Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Vào bếp

“Nước không chân sao kêu nước đứng/ Cá không thờ sao gọi cá linh”. Chưa đến miền Tây nhưng chỉ một lần nghe, câu ca dao man mác đậm chất Nam Bộ ấy đã nằm lòng. Vì thế, cá linh chính là món sản vật đầu tiên tôi muốn thưởng thức khi đến miền Tây mùa nước nổi.

Truyền thuyết kể lại, khi quân Nguyễn Ánh giao chiến với quân Tây Sơn, thuyền của Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi. Ngồi trên thuyền từ Vàm Nao (con sông phân chia giữa Long Xuyên và Châu Đốc) hướng ra biển, Nguyễn Ánh thấy loài cá nhỏ nhảy vào lòng thuyền. Ông cho là điềm gở nên quyết định không đi nữa, nhờ thế mới thoát khỏi phục binh của quân Tây Sơn tại Thủ Chiến Sai (thuộc An Giang) chờ bắt. Vì vậy, Nguyễn Ánh đặt tên cho loại cá này là “cá linh” để nhớ ân cứu mạng. Không biết câu chuyện này thực hư thế nào nhưng cá linh đúng là thứ lộc trời ban cho người dân vùng sông nước miền Tây. Hàng năm, đến mùa nước nổi, cá linh theo con nước từ Biển Hồ (Campuchia) lũ lượt chảy về cùng với nhiều sản vật phong phú khác.

theo-chan-ca-linh-an-mua-nuoc-noi-1

Cá linh chiên chấm mắm me.

Chúng tôi đến Đồng Tháp đúng mùa nước nổi. Bầu trời miền Tây với những đám mây màu cánh vạc sũng nước, những con kênh tràn bờ và vô số cầu tre lắt lẻo. Trong khung cảnh luênh loang nước như thế, một nồi lẩu được bưng ra cùng với cá linh và nhiều loại rau ăn kèm khác trong đó phần lớn là hoa: bông điên điển, bông súng, bông bí… Lẩu cá linh bông điên điển là món mà bạn tôi dặn nhất định phải thưởng thức. Rất khác với quan niệm lẩu đã được du nhập và hòa nhập ngoài Bắc, nghĩa là một thứ thập cẩm đủ loại, hương vị khá nồng đậm, lẩu cá linh của người miền Tây lại thanh cảnh đến mức… lãng mạn. Nói thế không ngoa, bởi món ăn mà hương sắc vàng rực, tím ngát, xanh mơn mởn. Một nồi nước dùng trong leo lẻo thơm nức bởi được chế từ nước dừa tươi, pha chút me chua dịu, mùi ngò gai thoang thoảng tinh tế. Con cá linh nhỏ xíu như ngón út của thiếu nữ, được chủ nhà giới thiệu là cá linh non (nghe vô cùng hấp dẫn) đã chà sơ qua cho bớt vảy ướp với tỏi bằm, tiêu, gia vị trước đó cho ngấm. Chờ nước dùng sôi, thả một muôi cá linh vào nồi. Cá linh trông hơi giống với cá chép con hoặc cá giói sông nhỏ ở ngoài Bắc nhưng mỏng hơn một chút. Trong cả thủy trình trôi dạt theo con nước tràn đến các kênh, rạch, sông lớn ở miền Tây, đầu tiên cá linh chỉ nhỏ bằng đầu đũa, rồi lớn hơn một chút bằng ngón tay, cuối cùng là cá linh to. Cá linh non béo, xương mềm được xem là ngon nhất. Khi cá lớn, xương vảy cứng hơn, người ta thường dùng làm mắm. Mắm cá linh cũng là một đặc sản của miền Tây. Lan man mấy câu thế này đã đủ để thời gian để muôi cá linh chín. Cá linh chỉ vừa chín tới mới giữ được độ ngọt. Để sôi lâu, cá sẽ bị nát. Bông điên điển có thể thả vào cùng với cá hoặc để trong bát rồi chan nước dùng cùng cá linh vừa chín vào. Loài hoa của trời này cũng là đặc trưng mùa nước nổi. Đi xuồng trên các kênh hay vào rừng quốc gia Tràm Chim, người ta thấy điên điển mềm mại phất phơ theo gió, từng chùm bông điên điển vàng rực như nắng tô điểm trong mênh mang nước trời. Đến giờ thì bạn đã tin là món lẩu cá linh là loại lẩu đem đến sự “ lãng mạn” cho thực khách chưa? Nó thanh tao bởi huyền thoại và lãng đãng bởi sắc hoa thả vàng như giọt nắng trong nồi lẩu nghi ngút hơi. Chưa hết, khi ăn vào miệng, vị beo béo, ngậy ngậy của cá linh chen với vị chan chát, chua chua ngọt hậu của bông điên điển, và giòn giòn của bông súng ma sẽ làm bạn thấy đất trời mênh mang như tan ra, cùng giao hòa.

