế nghi” (tùy đối tượng mà dùng), “nhân địa chế nghí” (tùy chỗ mà dùng) và “nhân thời chế nghi” (tùy lúc mà dùng).

Ở Hàn Quốc có một câu chuyện dân gian rất thú vị có tên gọi là “Hoàng đế tai lừa”. Một vị hoàng đế có đôi tai giống như tai con lừa, nhưng ông ta chỉ tiết lộ cho người thợ cắt tóc biết và cấm anh ta không được hé răng tiết lộ với ai, nếu không sẽ bị chém đầu. Ngày tháng dần trôi, người thợ cắt tóc cảm thấy rất khó chịu khi giữ bí mật này trong lòng, anh ta căng thẳng đến nỗi muốn phát điên, tuy nhiên vẫn không dám nói cho những người xung quanh biết vì sợ sẽ bị giết chết. Cuối cùng, anh ta nghĩ ra một cách vẹn toàn cả đôi đường là đào một cái hố thật to, hàng ngày cúi đầu xuống hố và hét lên: “Hoàng thượng có đôi tai lừa”. Thế là người thợ cắt tóc đó đã thoát khỏi sự ức chế tinh thần, trạng thái tâm lý của anh ta trở lại bình thường. Đó là một trong những ví dụ điển hình của phương pháp “sơ tiết” tinh thần của y học cổ truyền phương Đông.
Theo Suckhoedoisong.vn

Dinh dưỡng có thể chống lại sự lão hóa. Đối với người cao tuổi, dinh dưỡng có vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy người cao tuổi nên biết cách ăn uống sao cho cơ thể khỏe mạnh, ít bệnh tật.

Ăn ít đi, tăng cường vitamin

Càng nhiều tuổi con người càng ăn ít đi. Nhu cầu calo phụ thuộc trực tiếp vào cách sống: Nhu cầu năng lượng của một vận động viên thực thụ khác xa với nhu cầu năng lượng của một người cả ngày chỉ ngồi trên đi văng chơi các trò giải trí.

Song tuổi tác cũng ảnh hưởng đến lượng calo cần thiết, theo năm tháng quá trình trao đổi chất trong cơ thể diễn ra chậm dần đi, lượng hormon cũng thay đổi, khả năng tiêu hóa thức ăn không hiệu quả như thời còn trẻ. Vì vậy việc giữ cân nặng ở mức cần thiết trở nên khó khăn ở người cao tuổi hơn so với thời trẻ. Khi trẻ chúng ta có thể ăn mà không để lại hậu quả gì cho hình dáng và sức khỏe, còn ở tuổi già không như thế, ăn quá nhiều đặc biệt nguy hiểm.

Để xác định nhu cầu calo trong một ngày theo tuổi có nhiều phương pháp khác nhau (hiện nay công thức của Mifflin – San Jeor- Ped chính xác hơn cả). Song lý thuyết về hàm lượng calo đã lỗi thời vì vậy điều quan trọng không phải bạn cần bao nhiêu calo, mà chế độ ăn của bạn cân bằng đến đâu.

Theo thời gian nhu cầu về calo giảm dần, nhưng nhu cầu về vitamin lại tăng lên. Có nhiều nguyên nhân: Theo tuổi tác nồng độ acid trong đường tiêu hóa giảm, các niêm mạc đường tiêu hóa bị thiểu dưỡng dần, chức năng tuyến thượng thận và các tuyến tiêu hóa khác cũng suy giảm… tất cả dẫn đến sự suy giảm chức năng hấp thụ và tiêu hóa các chất, trong đó có vitamin và khoáng chất.

5-nguyen-tac-an-uong-giup-nguoi-cao-tuoi-khoe-manh-1Người cao tuổi nên hạn chế ăn đồ ngọt.

Vì thế người cao tuổi có thể uống vitamin. Trong đó cần chú ý đến các loại vitamin tổng hợp, sản xuất chuyên biệt cho người cao tuổi – liều lượng các nguyên tố cần thiết cho người cao tuổi. Cần chú ý các thực phẩm bổ sung có chứa vitamin B12, cũng như các loại vitamin tan trong dầu như D3, A và K. Các bác sĩ thường khuyến cáo bệnh nhân cao tuổi nên hạn chế ăn mỡ, điều này đồng nghĩa với việc hấp thu các vitamin tan trong dầu ở họ bị giảm sút. Theo tuổi tác khả năng tổng hợp vitamin D dưới da nhờ tác động của tia cực tím cũng giảm dần, hơn nữa thời gian ở dưới ánh nắng mặt trời của những người cao tuổi thường không nhiều.

