My Weblog: umraniye elektrikci uskuadar elektrikci usta elektrikci sisli elektrikci

Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Sức Khỏe

Tiêu chảy cấp là bệnh lý xảy ra khá phổ biến, nhất là tại một số tỉnh miền Trung liên tiếp bị mưa bão như hiện nay. Tiêu chảy ở trẻ thông thường không nặng, có thể tự khỏi nhưng cũng có thể tiến triển nặng đột ngột và đe doạ tính mạng người bệnh.

Nguyên nhân gây tiêu chảy cấp

Bệnh tiêu chảy cấp thường có nguyên nhân do thức ăn không phù hợp hoặc do nhiễm khuẩn thực phẩm.

Do người mẹ thiếu sữa hoặc trẻ bị cai sữa sớm nên phải ăn những thức ăn không thích hợp như ăn bột sớm, bột đặc, ăn nhiều hoặc các thành phần protein, lipit, cacbonhydrat… trong thức ăn không phù hợp với tuổi của trẻ; Do dinh dưỡng không tốt dẫn đến tiêu chảy; Rotavirus là tác nhân chính gây tiêu chảy nặng và đe doạ đến tính mạng của trẻ dưới 2 tuổi; Do vi khuẩn tại ruột: Các vi khuẩn này gây bệnh qua thực phẩm và các dụng cụ cho trẻ ăn, uống. Bệnh cũng có thể lây qua bàn tay bẩn ở những người phục vụ trẻ. Các vi khuẩn thường gặp là trực khuẩn E.coli đường ruột, trực khuẩn lỵ, phẩy khuẩn tả, trực khuẩn thương hàn; Do nhiễm khuẩn ngoài đường ruột: trẻ có thể bị tiêu chảy sau khi viêm mũi, họng, viêm tai giữa, viêm phổi sau khi bị sởi hay ho gà.

Ngoài ra những yếu tố thuận lợi gây bệnh tiêu chảy cấp do điều kiện vệ sinh môi trường kém, khí hậu nóng, ẩm tạo điều kiện cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển.

Những trẻ bị suy dinh dưỡng dễ dàng mắc bệnh tiêu chảy và bệnh sẽ kéo dài hơn, tỷ lệ tử vong cao.

Biểu hiện tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn ở trẻ.

Biểu hiện tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn ở trẻ.

Biểu hiện của bệnh

Tiêu chảy cấp (TCC) xuất hiện đột ngột, trẻ đi phân lỏng nhiều nước, số lần đi nhiều hơn 3 lần trong 24 giờ, thường kéo dài 1 tuần.

Nôn thường xuất hiện đầu tiên trong trường hợp tiêu chảy do Rotavirus hoặc tiêu chảy do tụ cầu. Nôn liên tục hoặc vài lần làm cho trẻ bị mất nước và chất điện giải. Biếng ăn có thể xuất hiện sớm hoặc sau khi trẻ bị tiêu chảy nhiều ngày. Trẻ thường chán ăn, chỉ thích uống nước.

Trẻ hay quấy khóc, vật vã, đôi khi co giật, hoặc mệt lả nằm li bì. Có thể trẻ còn bị khóc do nhiễm khuẩn.

Những biến chứng thường gặp của TCC

Tiêu chảy nếu không được bù nước kịp thời và đủ nước gây mất nước nặng sẽ làm trẻ kiệt nước, gây truỵ mạch có thể gây tử vong; Suy thận cấp cũng có thể gây tử vong; Suy dinh dưỡng do trẻ ăn ít trong thời gian bệnh.

Ngay khi phát hiện trẻ bị TCC cần cho trẻ uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây, uống dung dịch oresol để bù nước. Theo dõi sát sao việc đi cầu của trẻ bao gồm số lần đi cầu, tình trạng phân, số lượng phân mỗi lẫn và biểu hiện của trẻ. Nếu số lần đi cầu ngày càng nhiều kèm theo việc trẻ không ăn uống, môi khô, sốt cao, nôn, mặt tái nhợt, người lả đi… cần đưa trẻ đến ngay bệnh viện để thăm khám và điều trị để tránh những biến chứng nguy hiểm.

Những sai lầm phổ biến khi điều trị TCC

Bệnh TCC ở thể nhẹ có thể điều trị và theo dõi tại nhà. Tuy nhiên, có không ít người do chưa thực sự hiểu rõ về bệnh nên đã có những phương pháp điều trị sai lầm, khiến tình trạng bệnh ngày càng nặng hơn, đặc biệt là tiêu chảy cấp ở trẻ em.

Không cho trẻ uống nước vì sợ trẻ tiêu chảy nhiều hơn: Nước không làm cho tình trạng TCC trở nên nặng hơn. Nguyên nhân đi cầu là do ruột bị kích thích và tăng dịch ruột, không liên quan gì đến việc bổ sung nước. Ngược lại, việc đi ngoài liên tục khiến cơ thể bị thiếu nước trầm trọng, cần bổ sung nước để tránh bị kiệt nước. Nên cho trẻ uống nhiều nước và uống oresol để tránh bị kiệt nước. Cho trẻ uống nhiều điện giải, nước hoa quả, ăn nhiều trái cây sẽ giúp trẻ cảm thấy khỏe khoắn và thoải mái hơn.

Cho trẻ uống các thuốc cầm tiêu chảy: Không được uống các thuốc cầm tiêu chảy như: nước đọt ổi non, nước sắc vỏ măng cụt, các loại thuốc cầm tiêu chảy (cồn Paregoric, viên mangostana, viên imodium) vì sẽ làm tích tụ vi khuẩn, virus và chất độc lại trong ruột. Đây là một trong những sai lầm thường gặp nhất khi điều trị TCC. Nhiều cha mẹ tự ý ra hiệu thuốc mua các loại thuốc cầm tiêu chảy về cho trẻ uống. Điều này rất nguy hiểm. TCC là do đường ruột bị nhiễm khuẩn, nhiễm virus. Việc đi cầu nhiều lần là phản ứng của cơ thể nhằm đào thải các chất độc, vi khuẩn đó ra ngoài. Sử dụng các thuốc cầm tiêu chảy sẽ cản trở quá trình tự đào thải của cơ thể.

Hơn nữa, các loại thuốc cầm tiêu chảy sẽ làm giảm nhu động ruột khiến phân không thải ra ngoài được. Nghĩa là thực chất trẻ vẫn bị tiêu chảy nhưng lại không đi cầu để thải phân ra ngoài. Phân dồn ứ lại trong ruột sẽ khiến trẻ bị đau bụng, viêm ruột, tắc ruột, thậm chí là tử vong.

Không sử dụng kháng sinh nếu không có sốt hoặc có bằng chứng nhiễm trùng (phân có nhầy, máu).

Không cho trẻ bệnh ăn, uống hoặc kiêng cữ quá mức chỉ cho ăn cháo muối.

Cần làm gì để phòng TCC do nhiễm khuẩn?

Tiêu chảy nói chung là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở nhiều vùng trên thế giới trong đó có Việt Nam, do vậy cần hết sức quan tâm đến việc tuyên truyền cho mọi người dân có ý thức trong việc giữ vệ sinh môi trường, giữ gìn vệ sinh và bảo đảm an toàn thực phẩm; Bảo quản tốt thức ăn, nước uống trước, trong và sau khi chế biến; ăn chín, uống sôi; Tạo lập thói quen rửa tay trước khi ăn, rửa tay sau khi đi vệ sinh; Quản lý tốt chất thải sinh hoạt ra môi trường. Trong thời điểm nhiều nơi đang bị mưa bão như hiện nay, việc giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường là việc làm hết sức cần thiết để phòng tránh dịch bệnh.

Theo Suckhoedoisong.vn

Cá nước ngọt có nhiều loại được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, trong đó có cá diếc đã được Đông y dùng từ rất lâu. Theo y học cổ truyền, cá diếc có vị ngọt nhạt, tính ấm, không độc. Tác dụng bổ tỳ, vị, hành thủy, tiêu thũng, chỉ khát, làm se, sát khuẩn.