Ăn cá linh một bữa không đã thèm, chủ nhà giới thiệu món cá linh chiên giòn. Cá linh chiên giòn có thể chọn cá lớn hơn, nhưng ngon nhất vẫn là loại to bằng ngón tay. Người ta có thể chiên cá với  bột chiên giòn hay kèm với bông điên điển. Món cá linh chiên giòn chế biến đơn giản không thể đơn giản hơn, vậy mà ăn vào thì nó ngon, ngọt, bùi, béo, vang vọng trong miệng trong tai và trong cả nỗi nhớ. Chẳng thế mà bữa đó, cá linh chiên được gọi thêm tới 2 lần. Chưa hết nhớ, bữa sau lại gọi tiếp món chiên… cá linh. Thực khách ăn tới bữa thứ hai rồi mà vẫn một mực bảo chủ quán: Lát nữa chiên cho chị 1-2 ký, chị đem về Hà Nội. Khổ, cái bụng đàn bà nó thế, ăn miếng gì ngon cũng muốn tha về cho chồng cho con không lại áy náy. Nhưng chủ quán lại bảo, mang về không ngon đâu chị! Có lẽ thế, phải ở trong khung cảnh mênh mang của miền Tây, dưới những đám mây màu cánh vạc, nghe hơi ẩm của con nước ướp vào trong gió nồng nồng, nhìn mưa lút thút bay ngang qua mái lá… lơ đãng gắp một con cá linh lên thả vào miệng, cái ngon, ngọt, bùi, béo, vang vọng ấy mới thực là “linh”.

Hơn nữa, để cá linh đúng thực là cá linh còn nhờ vào cách chế biến rất quê mùa, dân dã của người miền Tây. Không nhiều gia vị, không thêm thắt thức nọ kia, đôi khi chỉ ném nắm muối vào nồi hoặc vài thìa mắm biển ngon, đập 1 trái dừa lấy nước, đun sôi liu diu là trút nhẹ cá linh vào nồi, nước sôi nhẹ là cá chín, thả ít hành lá vào cuối cùng là xong nồi cá linh kho mẵn. Không cay, không mặn, không gia vị nồng đậm, nhờ thế thực khách mới cảm nhận chân xác vị ngon, ngọt, béo, bùi của con cá linh. Cách thưởng thức này, có lẽ chỉ có ở miền Tây dạt dào, phóng khoáng… Thôi, kể mãi rồi lại nhớ! Hẹn gặp lại nhé miền Tây mùa nước nổi!

Theo Suckhoedoisong.vn

Xương khớp là một phần rất quan trọng trong cơ thể chúng ta, nó cần được nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ và bổ sung đầy đủ dưỡng chất cần thiết.

Chế độ dinh dưỡng hàng ngày đóng một vai trò đặc biệt giúp xương khớp luôn chắc khỏe, dẻo dai và tránh được tình trạng thoái hóa khớp, viêm đa khớp… Chính vì vậy việc lựa chọn thực phẩm tốt cho xương khớp trong bữa ăn hàng ngày sẽ giúp bạn phòng tránh được những bệnh này…

Cho đến nay chưa có bằng chứng khoa học chứng minh loại thực phẩm nào có thể điều trị lành bệnh khớp hoặc gây ra bệnh khớp. Ngoại trừ, bệnh gout dễ bị tấn công nếu chế độ ăn chứa quá nhiều chất purin làm tăng lượng acid uric trong máu. Có một số loại thực phẩm có thể gây xuất hiện những đợt viêm khớp cấp trong bệnh viêm khớp dạng thấp và người bệnh cho chúng là nguyên nhân của bệnh nhưng sự thật với người bệnh khác các thực phẩm này lại không làm bệnh nặng lên. Thực tế chỉ có một chế độ ăn hợp lý mới mang lại lợi ích cho người bệnh, giúp người bệnh đủ khả năng chống lại những đợt bệnh đang tiến triển, đồng thời phòng một số bệnh mạn tính khác như: Đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu… góp phần làm nặng nề thêm cho bệnh xương khớp.