Các thành phần bổ sung có chứa canxi cần thận trọng. Có ý kiến cho rằng, các sản phẩm như vậy có thể dẫn đến canxi hóa các mạch máu, điều này làm suy giảm tuần hoàn máu và phát sinh các bệnh thiếu máu cục bộ ở tim. Nhưng, mặt khác y học hiện đại khuyến cáo cung cấp đủ canxi để phòng ngừa loãng xương. Vì vậy điều quan trọng cần cân bằng và uống canxi theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Các thực phẩm nên hạn chế

Để giữ gìn sức khỏe ở tuổi già, cần hạn chế một vài thực phẩm sau:

–       Đường và đồ ngọt: Chúng không đem lại cho cơ thể cái gì ngoài calo rỗng. Liên quan đến đường và đồ ngọt theo tuổi tác nhiều người bị gia tăng kháng insulin (khả năng nhạy cảm với insulin bị giảm). Đó là giai đoạn đầu tiên dẫn đến bệnh đái tháo đường.

–       Thịt đỏ:  Người cao tuổi chỉ nên ăn một bữa thịt đỏ trong tuần là đủ. Vì trong thịt đỏ có carnitin mà quá trình chuyển hóa chất này sẽ tạo một liên kết được gọi là viêm thành mạch máu, hình thành mảng bám, cục máu đông trong lòng mạch máu. Một nhược điểm nữa của thịt đỏ là chứa hàm lượng sắt cao. Sự quá tải nguyên tố này có thể trở thành nguyên nhân gia tăng quá trình oxy hóa (gia tăng số lượng các gốc tự do, gây các bệnh tim mạch và ung thư). Vì vậy không nên ăn nhiều thịt đỏ. Tốt hơn nên ưu tiên cho cá, hải sản, trứng.

Khẩu phần ăn thế nào?

Để khẩu phần ăn được cân đối, 55 – 60% định mức calo một ngày cần thu được từ các sản phẩm bột đường. Các nguồn cung cấp bột đường tốt – rau, quả, ngũ cốc, bánh mì từ bột thô. Còn các sản phẩm chứa chất ngọt và thực phẩm chế biến sẵn tốt nhất nên loại khỏi thực đơn.

30% định mức calo hàng ngày có thể thu được từ chất béo, trong đó 2/3 phải là chất béo chưa bão hòa – dầu thực vật, mỡ cá.

10 – 15% năng lượng cần thu được từ protein. Trong đó một nửa già các sản phẩm protein cần thiết có nguồn gốc động vật.

5-nguyen-tac-an-uong-giup-nguoi-cao-tuoi-khoe-manh-2Người cao tuổi cần biết cách ăn uống khoa học.

Kích hoạt quá trình trao đổi chất

Theo tuổi tác quá trình trao đổi chất sẽ chậm dần lại và trọng lượng cơ thể bắt đầu gia tăng dần dần. Vì vậy một số cách sau đây có thể kích hoạt quá trình trao đổi chất:

–       Uống trà xanh: Trong đồ uống này có không ít cafein có tác dụng thúc đẩy chuyển hóa và chất catechin hỗ trợ giải phóng tất cả các quá trình trao đổi chất.

–       Rèn luyện:  Rèn luyện với nhiệt độ lạnh (tắm nước lạnh…) sẽ gia tăng lượng mỡ nâu trong cơ thể. Các tế bào mỡ nâu giàu ti lạp thể tham gia tích cực vào việc đốt cháy calo.

–       Tập luyện TDTT: Các bài tập cho sức bền nào cũng đều tốt – chạy bộ, đạp xe đạp, bơi lội. Những bài tập này làm tăng tuần hoàn máu, sản xuất các hormon cần thiết, ảnh hưởng tích cực đến quá trình trao đổi chất.