Chữa viêm phế quản mạn tính: Thịt cá diếc sấy khô, tán bột. Củ bán hạ rửa sạch đồ chín, ngâm vào nước gừng và nước phèn chua trong 24 giờ (theo tỷ lệ cứ 1kg củ bán hạ thì sử dụng 300g gừng tươi giã nát và 50g phèn chua tán nhỏ, đổ nước ngập sâm sấp mà ngâm), sau lấy ra phơi khô, thái mỏng rồi lại tẩm nước cam thảo và sao vàng, tán bột. Gừng khô cũng tán bột mịn. Sau cùng lấy 50g bột cá diếc trộn với 3g bột củ bán hạ cùng 3g bột gừng khô, chia uống trong ngày, uống với nước ấm.

Chữa viêm đại tràng mạn tính: Cá diếc 1 con khoảng 300g, gạo tẻ 50g. Làm sạch cá cho vào nồi hầm kỹ gạn lấy nước cho gạo vào nấu thành cháo nhừ, cho cá vào nêm gia vị vừa miệng, ăn nóng.

Chữa viêm gan vàng da: Cá diếc 1 con làm sạch, nướng qua, sau cho rau má, lá mơ nấu ăn trong ngày. Ăn thường xuyên.

Chống nôn, chữa buồn nôn: Cá diếc 1 con 250g, làm sạch, trộn với sa nhân 3g, gừng sống 3g, hồ tiêu khô 3g, tán nhỏ cho vào 400ml nước sắc lấy 100ml, chia làm 2 lần uống trong ngày.

Cá diếcCá diếc chữa tiểu đường, khát nước nhiều.

Chữa tiểu đường, khát nước nhiều: Cá diếc 1 con, làm sạch, cho lá chè non vào bụng, bọc giấy nhiều lần quanh cá, đem đốt chín cá, tán nhỏ chia ra làm nhiều lần uống trong ngày với nước ấm.

Chữa ăn uống không ngon miệng: Cá diếc 1 con, làm sạch, nướng qua, cho rau rút vào nấu, ăn nhiều ngày.

Làm tiêu thũng: Cá diếc 1 con làm sạch và nướng qua, sau cho đậu đỏ vào nấu cùng, ăn cái uống nước trong ngày. Cần ăn vài ngày.

Làm tăng tiết sữa: Cá diếc nấu với nấm hương, gạo tẻ, ăn trong ngày.

Làm ấm bụng, hạ khí: Cá diếc nấu với ngũ vị tử ăn 5-7 ngày.

Chữa thủy thũng, trướng bụng: Cá diếc 1 con, đậu đỏ 20g, rễ thương lục 20g, hầm nhừ ăn cái uống nước.

Bổ huyết và dưỡng da: Lấy cá diếc 1 con, câu kỷ tử 12g, hoàng kỳ 12g, gừng sống 3g, hành, giấm, đường, hồ tiêu, rượu vang. Hầm mềm ăn liền.

Chữa viêm loét dạ dày: Bong bóng cá diếc rửa sạch rán giòn bằng dầu vừng tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4- 6g, chiêu với nước ấm.

Bình can, hạ huyết áp: Cá diếc 200g, đánh vảy, bỏ mang, ruột, rửa sạch, lấy 10g dầu ăn, rượu trắng 10g, và ít muối thoa lên mình cá rồi cho vào nồi và đổ vào 500ml nước luộc gà, gừng sống 5g đập dập, hành 5g thái nhỏ, bột mẫu lệ 12g. Nấu sôi, đun nhỏ lửa cho nhừ, cho đậu phụ đã thái miếng, lá rau cải xanh đã thái nhỏ vào chín rau là được. Ăn 1 lần trong ngày, ăn cả cái lẫn nước. Cần ăn một thời gian.

Chữa chốc lở: Cá diếc đốt thành than, tán bột trộn với dầu vừng bôi vào nơi tổn thương.

Theo Suckhoedoisong.vn

Y học cổ truyền gọi thuốc bổ nghĩa là “bổ cái hư” và “ích cái tổn”, có tác dụng nâng cao chính khí của cơ thể bị suy nhược về các mặt âm, dương, khí, huyết và tân dịch. “Bổ” là bù đắp những chất mà cơ thể còn thiếu để duy trì lại thế cân bằng cho cơ thể. Phép bổ là tái thiết thế cân bằng tự nhiên cho cơ thể. Sự cân bằng này bị “lệch chuẩn” do bệnh lý và sinh hoạt thiếu điều độ….

Phép bổ là một trong 8 phép điều trị của Đông y (hãn, thổ, hạ, hòa, ôn, thanh, tiêu, bổ), dùng khi bệnh nhân được chẩn đoán ở thể suy nhược. Không đáp ứng điều trị hoặc bệnh mạn tính kéo dài, khiến sức đề kháng suy giảm.

Thuốc bổ gồm những loại nào?

Phép bổ được áp dụng chung cho cả cơ thể hoặc chỉ cho riêng một tạng phủ nào bị suy nhược. Đông y chia làm 4 loại: bổ khí, bổ huyết, bổ âm, bổ dương. Chia theo âm dương thì thuốc bổ dương, bổ khí thuộc dương; còn thuốc bổ âm, bổ huyết thuộc âm. Trong cơ thể, khí thuộc dương và huyết thuộc âm.

Mỗi loại thuốc đều có tác dụng riêng cho từng đối tượng cụ thể. Người ta chỉ sử dụng chúng khi sức khỏe của các đối tượng này đã bị suy yếu.

Thuốc bổ ích được chia làm 4 loại cụ thể: bổ âm, bổ dương, bổ khí, bổ huyết.

Thuốc bổ Đông y có khả năng tăng cường, điều tiết chức năng miễn dịch, cải thiện tuần hoàn. Tăng lưu huyết não, hạn chế sự lão hóa của não, cải thiện trí nhớ.

Thuốc bổ của Đông y có thể là động vật, thực vật và khoáng vật. Dùng dưới dạng độc vị hoặc dưới dạng bài thuốc nhiều vị thường phổ biến hơn.

Thuốc bổ Đông y

Thuốc bổ âm: Sử dụng trong các bệnh huyết dịch bị kém, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết. Do viêm nhiễm lâu ngày, rối loạn các hoạt động thần kinh thực vật.

Chống chỉ định: Không dùng thuốc bổ âm cho những người tỳ vị hư; tiêu chảy, chậm tiêu…

Thuốc bổ âm chữa các bệnh chứng: Rối loạn quá trình ức chế thần kinh: cao huyết áp, mất ngủ, suy nhược thần kinh thể ức chế giảm. Trẻ em ra mồ hôi trộm, đái dầm… do hệ thần kinh chưa phát triển hoàn chỉnh. Các triệu chứng của rối loạn hệ thần kinh thực vật trong bệnh lao: sốt hâm hấp, gò má đỏ, ho ra máu, mồ hôi trộm… Các bệnh chất tạo keo: nhức trong xương, sốt, khát nước… Một số trường hợp cơ địa dị ứng, nhiễm khuẩn trong: viêm bàng quang mạn tính, hen phế quản, viêm phế quản mạn tính… Trường hợp sốt kéo dài, không rõ nguyên nhân. Thời kỳ hồi phục trong một số bệnh truyền nhiễm, nhiễm khuẩn có sốt kéo dài gây tình trạng mất nước: da khô, miệng khát, táo bón…

Bài thuốc bổ âm kinh điển: Bài Lục vị : thục địa, hoài sơn, đơn bì, trạch tả, sơn thù, phục linh. Dạng dùng: tễ, sắc. Công dụng: bổ can- thận âm.

Thuốc bổ dương

Thuốc bổ dương là những thuốc chữa trị các tình trạng bệnh do phần dương của cơ thể bị suy kém (dương hư). Gồm các phần dương của các tạng phủ tâm, tỳ, thận bị hư tổn.

Chống chỉ định: Không dùng thuốc bổ dương cho những người thuộc chứng âm hư sinh nội nhiệt.