–       Nạp đủ lượng protein: Để đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường hàng ngày cần cung cấp 1,5 gam protein cho mỗi kg cân nặng.

–       Ngủ đủ: Thiếu ngủ có thể phá vỡ một vài quá trình chuyển hóa: Hoạt động hệ thần kinh và quá trình tổng hợp các hormon (hormon tuyến giáp, hormon chiều cao…). Ngoài ra, thiếu ngủ còn phá hủy sự hình thành các hormon chịu trách nhiệm kiểm soát sự ngon miệng –  grelin và leptin.

–       Ăn thường xuyên hơn và đúng giờ: Cơ thể của chúng ta đã quen với việc tiếp nhận thức ăn vào một giờ cố định, sau những quãng thời gian ngắn. Vì thế cơ thể không cần tích năng lượng để dự trữ.

–       Quan tâm tới các thực phẩm bổ sung: Các chất có thể kích thích quá trình trao đổi chất – xinefrin (một alcaloid thực vật thu được từ cam), forscolin – (một chất thu được từ cây húng chanh). Song các thực phẩm bổ sung đều có chống chỉ định, vì vậy bạn cần sự tư vấn từ bác sĩ trước khi sử dụng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Bạn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh loãng xương bằng cách bổ sung 6 loại dưỡng chất dưới đây trong chế độ ăn:

Theo Hội loãng xương quốc tế, có khoảng 200 triệu phụ nữ trên khắp thế giới bị loãng xương. Phần lớn những phụ nữ này là ở độ tuổi 60-80 tuổi. Bệnh có ảnh hưởng tiêu cực lên sức khỏe xương và gây lún cột sống, gãy khớp háng và các khớp khác. Bạn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh loãng xương bằng cách bổ sung 6 loại dưỡng chất dưới đây trong chế độ ăn:

Phốt pho

Khoảng 85% phốt pho của cơ thể được tìm thấy trong khoáng xương. Tuy nhiên, thiếu phốt pho hiếm gặp vì nó có ở hầu hết các loại thực phẩm. Mặt khác, sử dụng quá nhiều phốt pho có thể làm yếu xương vì cơ thể phản ứng bằng cách chuyển canxi vào máu để tạo sự cân bằng. Sữa và các sản phẩm từ sữa, cá và những loại hạt, đậu khác, thịt là nguồn phốt pho phong phú.

Magiê

Khoảng 60% magiê trong cơ thể được tìm thấy trong xương. Ngoài ra, magiê cũng giúp duy trì sức khỏe tim và tăng cường hệ miễn dịch. Các loại rau lá xanh, cá hồi, cá ngừ, quả bơ, chuối và sô cô la đen là những nguồn chứa nhiều magiê.

Vitamin C

Loại dưỡng chất này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì nền xương tối ưu. Bạn có thể bổ sung các loại quả như kiwi, đu đủ, các loại quả mọng và cam vào chế độ ăn. Những loại rau như súp lơ xanh, cà chua và đậu Hà Lan cũng chứa nhiều vitamin C.

nhung-loai-duong-chat-phong-benh-loang-xuong-1

Flo

Flo được biết đến là giảm sâu răng và duy trì sức khỏe xương. Những nguồn thực phẩm giàu flo gồm trà đen, khoai tây và hải sản như cua.

Kali

Nếu chế độ độ ăn của bạn bao gồm các loại rau và quả nhiều kali, nó có thể làm giảm nhu cầu canxi bị huy động từ xương. Những thực phẩm chứa nhiều kali gồm đậu trắng, quả mơ, rau bina, khoai tây, sữa chua, nấm và chuối.

Kẽm

Có một thực tế nhiều người đã biết rằng vitamin D rất cần thiết cho sức khỏe xương. Tuy nhiên, kẽm đóng vai trò quan trong trong việc hỗ trợ hấp thu vitamin D trong xương. Những thực phẩm như thịt bò, thịt cừu, hàu, rau bina, hạt bí ngô, hạt điều, thịt gà và đậu xanh là nguồn kẽm tuyệt vời.