Thuốc bổ dương chủ trị: Các bệnh do hưng phấn thần kinh giảm: liệt dương, di tinh, đau lưng, ù tai. Trẻ em chậm phát dục: chậm mọc răng tóc, chậm biết đi, thóp chậm liền, trí tuệ chậm phát triển. Lão suy: đau lưng, mỏi gối, tiểu tiện nhiều lần; đái dầm thể hư hàn ; hen phế quản mãn. Bệnh khớp mãn tính. Bệnh do hưng phấn thần kinh bị giảm sinh ra mệt mỏi, buồn ngủ, thiếu phấn chấn, huyết áp hạ, gọi là thận dương hư. Bệnh do thở kém vì trở ngại thông khí ở phổi (do giãn phế quản, hen, xơ phổi…) gọi là khí hư. Bệnh do thiếu vận động, tiêu hóa kém, chậm tiêu, đầy bụng, tiêu chảy mãn tính; trương lực cơ giảm làm sa dạ dày, sa trực tràng, sa sinh dục…, gọi là tỳ dương hư.

Bài thuốc bổ dương kinh điển: Bài Bát vị: Thục địa, hoài sơn, đơn bì, trạch tả, sơn thù, phục linh, quế nhục, phụ tử. Dạng dùng: tễ, sắc. Công dụng: Bổ thận dương.

Thuốc bổ khí

Chữa các chứng bệnh gây ra do khí hư của các tạng phế, tỳ bị hư tổn.

Thuốc bổ khí chữa các bệnh chứng: Suy nhược cơ thể: ăn kém, ngủ kém, sụt cân, hồi hộp, thiếu máu, phù thũng… Bệnh mãn tính: tiêu chảy kéo dài, viêm đại tràng mãn, viêm loét dạy dày – tá tràng, viêm gan mạn, sa dạ dày, sa trực tràng, giãn phế quản, hen suyễn, viêm phế quản mạn, phế khí thũng, rong huyết, rong kinh, sa sinh dục, táo bón…

Bài thuốc bổ khí kinh điển: Bài Tứ quân: Đẳng sâm, phục linh, bạch truật, cam thảo. Công dụng: Bổ khí, kiện tỳ.

Thuốc bổ Đông yĐẳng sâm Việt Nam một trong những vị thuốc quý trong Đông y

Thuốc bổ huyết

Chữa những chứng bệnh gây ra do huyết hư. Bổ huyết là bổ phần vật chất của cơ thể. Bổ huyết tức là có bổ âm.

Thuốc bổ huyết chữa các bệnh chứng: Thiếu máu, mất máu. Suy nhược cơ thể: hồi hộp, mất ngủ, ăn kém. Rối loạn kinh nguyệt: rong huyết, rong kinh, kinh nguyệt không đều, kinh ra ít. Bệnh gây đau khớp, cứng khớp, teo cơ …

Bài thuốc kinh điển: Bài Tứ vật: Xuyên khung, đương quy, thục địa, bạch thược. Quy tỳ : đẳng sâm, hoàng kỳ, đương quy, bạch truật, cam thảo, phục thần, táo nhân, viễn chí, nhãn nhục, mộc hương). Dạng dùng: Hoàn, sắc. Công dụng: Tứ vật: bổ huyết. Quy tỳ: kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí, bổ huyết.

Thuốc Đông Y nói chung, thuốc bổ trong Đông Y nói riêng đã có một bề dày lịch sử lâu dài, là sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm qua hàng ngàn năm hình thành và phát triển.  Do đó, việc ứng dụng vào trong thực tế cần có sự tư vấn, hỗ trợ, quyết định bởi thầy thuốc có chuyên môn, để đảm bảo an toàn, đạt được công dụng tốt nhất.

Không nên tự ý sử dụng theo thói quen “không bổ ngang cũng bổ  dọc”, dẫn đến nhiều hệ lụy đáng tiếc có thể xảy ra.

Theo Suckhoedoisong.vn

Mùa thu, dương khí dần dần thu liễm bế tàng, âm khí từ từ tăng trưởng, thời tiết chuyển dần từ nóng sang lạnh, độ ẩm trong không khí giảm đi, với đặc tính khô hanh là chủ khí, dễ gây hao tổn tân dịch trong cơ thể.

Theo quan niệm của y học cổ truyền dùng rượu trong tiết thu phải tuân thủ nguyên tắc “thu đông dưỡng âm”, “phòng táo giữ âm, tư thận nhuận phế”… Dưới đây là một số phương dược dùng rượu trong tiết thu để nâng cao sức khỏe và chống lão hóa bạn đọc có thể tham khảo.

Kiện tỳ, nhuận phế, bổ thận: Hoàng tinh 20g, rượu trắng 500ml. Hoàng tinh rửa sạch, thái phiến, cho vào túi vải buộc kín rồi thả ngâm trong rượu, sau nửa tháng có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Dùng thích hợp cho những người tỳ vị hư yếu, chán ăn, mệt mỏi, ho khan lâu ngày, lưng đau gối mỏi, đầu choáng mắt hoa. Với trường hợp đại tiện lỏng loãng, ho khạc đờm nhiều thì không nên dùng.

Bổ can thận, nhuận dưỡng tỳ phế, chống lão hóa: Vừng đen 50g, rượu trắng 500ml. Vừng đen đãi sạch, để khô rồi đem ngâm với rượu trong bình kín, sau nửa tháng thì dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Dùng thích hợp cho những người bị chứng can thận phế âm hư biểu hiện bằng các triệu chứng hay đau đầu, hoa mắt chóng mặt, lưng đau gối mỏi, râu tóc bạc sớm, ho khan ít đờm, đại tiện táo kết. Với trường hợp đại tiện lỏng loãng không nên dùng.

Hà thủ ô ngâm rượu bổ thận, dưỡng huyết, chống lão hóa.

Hà thủ ô ngâm rượu bổ thận, dưỡng huyết, chống lão hóa.

Thanh can, sáng mắt, giải cảm phong nhiệt: Cúc hoa 50g, rượu trắng 500ml. Cúc hoa rửa sạch, để ráo, cho vào bình ngâm với rượu, sau 10 ngày có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Dùng thích hợp cho những người hay bị cảm mạo phát sốt, hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt và có cảm giác bốc nóng lên đầu, thị lực giảm sút.

Dưỡng tâm an thần, kiện tỳ chỉ tả, ích thận: Hạt sen 50g, rượu trắng 500ml. Hạt sen bỏ vỏ và tâm, đập vụn rồi đem ngâm với rượu trong bình kín, sau nửa tháng thì dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Dùng thích hợp cho những người bị mất ngủ, hay hồi hộp đánh trống ngực, di tinh, đái dầm, xuất tinh sớm, phụ nữ bị khí hư, đi lỏng do tỳ vị hư yếu. Với trường hợp đại tiện táo kết không nên dùng.

Đại bổ nguyên khí, dưỡng gan và làm sáng mắt: Nhân sâm 10g, kỷ tử 20g, rượu trắng 500ml. Nhân sâm thái phiến, kỷ tử rửa sạch cho vào bình kín ngâm với rượu, sau nửa tháng có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Dùng thích hợp cho những người bị chứng khí hư với những biểu hiện cụ thể như khó thở, ngại nói, dễ đổ mồ hôi; chán ăn, chậm tiêu, da nhợt, tay chân teo nhẽo, sa dạ dày, sa trực tràng (tỳ khí hư); lưng đau gối mỏi, tiểu tiện nhiều lần về đêm, khả năng tình dục sút kém (thận khí hư); hay hồi hộp đánh trống ngực, mất ngủ, môi nhợt (tâm khí hư)…

Cúc hoa vàng giúp sáng mắt.

Cúc hoa vàng giúp sáng mắt.

Bổ thận ích tinh, tư âm dưỡng huyết, chống lão hóa: Hà thủ ô 150g, rượu trắng 500ml. Hà thủ ô rửa sạch, thái vụn, ngâm với rượu trong bình kín, sau 15-20 ngày có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Dùng thích hợp cho người bị chứng can thận bất túc, biểu hiện bằng các dấu hiệu đầu choáng tai ù, mất ngủ hay quên, râu tóc bạc sớm, di tinh, liệt dương. Trong y học hiện đại là các bệnh suy nhược thần kinh, thiếu máu, vữa xơ động mạch, tăng huyết áp, táo bón kinh niên…

Thanh nhiệt nhuận phế, tư âm dưỡng huyết: Quả dâu chín 200g, rượu trắng 500ml. Hai thứ ngâm trong bình kín, sau nửa tháng có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Dùng thích hợp cho những người âm hư biểu hiện bằng các triệu chứng môi khô miệng khát, có cảm giác hâm hấp sốt về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, ho khan, hay ra mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ.