Theo Suckhoedoisong.vn

Các nhà khoa học Mỹ cho biết, chỉ cần tập thể dục 13 phút mỗi ngày có thể tăng tuổi thọ lên 3 năm. Nghiên cứu cũng chứng minh rằng nhiều giờ tập thể dục hàng ngày trong phòng tập là không cần thiết để có được lợi ích sức khỏe thực tế thực sự.

Nghiên cứu đã thu thập thông tin từ 140.000 người từ khắp nơi trên thế giới cho thấy, tuổi thọ sẽ tăng lên 3 năm nếu dành khoảng 90 phút mỗi tuần cho thể thao. Điều này tương đương khoảng 13 phút mỗi ngày với những môn như chạy bộ, đi xe đạp… Nếu một người dành 25 phút mỗi ngày cho thể thao thì tuổi thọ sẽ tăng thêm 4 năm. Còn nếu dành được 30 phút hoạt động thể chất mỗi ngày sẽ tăng tuổi thọ thêm gần 2 năm nữa…

Trên thực tế, nhiều người trong chúng ta không nghe những khuyến nghị này và tiếp tục một lối sống ít vận động, tiêu thụ một lượng lớn sản phẩm đường. Tất cả điều này dẫn đến sự gia tăng bệnh tiểu đường, tim mạch và bệnh ác tính. Đến năm ngoài 60 tuổi, họ nhận được rất nhiều căn bệnh khác nhau do trước đó họ đã không chú ý đến cơ thể của mình trong nhiều thập kỷ – Các nhà khoa học cảnh báo.

Theo Suckhoedoisong.vn

Trong đó, ăn thừa muối không chỉ làm tăng nguy cơ mắc THA mà còn có thể gây ra nhiều bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Vì vậy, kiểm soát lượng muối ăn trong ngày cũng là cách tốt để kiểm soát huyết áp.

Ăn thừa muối với nguy cơ THA, bệnh tim mạch

Muối là chất khoáng cần thiết trong cơ thể, giúp kiểm soát cân bằng dịch, dẫn truyền thần kinh và chức năng khối cơ. Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, mỗi người chỉ nên tiêu thụ không quá 5g muối/ngày. Tuy nhiên, thực tế theo số liệu điều tra, người Việt đang tiêu thụ trung bình lượng muối lên tới 9,4g/ngày. Và chế độ ăn thừa muối tiềm ẩn nguy cơ cao dẫn tới THA cũng như các bệnh tim mạch.

Cơ chế gây THA của natri trong muối như sau:

Ở những người đã có sẵn yếu tố di truyền, nếu ăn nhiều muối sẽ làm tăng tính thẩm thấu của màng tế bào đối với natri. Ion Na+ sẽ được vận chuyển nhiều vào tế bào cơ trơn của thành mạch, gây tích nước trong tế bào, tăng trương lực thành mạch, co mạch, tăng sức cản ngoại vi và dẫn tới THA;

Nồng độ muối của các chất dịch trong cơ thể là ổn định. Ăn nhiều muối làm tăng áp lực thẩm thấu trong máu, khiến cơ thể phải cần thêm nước để duy trì ổn định nồng độ dịch thể. Để đáp ứng yêu cầu này, cảm giác khát nước sẽ xuất hiện, làm cho người ăn mặn phải uống nhiều nước, dẫn tới làm tăng dung lượng máu và tăng áp lực lên thành mạch. Hiện tượng này kéo dài có thể dẫn đến THA.

Ăn nhiều muối kết hợp với những yếu tố gây sang chấn tinh thần sẽ làm tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, tăng khả năng tái hấp thu natri ở ống thận. Lượng lớn ion na+ sẽ được đưa vào trong tế bào cơ trơn, gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi và dẫn tới THA.

Ăn mặn trong khi đã bị THA có thể thiếu yếu tố nội tiết thải muối, làm Natri bị tích tụ trong cơ thể và ion Na+ tiếp tục bị vận chuyển nhiều vào tế bào cơ trơn gây THA;

Muối làm tăng độ nhạy cảm của hệ tim mạch và thận đối với adrenaline – một chất gây THA.