Bổ khí dưỡng âm, thanh nhiệt: Tây dương sâm 50g, rượu trắng 500ml. Tây dương sâm thái phiến, ngâm với rượu trong bình kín, sau nửa tháng có thể dùng được. Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml. Dùng thích hợp cho những người khí âm lưỡng hư biểu hiện bằng các triệu chứng mệt mỏi, khó thở, miệng khô, họng khô, ho khan, hay có cảm giác hơi sốt về chiều, đổ mồ hôi trộm. Với trường hợp đau bụng và đi lỏng do lạnh không nên dùng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Viêm lợi, miệng hôi là bệnh rất hay gặp ở trẻ em, Đông y gọi cam miệng (nha cam khẩu xú). Nguyên nhân do vị cảm nhiễm nhiệt tà gây ra miệng hôi, lợi sưng thũng; hoặc do nhiệt tà trùng thống xâm nhập gây miệng hôi, chân răng và lợi sưng, lợi vùng chân răng đen hoặc có mủ.

Trẻ em thường có biểu hiện lở loét môi miệng, miệng hôi, kèm theo chảy nước dãi; nước mũi chảy nhiều; chân răng chảy máu sau khi ăn, đánh răng, xỉa răng. Bệnh xảy ra thời kỳ răng sữa làm răng mất lớp men trắng, trở thành màu vàng xám hoặc đen, hoặc bị ăn mòn. Trẻ chậm phát triển, ăn uống kém, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn vàng, người mệt mỏi, da khô ráp, mạch tế sác. Phương pháp điều trị là thanh vị khu phong, bài trùng.

Cam thảo là vị thuốc trong bài Cam lộ ẩm - bài thuốc hay trị viêm lợi răng, hôi miệng ở trẻ em.

Cam thảo là vị thuốc trong bài Cam lộ ẩm – bài thuốc hay trị viêm lợi răng, hôi miệng ở trẻ em.

Bài thuốc uống

Bài 1 – Cam lộ ẩm: cam thảo 4g, tỳ bà diệp 5g, chỉ xác 5g, thiên môn đông 6g, mạch môn 6g, sinh địa 6g, thục địa 6g, nhân trần 6g, thạch hộc 6g, hoàng cầm 6g. Sắc uống trong ngày.

Bài 2: ý dĩ 70g, hoài sơn 100g, hạt sen 100g, đậu ván trắng 100g, mạch nha 70g, gạo nếp 200g, sơn tra 70g, sử quân tử 30g, thần khúc 30g, đường trắng vừa đủ làm viên. Các vị sao vàng tán bột mịn; đường trắng hòa ít nước và cô lại thành châu, làm viên bằng hạt đậu xanh; sấy khô, đóng lọ kín. Trẻ em 1-3 tuổi, mỗi lần uống 10-20 viên; từ 3-7 tuổi, mỗi lần 20-40 viên; từ 7-12 tuổi, mỗi lần uống 40-50 viên. Ngày uống 2 lần, uống với nước ấm. Trị các chứng cam tích, trẻ ăn uống kém, gầy còm, giun sán, đại tiện phân sống.

Bài 3: ý dĩ  80g, cúc hoa 40g, cốc tinh thảo 12g, hồ tiêu 8g, sử quân tử 40g, uy linh tiên 20g, dạ minh sa 8g. Sử quân tử ngâm nước nóng, bóc hết màng, bỏ hai đầu nhọn; cốc tinh thảo bỏ cuộng. Các vị sao vàng, tán bột mịn; đóng gói 4g, dán kín. Trẻ em 1-2 tuổi, mỗi lần 1/2 gói; 2-5 tuổi, mỗi lần uống 1- ,5 gói; 5-10 tuổi, mỗi lần 2 gói. Ngày uống 2-3 lần. Trị trẻ em bụng to, hôi miệng, thối răng, toét mắt. Lưu ý kiêng các chất cay nóng.

Viêm răng lợi, hôi miệng (Đông y gọi Cam miệng) rất hay gặp ở trẻ nhỏ.

Viêm răng lợi, hôi miệng (Đông y gọi Cam miệng) rất hay gặp ở trẻ nhỏ.

Thuốc tại chỗ

Bài 1 – Thuốc trị nha cam: đồng thanh 4g, bằng sa 4g, xuyên tiêu 10g. Các vị tán bột mịn. Súc miệng sạch, xát thuốc vào chân răng.

Bài 2 – Thuốc cam xanh: thanh đại, ngũ bội tử, bạch phàn, mai hoa băng phiến. Mỗi lần dùng 0,05g – 0,1g. Súc miệng sạch, dùng tăm bông chấm thuốc vào chân răng và lợi; giữ thuốc tại chỗ đau càng lâu càng tốt (bôi thuốc sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ). Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi: lấy bột thuốc bằng nửa hạt gạo, thêm 1 giọt mật ong, dùng ngón tay nghiền trộn đều, bôi lên lợi (cam miệng) hoặc lên lưỡi (bị tưa lưỡi); ngày 1 lần. Thuốc có bán ở các nhà thuốc trên toàn quốc.

Bài 3: thanh đại 2g, hùng hoàng 2g, băng phiến 2g, bạch phàn 4g, bằng sa 4g, lô hội 4g. Các vị tán bột mịn. Súc miệng sạch, chấm thuốc vào chân răng và lợi.

Để phòng bệnh viêm lợi, miệng hôi cần vệ sinh răng miệng hàng ngày; súc miệng nước muối và ngậm thuốc theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Khi răng đau, chân răng sưng đau cần kiểm tra và chữa trị sớm. Ăn thức ăn mềm dễ nhai, không ăn thức ăn cay nóng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Là bệnh lý nhiễm virus gây viêm dạ dày ruột cấp với các triệu chứng gồm tiêu chảy, nôn ói, sốt, có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như: tiêu chảy nặng, mất nước, rối loạn điện giải, nhiễm toan chuyển hóa, suy dinh dưỡng… thậm chí là tử vong. Hơn nữa bệnh chưa có thuốc đặc trị nên vi rút rota rất nguy hiểm ở trẻ dưới 1 tuổi, đặc biệt là nhóm trẻ dưới 9 tháng tuổi.

Vì sao mẹ cần chủng ngừa vi rút rota cho trẻ sớm từ 6 tuần tuổi?

Các thống kê cho thấy, trước khi vắc-xin ngừa vi rút rota xuất hiện và được áp dụng, mỗi năm tiêu chảy do vi rút rota đã cướp đi sinh mạng của hơn 611.000 trẻ em trên toàn thế giới.

Từ năm 2006, vắc-xin vi rút rota được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng rổn 5 thì tỷ lệ tử vong giảm đi 50% và tỷ lệ nhập viện ở các nước đã giảm đáng kể 6. Tuy nhiên gánh nặng bệnh vẫn còn, do đó việc triển khai chủng ngừa cần tiếp tục… vi rút rota.

Thời điểm “vàng” để chủng ngừa vi rút rota cho trẻ là bắt đầu sớm từ 6 tuần tuổi. Nếu được chủng ngừa sớm vào thời điểm này, cơ thể trẻ tạo được miễn dịch hoàn chỉnh chống lại vi rút rota trước khi bước vào giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ nhiễm bệnh khi trẻ bắt đầu ăn dặm, khám phá môi trường xung quanh bằng cách bò toài, cầm nắm, đưa vật lạ vào miệng… Thời gian tối thiểu cho liều vắc xin rota đầu tiên là 6 tuần và thời gian tối đa cho liều cuối cùng là 8 tháng, vì sau thời gian đó, hầu hết trẻ đã bị nhiễm vi rút rota tự nhiên. Do dó bà mẹ nên cho con đí tiêm chủng đúng lịch dể bảo vệ sớm cho trẻ khỏi bị tiêu chảy do vi rút rota tự nhiên và bị bệnh tiêu chảy trong những tháng đầu đời,

Bên cạnh việc thiết lập hệ miễn dịch hoàn chỉnh cho trẻ, chủng ngừa sớm vi rút rota đúng vào thời điểm “vàng” còn mang lại những lợi ích khác.

Ảnh minh họa

Những điều mẹ cần lưu ý khi cho trẻ uống vắc-xin vi rút rota

Phác đồ chủng ngừa vi rút rota thường bao gồm 2 hoặc 3 liều dạng uống tùy loại vắc-xin sử dụng vi rút rota. Tuy nhiên, để có thể đem đến sự bảo vệ tốt nhất cho con yêu, mẹ nên ghi nhớ để đưa con đi chủng ngừa sớm ngay từ khi vừa đủ 6 tuần tuổi để trẻ được bảo vệ sớm trước khi bị phơi nhiễm vi rút rota. Để hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của phác đồ và thời điểm vàng này, mẹ có thể tham khảo thêm ý kiến chuyên gia để vắc-xin phát huy hiệu quả tối đa.

Lưu ý: Nếu trẻ có dấu hiệu sốt cao, không ngủ, quấy khóc liên tục, mẹ nên nhanh chóng đưa trẻ đến ngay cơ sơ y tế gần nhất để được kiểm tra.

3 bí quyết giúp tăng sự bảo vệ cho trẻ sơ sinh

Ngoài vắc-xin vi rút rota, trong thời điểm “vàng” này mẹ cần chủng ngừa thêm các mũi tiêm quan trọng để sớm bảo vệ trẻ khỏi các bệnh nguy hiểm rất thường gặp như: viêm gan B; bạch hầu – uốn ván – ho gà – bại liệt; viêm phổi, viêm màng não do Hib; viêm phổi, viêm màng não do phế cầu… Song song việc chủng ngừa đúng thời điểm “vàng” và đủ liều lượng, mẹ có thể giúp trẻ nâng cao sức đề kháng bằng các cách đơn giản sau:

– Cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời

– Cho trẻ ngủ đủ giấc, ít nhất 14 tiếng mỗi ngày

– Giữ gìn vệ sinh và môi trường thông thoáng

“Tiêm chủng nhẹ nhàng – Mong ước vàng mẹ dành cho bé” là chương trình tuyên truyền tiêm chủng cộng đồng nhằm cung cấp kiến thức quan trọng cho mẹ về các vắc-xin cần thiết dành cho con ngay từ tuần thứ 6 để phòng ngừa sớm cho con khỏi các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

Chương trình giáo dục sức khỏe cộng đồng được phối hợp thực hiện bởi Hội Y học Dự phòng Việt Nam và VPĐD GlaxoSmithKline Pte. Ltd tại TPHCM.

Theo Suckhoedoisong.vn

Củ gừng là gia vị quen thuộc không thể thiếu trong nhiều món ăn thức uống có chất đạm cao, “mát bụng” như: mực biển hấp gừng, thịt vịt mắm gừng, cá kho gừng, rau cải nấu gừng, rượu gừng… Ngoài làm gia vị, từ rất lâu, y học cổ truyền phương Đông đã dùng gừng để phòng và chữa cảm lạnh, bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, bệnh đường tiết niệu, thần kinh vận động…

Củ gừng chứa axit glutamic, glycine, serin, axit aspartic, zingiberol, aldehyde, chất cay zingeron, shogaola, tinh bột… Chúng có tác dụng đặc biệt trong dưỡng sinh và phòng bệnh chữa bệnh. Sau đây là một số cách dùng gừng trị bệnh đường tiết niệu, thần kinh vận động và nhiều bệnh khác.

Gừng trị bệnh đường tiết niệu

Bí tiểu: gừng tươi 1 lát, ngải cứu 3-6g. Gừng đặt dưới rốn 4-5cm, dùng điếu ngải cứu đốt cháy như điếu thuốc rồi hơ nóng trên gừng. Làm nhiều lần sẽ đi tiểu được.

Phù thũng do viêm thận: gừng tươi 50g, hành củ 7 củ, cá quả 1 con khoảng 500g, bí xanh 500g, đường phèn 250g, rễ cỏ tranh 500g, táo tàu 300g, chè uống nước 200g, đường phèn 250g. Các vị thuốc cho vào nồi, đổ nước 1 lít rưỡi nấu sôi một lúc, gạn lấy nước bỏ bã, đun nhỏ lửa đến khi cạn còn 1 lít, để đó. Cá quả làm sạch cho vào nồi đất, đổ nước thuốc vào, đun nhỏ lửa cho đến khi cá chín nhừ, cho hành củ và đường phèn vào, chia làm 3 lần ăn hết cá và nước trong ngày.

Tiểu són: gừng tươi 6g, lá ngải cứu 20g, hồi hương 20g, nhân bạch quả (rang vàng thơm) 12g. Tất cả giã nhuyễn đắp vào bụng dưới, dùng điếu ngải cứu 2-3 lần. Ngày đắp thuôc 1 lần.

Nước gừng mật ong nấu cháo rất tốt cho người phù thũng sưng chân, đầy bụng đại tiện khó.

Nước gừng mật ong nấu cháo rất tốt cho người phù thũng sưng chân, đầy bụng đại tiện khó.

Gừng trị bệnh hệ thần kinh và vận động

Đau đầu: gừng tươi hạt cải củ lượng bằng nhau, một chút xạ hương. Gừng và hạt cải củ giã vắt lấy nước, cho ít xạ hương vào, nhỏ vào mũi sẽ khỏi đau đầu.

Đau nửa đầu (thiên đầu thống): gừng tươi 60g luộc chín giã nát đắp vào huyệt dũng tuyền ở lòng bàn chân. Đau đầu bên trái thì đắp chân bên phải và ngược lại. Băng chặt.

Tê thấp phong hàn: gừng tươi, ma hoàng, lá ngải cứu già, các vị đều 60g. Tất cả cho vào nồi nước đun sôi, vớt bỏ bã thuốc. Dùng khăn nhúng nước thuốc chà xát nóng toàn thân và xông nơi tê thấp.

Tay chân tê thấp: gừng tươi 30g, hành 1 nắm, xuyên khung 30g. Tất cả cho vào ấm sắc rồi đem xông tay chân đau tê.

Đau khớp gối (khớp gối sưng to, đau, đi lại khó): nước gừng tươi nửa bát, bồ kết bỏ hạt 1 quả, mang tiêu 30g, ngũ vị tử 30g, rượu 1.000 ml. Các vị thuốc nghiền nhỏ, cho nước gừng vào trộn đều rồi lại cho rượu vào trộn tiếp, bôi chỗ đau.

Khớp vai viêm đau: gừng tươi 10g, hành củ 60g, xơ mướp 20g. Tất cả giã nhỏ, cho một ít rượu vào trộn đều đắp chỗ đau, băng lại. Cách ngày thay 1 lần.

Đau lưng: gừng tươi 60g, hương phụ 150g, muối 6g. Gừng giã nát lấy nước ngâm hương phụ 1 đêm rồi sao vàng tán nhỏ, cho muối vào trộn đều, xát vào răng vài lần sẽ đỡ đau lưng.

Đau bắp chân bàn chân, chân sưng nặng nề: gừng tươi 3 lát, thương truật 6g, hoàng bá 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thịt chó hầm nhừ cùng gừng tươi thục phụ phiến trị liệt dương, sợ lạnh, tiểu dầm.

Thịt chó hầm nhừ cùng gừng tươi thục phụ phiến trị liệt dương, sợ lạnh, tiểu dầm.

Ngoài ra, gừng còn làm thuốc trị các chứng bệnh

Liệt dương, sợ lạnh, tiểu dầm: gừng tươi 150g, thục phụ phiến 30g, thịt chó 1.000g làm sạch, gừng tỏi hành đủ dùng. Thục phụ phiến cho vào nồi đun sôi nhỏ lửa khoảng 2 giờ. Gừng tỏi hành rửa sạch thái nhỏ. Tất cả cho vào nồi nước thục phụ phiến nấu chín nhừ. Chia ăn nhiều lần, ăn cả cái và nước.