Ngoài ra, khi ăn quá nhiều muối, các loại thuốc điều trị huyết áp như thuốc lợi tiểu sẽ không thể hoạt động tốt. Và huyết áp tăng lên sẽ làm tăng cường độ làm việc của hệ tim mạch, thận và hệ tiết niệu, gây ra nhiều nguy cơ cho sức khỏe như đột quỵ và suy tim, suy thận. Đặc biệt, nếu đã mắc các bệnh THA, suy gan, suy tim và suy thận, thói quen ăn nhiều muối sẽ làm bệnh tiến triển nhanh hơn.

Chế độ ăn nhiều muối ở trẻ em cũng có ảnh hưởng lớn tới huyết áp, làm tăng khả năng mắc THA và nhiều bệnh lý khác. THA ở trẻ em còn để lại hậu quả THA khi đến tuổi trưởng thành và làm tăng nguy cơ biến chứng của THA do mắc bệnh sớm, thời gian mắc bệnh kéo dài.

moi-lien-quan-giua-an-thua-muoi-va-benh-tang-huyet-ap-1

Chế độ ăn thừa muối tiềm ẩn nguy cơ cao dẫn tới THA cũng như các bệnh tim mạch.

Nên thay đổi thói quen ăn mặn như thế nào?

Thói quen ăn thừa muối gây ra khá nhiều hệ lụy đối với sức khỏe. Và giảm ăn muối chính là giải pháp giúp giảm nguy cơ mắc bệnh THA, bệnh tim mạch cũng như nhiều vấn đề sức khỏe khác. Vì vậy, để huyết áp giảm được từ 2-8mmHg, giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, tim mạch cần chú ý đảm bảo lượng muối nạp mỗi ngày nên dưới 5g.

Ưu tiên chọn thực phẩm tươi thay vì các món ăn mặn thường ngày được chế biến sẵn như thịt muối, cá hộp, thịt xông khói, xúc xích, giò chả, dưa muối, cà muối, mì ăn liền, bim bim, hạt điều rang muối,… Nguyên nhân là vì các thực phẩm chế biến sẵn thường được cho thêm nhiều muối để có thể bảo quản được lâu. Nếu vẫn muốn ăn các thực phẩm này, người dùng nên chọn sản phẩm có hàm lượng muối thấp hơn (xem thành phần muối hoặc natri ghi trên nhãn dinh dưỡng thực phẩm).

Chọn cách chế biến món ăn: nên chế biến món luộc, hấp thay vì món cần nhiều gia vị mặn trong quá trình chế biến như món kho, rim, rang,… để làm giảm lượng muối ăn vào hằng ngày từ các loại đồ ăn mặn.

Khi nấu nướng, nếu muốn gia giảm gia vị mặn, người nấu nên nếm thức ăn trước khi thêm gia vị để đảm bảo cho vào lượng vừa đủ, không cho quá nhiều. Ngoài ra, mì chính là gia vị có vị ngọt nhưng trong thành phần có natri – tương tự thành phần chính của muối ăn nên người nội trợ cũng nên hạn chế dùng mì chính để tăng vị ngọt của món ăn.

Nên giảm ăn muối một cách từ từ để cơ quan cảm nhận vị giác có thể dần thích nghi. Giảm lượng gia vị mặn chứa nhiều muối cho vào món ăn bằng cách chế biến với các loại gia vị khác để tăng cảm giác của vị giác.

Tự nấu ăn ở nhà để chủ động kiểm soát lượng muối ăn vào một cách tốt nhất.

Hạn chế chấm nước mắm, bột canh,… Tốt nhất, khi ăn các loại nước chấm trên người dùng nên pha loãng, dùng thêm các gia vị khác như chanh, ớt, tỏi để tăng vị giác, bù cho vị mặn bị bớt đi.

Nên sử dụng muối và bột canh có chứa iốt để phòng chống bướu cổ, thiểu năng trí tuệ và các rối loạn khác do thiếu iốt.

Giảm dần gia vị khi nấu ăn: dùng gia vị khác như chua, cay hoặc các loại rau thơm phối hợp khi chế biến để làm tăng vị ngon của thực phẩm và giảm độ mặn…

Theo Suckhoedoisong.vn

Theo y học cổ truyền, viêm khớp dạng thấp (VKDT) thuộc bệnh chứng cơ khớp, có nhiều nguyên nhân, phần nhiều do “nội nhân” khí huyết, gân xương bị suy yếu, “ngoại nhân” do nhiễm phong, hàn, thấp, nhiệt gây huyết dịch ứ đọng gây đau tại khớp. Bệnh này ăn uống bổ dưỡng phù hợp rất cần thiết. Sau đây là một số món ăn bài thuốc phòng trị bệnh.