Di tinh, liệt dương: gừng tươi 5 lát, cá chạch 400g, táo tàu 6 quả (bỏ hạt). Cá chạch làm sạch bỏ ruột cho vào nồi nước sôi, cho gừng, táo tàu vào ninh nhừ. Ăn cả cái và nước, chia 2 lần. Ăn 10 ngày là một đợt.

Đái tháo đường: gừng khô 50g, mật cá diếc 3 cái. Gừng sao tán nhỏ, cho mật cá vào trộn vê thành viên to như hat đỗ. Ngày uống 1 lần 5 – 6 viên, uống với nước cơm.

Hoặc: gừng tươi 5g, muối ăn 4g, chè xanh 6g. Gừng, chè cho vào ấm đổ 600ml nước đun còn 500ml, cho ít muối vào khuấy đều, gạn bỏ bã, uống vài lần trong ngày.

Phù thũng sưng chân, đầy bụng đại tiện khó: nước gừng, mật ong, mỗi thứ 50g, gạo tẻ 100g. Gạo vo sạch, đổ nước nấu cháo chín rồi cho mật ong, nước gừng, nước cau (quả cau giã ép lấy nước) trộn đều, lại đun tiếp nhỏ lửa cho cháo chín nhừ. Ngày ăn 1 lần thay bữa ăn cơm.

Cổ gáy đau do tư thế ngủ, do cảm gió gây cứng đơ khó cử động: gừng tươi 12g, cát căn 20g, bồ công anh 20g. Tất cả giã nát nhuyễn cho ít rượu trộn đều sền sệt đắp chỗ đau.

Say tàu xe: gừng tươi thái mỏng đặt vào khẩu trang đeo. Hoặc cầm tay hít hơi gừng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Từ lâu trong dân gian đã có nhiều vị thuốc, bài thuốc điều bổ những rối loạn về Âm Dương, Khí huyết trong cơ thể, qua đó giúp tăng cường hệ miễn dịch…

Nhân sâm

Theo y học cổ truyền, nhân sâm có tác dụng bổ khí, ích huyết, sinh tân, định thần, ích trí. Nhân sâm được dùng để trị chứng chân khí suy kém, cơ thể thường xuyên có cảm giác mệt mỏi, đoản hơi, đoản khí, chân tay lạnh, mạch yếu, người gầy yếu, cơ thể mới ốm dậy.

 tăng cường miễn dịchNhân sâm.

Y học hiện đại đã có nhiều công trình nghiên cứu xác nhận tác dụng dược lý của nhân sâm như tăng lực, tăng trí nhớ, bảo vệ và tác động lên hệ miễn dịch giúp chống viêm, bảo vệ tế bào chống lão hóa, tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Món ăn bài thuốc từ nhân sâm:

Gà hầm sâm

Nguyên liệu: 1 con gà con, 100g gạo nếp, 50g hạt sen, 2 củ nhân sâm tươi, 4 quả táo tàu, 10g gừng tươi, 10g cam thảo, 20 nhánh tỏi, 20 g hành lá, muối, hạt tiêu xay.

Gà hầm sâm.

Cách làm: Gà đã làm thịt, được sơ chế sạch. Vo sạch gạo nếp đã chuẩn bị và ngâm gạo trong khoảng 1 giờ, sau đó nhồi một ít gạo vào bụng gà và cho thêm táo vào phần bên trong mình gà. Cho nước và các gia vị còn lại như gừng, hạt sen, cam thảo, tỏi… vào nồi để đun sôi khoảng 30 phút. Sau đó đem gà thả vào nồi nước đã đun sôi rồi hầm cho đến khi gà đủ độ chín.

Canh nhân sâm tuyết lê

Nguyên liệu: Nhân sâm 6 g, lê trắng 1 quả, mộc nhĩ trắng 20 g, kỷ tử 12g, hạt sen 12g, đường phèn vừa đủ.

Canh nhân sâm tuyết lê.

Cách làm: Ngâm hạt sen và mộc nhĩ trắng, sau đó đem mộc nhĩ trắng thái miếng. Lê gọt vỏ, thái thành miếng. Nhân sâm thái lát. Tất cả cho vào bát đậy nắp đem chưng cách thủy khoảng 2 giờ, cho thêm đường phèn vừa đủ.

Canh nhân sâm hạt sen

Nguyên liệu: Nhân sâm 6g, hạt sen 12g.

Cách làm: Ngâm hạt sen và nhân sâm cho mềm rồi đem nhân sâm thái lát mỏng. Cho nhân sâm và hạt sen vào bát đậy nắp, hấp cách thủy một giờ. Sau đó, bắc ra cho đường phèn vừa đủ là có thể dùng được.

Nhân sâm có tác dụng bổ khí, ích huyết, sinh tân, định thần, ích trí. Nhân sâm được dùng để trị chứng chân khí suy kém, cơ thể thường xuyên có cảm giác mệt mỏi, đoản hơi, đoản khí, chân tay lạnh, mạch yếu, người gầy yếu, cơ thể mới ốm dậy
Rượu nhân sâm tươi

Nguyên liệu: Nhân sâm tươi 1kg, rượu trắng (38-40 độ): 10 lít.

Cách làm: Nhân sâm rửa sạch xếp vào bình, đổ rượu ngập sâm. Sau khoảng 6 tháng là dùng được.

Hải sâm

Theo y học cổ truyền hải sâm có vị mặn, tính ấm đi vào các kinh tâm, tỳ, thận và phế. Có công năng bổ thận ích tinh, thêm tinh tủy, tráng dương, sát khuẩn, dưỡng huyết, nhuận táo, sử dụng trị mọi chứng hư lao như các chứng huyết hao tổn, hư nhược, liệt dương, di tinh, mộng tinh, tiểu tiện nhiều lần. Một số nghiên cứu dược lý cho thấy hải sâm chứa một số hợp chất có lợi cho sức khỏe tổng thể như chất chống oxy hóa phenol và flavonoid, được chứng minh là làm giảm viêm trong cơ thể. Hải sâm cũng rất giàu các hợp chất gọi là triterpene glycoside, có đặc tính kháng nấm, chống ung thư và tăng cường miễn dịch.

Món ăn bài thuốc từ hải sâm:

Cháo hải sâm

Nguyên liệu: Hải sâm 30g, gạo nếp 100g.

Cách làm: Cho cả hai thứ ninh nhừ thành cháo nêm gia vị vừa miệng và ăn ngày 1 liều chia vài lần, cần ăn trong 5 – 7 ngày liền.

Hải sâm om nấm

Nguyên liệu: 0,3kg hải sâm, 15g nấm đông cô, 1 củ tỏi, 12 cây cải chíp, 1 bát nước dùng gà, 2 thìa cà phê mì chính, 1 thìa cà phê đường kính, 2 thìa cà phê hạt nêm, 1 thìa cà phê hạt tiêu, bột đao, 1,5 thìa cà phê đường, dầu hào,

Cách làm: Hải sâm đã làm sạch, cắt miếng vừa ăn.

Nấm đông cô ngâm nước, thái lát mỏng.  Đặt chảo cho một ít dầu và tỏi đã bóc vỏ, giã nhỏ vào xào vàng. Sau đó cho nước dùng gà vào.

Cho tiếp nấm đông cô và hải sâm vào om. Bật lửa vừa phải và om khoảng 10 phút, sau đó nêm gia vị: mì chính, đường, hạt tiêu.

Cho cải chíp đã bỏ bớt lá vào. Cuối cùng cho một ít bột đao hòa nước vào để tạo độ sánh là dùng được.

Hải sâm hầm táo đỏ đảng sâm

Nguyên liệu: Táo đỏ 10 quả, đảng sâm 10g, hải sâm 50g, nấm mèo 30g, cà rốt 100g, rượu 10ml, gừng 5g, muối 5g, hành 10g, nước luộc gà 300ml, dầu ăn 50g.

Cách làm: Táo đỏ bỏ hạt, nấm mèo, hải sâm ngâm cho nở, thái miếng, cà rốt thái khúc khoảng 4cm, hành thái khúc, gừng đập giập. Để chảo nóng rồi đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm rồi bỏ hải sâm, rượu, muối, đảng sâm, táo đỏ, nấm mèo, cà rốt vào xào đều, đổ canh gà vào, vặn lửa nhỏ hầm cho chín. Ngày ăn một lần, mỗi lần ăn 25g hải sâm.

Hoàng kỳ

Theo y học cổ truyền, hoàng kỳ có tác dụng bổ nguyên khí, tăng cường các chức năng của tạng phủ; bổ tỳ, vị. Có tác dụng giải độc, trị lở loét, giảm đau, hoạt huyết.

Hoàng kỳ còn chữa các bệnh về cảm cúm, nhiễm trùng đường hô hấp, dị ứng, thiếu máu, hỗ trợ điều trị HIV/AIDS, bệnh thận, bệnh đái tháo đường. Hoàng kỳ phòng ngừa bệnh ung thư bởi chứa chất chống oxy hóa, bảo vệ tế bào khỏi những tổn thương.

Món ăn bài thuốc từ hoàng kỳ:

Ngọc bình phong tán

Thành phần: Hoàng kỳ 16g, bạch truật 12g, phòng phong 8g.

Cách dùng: Tán bột mịn trộn lẫn. Ngày uống 8-12g chia làm hai lần.

Tác dụng: Ích khí kiện tỳ, cố biểu chỉ hãn. Trên lâm sàng: Dùng để trị các chứng biểu hư, dễ cảm mạo, đối với người hay bị cảm mạo, dùng bài này có thể nâng cao sức khỏe.

Thập toàn đại bổ thang

Thành phần: Đảng sâm 12g, bạch linh 12g, bạch truật 12g, cam thảo 10g đương quy 12g, xuyên khung 12g, thục địa 16g, bạch thược 12g hoàng kỳ 10g, nhục quế 6g.

Cách dùng: Thang sắc uống ngày 1 thang. Tác dụng: Bổ khí huyết, ôn thông kinh lạc.

Bổ trung ích khí thang

Thành phần: Hoàng kỳ 16g, chích thảo 4g, thăng ma 6g, đảng sâm 12g, đương qui 12g, sài hồ 8g, bạch truật 12g, trần bì 6g.

Cách dùng: Thang sắc uống ngày 1 thang. Tác dụng: chữa cơ thể vốn hư nhược dễ bị cảm mạo, mệt mỏi ra mồ hôi.

Canh gà hoàng kỳ

Nguyên liệu: Gà 1 con, hoàng kỳ 10g, hạt sen 10g, kỷ tử 5g, táo đỏ 10g, dầu lạc 10g, muối 1g, gừng vài lát nhỏ, rượu trắng 10g.

Cách làm: Rửa sạch gà cho vào nồi, cho phần rượu trắng để rửa lại lần nữa. Tiếp theo, gà chặt miếng vừa ăn. Cho gà, hoàng kỳ, hạt sen vào nồi hầm cùng nhau trong khoảng 1 giờ cho mềm. Tiếp đến cho táo đỏ kỷ tử vào đun cùng khoảng 20 phút. Cuối cùng cho gia vị vừa ăn là được.

Cháo hoàng kỳ táo đỏ

Nguyên liệu: Hoàng kỳ 10g, táo đỏ 3 quả, lúa mạch 100g.

Cháo hoàng kỳ táo đỏ.

Cách làm: Hoàng kỳ ninh nhừ trong 2 lần để lấy nước. Táo đỏ, lúa mạch rửa sạch và ngâm với nước. Cho tất cả những nguyên liệu trên vào nồi nước hoàng kỳ vừa ninh. Đun nhỏ lửa trong khoảng 45 phút. Sau đó, bắc ra cho đường phèn vừa đủ là có thể dùng được.

Theo Suckhoedoisong.vn

Các cơn đau đầu có thể ập đến bất cứ khi nào, nhất là khi thời tiết thay đổi. Cơn đau ảnh hưởng sức khỏe và hoạt động. Khi bị đau đầu thường xuyên, việc dùng thuốc giảm đau sẽ không phải là giải pháp tốt. Vì vậy, bạn nên áp dụng tập luyện một vài tư thế để đẩy lùi cơn đau hiệu quả.

Đau đầu là cảm giác khó chịu nhất của mỗi người. Đau đầu do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể là dấu hiệu của một bệnh, có thể là do thay đổi thời tiết, do rối loạn cảm xúc, mệt mỏi và căng thẳng,… Tình trạng lạm dụng thuốc giảm đau hiện nay khiến số lượng người đau đầu ngày một nhiều và mức độ đau nặng thêm. Nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng số lượng gốc tự do trong cơ thể người đau đầu, đặc biệt là người bị stress kèm theo.

Đau đầu được xem là triệu chứng nhiều hơn là bệnh, không chỉ gặp trong các chuyên khoa thần kinh, tâm thần mà còn xuất hiện trong nhiều bệnh.

Tập thể dục thường xuyên có thể làm giảm tần suất và cường độ của các cơn đau đầu. Khi tập thể dục sẽ giúp cơ thể giải phóng nhiều hormon endorphins, được xem là liều thuốc giảm đau tự nhiên của cơ thể. Ngoài ra, tập thể dục sẽ giúp giảm căng thẳng và bạn sẽ có giấc ngủ ngon hơn vào ban đêm, như vậy sẽ loại bỏ hai nguyên nhân gây đau nửa đầu thường gặp nhất.

Theo khuyến cáo của Hiệp hội Sức khỏe Hoa Kỳ, nên tập thể dục mỗi tuần tối thiểu là 150 phút. Có thể chia thành 5 lần, mỗi lần 30 phút. Bạn cũng có thể đáp ứng được mục tiêu này bằng cách thực hiện 3 lần, mỗi lần 10 phút/ngày.

Tư thế ngồi mở rộng ngực.

Tư thế ngồi mở rộng ngực.

Những lưu ý khi tập luyện

Bổ sung nước trước, trong và sau khi tập: Hãy chắc chắn rằng bạn không để miệng khô và đổ mồ hôi quá nhiều. Nếu bạn đang khát, đó là một dấu hiệu cho thấy bạn đang bị thiếu hụt nước đáng kể và có thể gây ra chứng đau đầu. Nếu bạn đổ mồ hôi quá nhiều khi bạn đang tập thể dục, cũng làm tăng nguy cơ gây mất nước.

Nên ăn nhẹ trước khi tập khoảng 1 giờ: Tập thể dục làm cho lượng đường trong máu người giảm, vì vậy dự trữ nguồn năng lượng trước khi tập luyện là điều cần thiết. Thực phẩm có protein hoặc các loại hạt ngũ cốc là món ăn nhẹ tốt trước khi tập thể dục.

Cuối cùng, hãy khởi động nhẹ nhàng trước khi bắt đầu luyện tập những bài tập mạnh vì có thể là nguy cơ gây đau đầu hoặc đau nửa đầu.

Lựa chọn tập luyện khoa học

Lựa chọn các hoạt động tập luyện mà bạn thích để tăng hứng thú khi tập và đạt hiệu quả tập luyện cao hơn. Xác định những bài tập thể dục phù hợp với phong cách cá nhân của bạn.

Đối với những người thích môi trường tự nhiên, nên đạp xe, đi bộ đường dài ngoài trời, bơi lội là lựa chọn khá thú vị.

Nếu muốn tập trung tinh thần, có thể tham gia võ thuật, yoga trị đau đầu…

Nếu thích giao tiếp xã hội và vui chơi, có thể tham gia aerobic, zumba với câu lạc bộ, chơi tennis, tham gia các lớp tập thể dục, đi khiêu vũ, hoặc chơi một vòng golf với bạn bè.

Hãy sắp xếp thời gian tốt nhất cho bản thân và giữ lịch trình thành thói quen. Nếu muốn tham gia một phòng tập thể dục, hãy tìm một vị trí thuận tiện với giờ tập luyện tiện lợi.

Tư thế chân tựa tường.

Tư thế chân tựa tường.