Nếu gặp lạnh đau tăng, chân tay không ấm do phong hàn. Tốt nhất nên ăn vị có tác dụng bổ huyết kiện tỳ trừ hàn thấp như:

Cá rô kho lá lốt: Cá rô 2 -3 con 100g, lá lốt 20g, thêm gia vị nghệ, tương mắm kho nhừ ăn.

duoc-thien-phong-tri-viem-khop-dang-thap-1

Canh bí đuôi heo: Bí đỏ 150g, đuôi heo 1 cái 100g làm sạch chặt khúc, đậu phộng 20g nấu nhừ ăn.

Cà-ri dê: Thịt dê thui 100g, khoai lang 100g, hành tây 50g, gia vị sả, ớt, bột cà- ri vừa đủ nấu ăn. Ngoài ra nên ăn: cà rốt, bí đỏ, đinh lăng, gừng, hành, hẹ, kiệu, nghệ, tỏi; thịt, cá; sụn, móng, gân, xương động vật như: lợn, dê, chó, tắc kè, cá ngựa, trăn, rắn, ếch đều tốt.

Nếu khớp có sưng nóng đỏ đau, người nóng do phong nhiệt. Nên chọn món ăn ích can thận giải phong nhiệt như sau:

Đu đủ hầm xương: Đủ đủ ương 100g, xương heo 100g, gia vị vừa đủ hầm ăn.

Lươn nấu cháo đậu xanh: Lươn 1-2 con 100g làm sạch, đậu xanh 50g, gạo nếp 20g, cho nhiều rau mùi hành hoa ăn.

Giò heo tiềm thuốc: Sinh địa 20g, đương quy, xuyên khung 14g, xích thược 14g, ngưu tất 14g, đào nhân 12g, thương truật 12g, hoàng bá, trạch tả mỗi vị 12g tiềm  ăn hoặc sắc uống. Ngoài ra nên ăn: atisô, rau má, giá đậu, khổ qua, rau đắng, rau diếp, đu đủ, khoai lang, quả bơ, dâu, nho, táo… Thịt, cá, lươn, trạch, cá rô, cá lóc, tôm, cua, cá nhỏ đều tốt.

Nếu đau các khớp phần dưới cơ thể đau cố định một chỗ do thấp tý. Nên chọn món ăn ôn bổ can thận kiện tỳ trừ thấp như:

Cháo chân dê: Chân dê 1 bộ làm sạch 100g, gạo mới 100g, đậu xanh gia vị vừa đủ nấu ăn.

Lươn om sả ớt: Lươn 1-2 con làm sạch 100g, sả 10g, lá lốt 20g, hành tây 20g, ớt ngọt 20g thêm gia vị lạc rang hành hoa dầu mè xào ăn.

Đuôi bò hầm thuốc: Đuôi bò 1 cái 100g làm sạch chặt khúc, đương quy, xuyên khung, đảng sâm, đỗ trọng, gừng tươi, ngưu tất, ý dĩ mỗi vị 20g gia vị vừa đủ tiềm ăn.

Đậu đen ngâm rượu: Đậu đen 300g sao vàng, tam thất 100g giã nhỏ, nhân sâm 100g các vị ngâm 2 lít rượu ngon 1 tháng dùng, ngày uống 3 lần/ly nhỏ. Ngoài ra nên ăn lá lốt, ngải cứu, các loại rau gia vị có vị thơm cay ấm như tỏi, ớt, mùi tàu, kinh giới, các loại rau thơm khác đều tốt.

Trên đây là một số món ăn dược thiện phòng trị viêm khớp dạng thấp, dễ chế biến sử dụng hầu như không có tác dụng phụ. Tuy nhiên nếu người lạnh thiên về hàn, kiêng thức ăn lạnh như cà, cam, măng, nước dừa… Người nóng thiên về nhiệt kiêng thức ăn cay nóng, tiêu ớt gia vị cay nóng qúa…

Theo Suckhoedoisong.vn