Các bài tập yoga chữa đau đầu hiệu quả

Các bài tập dưới đây được thiết kế để nhẹ nhàng nhằm duỗi và mở rộng những vùng cơ, trong khi luân chuyển máu tới não bộ giúp chấm dứt cơn đau đầu một cách nhanh chóng và an toàn nhất.

Tư thế ngồi mở rộng ngực: Tư thế chống đầu tay nắm duỗi vùng cổ phía sau rồi làm ngược lại sẽ tập trung vào vùng cổ và ngực phía trước. Nó cũng giúp giảm áp lực lên lưng, một trong những lý do gây đau đầu. Ngồi trên hai gót chân, đặt hai tay sau chân khoảng 25cm và cong cổ về phía sau. Động tác này giúp đầu cảm thấy nhẹ nhàng và mở rộng, vì vậy hãy giữ nguyên trong 5 nhịp thở hoặc hơn nếu cảm thấy dễ chịu.

Tư thế ngồi giãn cổ: Thỉnh thoảng đau đầu có thể do đau cổ gây ra, vì vậy hãy giãn vùng cơ bị căng cứng này. Ngồi thoải mái, đặt tay trái lên mặt bên phải của đầu và nhẹ nhàng kéo nhẹ để đầu nghiêng về bên trái. Giữ trong vài nhịp thở và sau đó từ từ đổi bên. Lặp lại cho 2 bên vài lần.

Tư thế chân tựa tường: Tư thế yoga phục hồi này sẽ giúp cơ thể lan truyền cảm giác thoải mái tĩnh lặng nhất. Tất cả những gì bạn cần là một bức tường. Ngồi càng gần tường càng tốt. Nếu cảm thấy không thoải mái, tựa mông và lưng dưới lên một tấm mền nhỏ gấp lại. 2 chân khép lại hoặc dạng 2 chân rộng đều được. Hãy nhắm mắt lại và hít thở, giữ nguyên tư thế này càng lâu càng tốt.

Theo Suckhoedoisong.vn

Nhân hạt mơ còn có tên hạnh nhân, khổ hạnh nhân. Hạt hạnh nhân từ xưa đã được ví như một loại “thức ăn siêu hoàn hảo” với những tính năng mà những loại hạt dinh dưỡng khác khó có thể mang lại. Hạnh nhân chứa rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Khi ăn có mùi thơm và rất ngon nên được nhiều người ưa chuộng. Nếu hạt óc chó được xem là “vua” của các loại hạt thì hạt hạnh nhân lại được dân gian ví như “nữ hoàng” của các loại hạt.

Cách dùng hạnh nhân rất đa dạng; có thể ăn sống như một bữa ăn nhẹ lành mạnh; là thành phần chính trong bơ hạnh nhân, sữa hạnh nhân, bột hạnh nhân; thậm chí có trong nhiều loại kem thoa cơ thể và nước hoa.

Hạnh nhân có hai loại: khổ hạnh nhân (nhân hạt mơ đắng) và cam hạnh nhân (nhân hạt mơ ngọt). Khổ hạnh nhân hay dùng làm thuốc hơn.

Về thành phần hóa học, hạnh nhân có 2-3% amygdalin, 40- 50% dầu béo, men (emulsin, amygdalase, prunase…). Theo Đông y, hạnh  nhân vị đắng, tính ôn, có ít độc; vào kinh Phế và Đại trường.

Khổ hạnh nhân có chứa amygdalin, dưới tác dụng của men và dịch vị sẽ cho acid xyanhydric (HCN) và aldehyt benzoic. Aldehyt benzoic có tác dụng long đờm. Chất HCN có tác dụng với trung khu thần kinh, lúc đầu gây hưng phấn, sau ức chế có thể dẫn đến co quắp, sau đó hôn mê, nên không được uống quá liều lượng. Dùng sống rất dễ bị ngộ độc; nếu bị ngộ độc, có thể lấy 100-125g vỏ cây mơ, sắc uống để giải độc.

Hạnh nhân có tác dụng trừ đàm chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng thông tiện. Dùng cho người bị viêm khí phế quản, hen suyễn, ho, viêm họng, táo bón. Ngày dùng 4-10g, bằng cách nấu, ướp, chưng hầm.

Cháo hạnh nhân thích hợp cho người hen suyễn cấp phù nề, tiểu dắt, tiểu buốt.

Cháo hạnh nhân thích hợp cho người hen suyễn cấp phù nề, tiểu dắt, tiểu buốt.

Hạnh nhân được dùng làm thuốc trong các trường hợp

Tuyên phế, bình suyễn: Chữa viêm phế quản, hen phế quản.

Bài 1: khổ hạnh nhân 8g, tô diệp 8g, cát cánh 8g, chỉ xác 8g, quất bì 8g, gừng sống 8g, phục linh 12g, tiền hồ 12g, pháp bán hạ 8g, đại táo 8g. Sắc uống. Chữa ho, hen suyễn, cảm mạo do lạnh (phong hàn).

Bài 2: cam hạnh nhân 200g, nước ép gừng tươi 80g, tử uyển 63g, ngũ vị tử 63g, vỏ rễ dâu 70g, bối mẫu 70g, mộc thông 70g. Sắc lấy nước và cô đặc, thêm mật ong cô thành cao. Mỗi lần uống 1 thìa, ngày 2 lần. Chữa ho lâu ngày, có tiếng rít.

Nhuận tràng, thông đại tiện: hạnh nhân 12g, bá tử nhân 12g, hỏa ma nhân 12g. Sắc uống. Chữa người già hoặc phụ nữ sau khi đẻ bị táo bón.

Món ăn thuốc có hạnh nhân

Hạnh nhân ướp đường phèn: hạnh nhân, đường phèn, liều lượng bằng nhau. Hạnh nhân ngâm vào nước sôi, bóc bỏ vỏ màng; nghiền trộn với đường. Ngày ăn 2 lần sáng và chiều, mỗi lần ăn 9g. Dùng tốt cho người bị viêm khí phế quản mạn tính, ho khan dài ngày đờm dính.

Hạnh lê ẩm: hạnh nhân 10g, lê to 1 quả. Lê gọt vỏ thái lát. Hai thứ nấu chín, thêm chút đường phèn khuấy cho tan đều. Dùng tốt cho bệnh nhân viêm khí phế quản cấp tính dạng viêm khô, nóng sốt, ho khan ít đờm.

Cháo hạnh nhân: hạnh nhân 10g, gạo tẻ 60-100g. Hạnh nhân bóc vỏ ngoài, đập vụn nấu với gạo thành cháo. Dùng cho người hen suyễn cấp phù nề, tiểu dắt, tiểu buốt.

Hạnh nhân trư phế thang: phổi lợn 200g, hạnh nhân 10g, mật ong 100ml, gừng tươi 10g. Đem phổi lợn thái lát; nấu với gừng và hạnh nhân, ăn trong ngày. Dùng tốt cho bệnh nhân ho gà, ho khan từng cơn dài ngày.

Cháo hạnh nhân tử tô: hạnh nhân 10g, tô tử 15g, lai phục tử 15g, gạo tẻ 100g. 3 dược liệu nấu lấy nước bỏ bã, nấu với gạo thành cháo. Ngày làm 1 lần, chia 2 lần ăn (sáng, chiều). Dùng tốt cho bệnh nhân bị hen phế quản (suyễn) thở có tiếng ngáy rít trong họng, đầy tức vùng ngực, ho đờm trắng loãng, sợ lạnh, sốt nóng, đau mỏi toàn thân.

Gà hầm hạnh nhân: gà mái ta 1 con (khoảng 1kg), hạnh nhân 45g. Gà  làm sạch, chặt bỏ đầu, cổ, ruột; hạnh nhân đảo trong nước sôi vài phút bóc bỏ vỏ ngoài. Gà và hạnh nhân đặt trong bát tô to; thêm dấm, muối, gừng, hành và chút nước. Đun cách thủy trong 2 giờ. Món này rất tốt cho bệnh nhân viêm khí phế quản mạn, lao phổi, táo bón.

Kiêng kỵ: Người bị tiêu chảy cấm uống. Không dùng quá liều (người lớn 12g, trẻ em 4g).

Theo Suckhoedoisong.vn

escort eskişehir escort samsun escort gebze escort sakarya escort edirne