Thế nào là ăn uống hợp lý?

Đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cho cơ thể, để duy trì mức cân nặng hợp lý. Cân nặng cơ thể gọi là hợp lý khi BMI = 18,5 – 24.9 (chỉ số này được tính theo cân nặng tính bằng kg chia cho bình phương của chiều cao tính bằng mét). Nếu BMI dưới 18,5 là thiếu cân, lớn hơn hoặc bằng 25 là thừa cân, trên 30 là béo phì. Việc giữ cho cân nặng hợp lý là vô cùng quan trọng vì nếu thừa cân – béo phì dễ mắc bệnh thoái hóa khớp. Đặc biệt người bệnh thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gout hay gặp ở tuổi trung niên, có tình trạng thừa cân béo phì kèm theo làm tăng gánh nặng lên các khớp, gây đau đớn, hạn chế vận động có thể dẫn đến xẹp các đốt sống, mòn khớp, cứng khớp, biến dạng khớp.

Nếu thiếu cân, gầy quá dễ mắc bệnh loãng xương, viêm đa khớp dạng thấp. Sau những đợt viêm cấp sức khỏe bị ảnh hưởng nhiều, mất các chất dinh dưỡng, ăn uống kém do đau đớn, sốt, rất dễ bị suy dinh dưỡng, cơ thể giảm sức đề kháng càng làm bệnh nặng thêm…

an-gi-cho-xuong-chac-khoe-1Vitamin trong các loại rau củ giúp chống oxy hóa, giảm đau nhức.

Ăn uống hợp lý còn là ăn cân bằng các chất dinh dưỡng vì ăn quá nhiều chất đạm dễ mắc bệnh gout, ăn quá mặn dễ bị loãng xương do tăng cường đào thải canxi qua nước tiểu, ăn ít rau quả thiếu vitamin và khoáng chất là những chất chống oxy hóa làm cho xương khớp dễ bị tổn thương. Tóm lại, người bị bệnh xương khớp nên áp dụng chế độ ăn cân bằng các chất dinh dưỡng, chế độ ăn nên giàu vitamin và khoáng chất, lượng đạm động vật ở mức vừa phải. Nên ăn thực phẩm nguyên hạt, giàu đậu, đỗ, vitamin A, E, C chống oxy hóa… Một chế độ ăn tốt cho sức khỏe nói chung, trong đó có sức khỏe của xương khớp.

Các thực phẩm tốt cho bệnh xương khớp

Ngũ cốc và các loại hạt: Ý dĩ, khoai mài, đậu hũ, sữa đậu nành, hạt bí đỏ, hạnh nhân, quả óc chó…  có tác dụng bảo vệ đầu xương trước tác dụng xói mòn của độc chất trong ổ viêm. Gạo lứt, lúa mỳ, lúa mạch đen… chứa nhiều carbohydrate phức hợp, nhiều vitamin và khoáng chất mang lại nguồn năng lượng tuyệt vời cho người bệnh.

Rau củ, trái cây: Những loại rau củ màu vàng cam có tác dụng chống oxy hóa, có thể giúp phòng tránh được một số dạng viêm khớp, giúp giảm đau nhức khi mắc bệnh. Những thực phẩm này cũng hỗ trợ trị bệnh viêm đa khớp dạng thấp.

Các vitamin C, D, E và beta-caroten trong các loại rau, củ, quả, có tác dụng chống oxy hóa, có thể giúp phòng tránh được một số dạng viêm khớp, giúp giảm đau nhức khi mắc bệnh khớp, bảo vệ bao khớp và đầu xương. Vitamin C và D có khả năng cải thiện bệnh viêm xương khớp. Các thức ăn chứa vitamin E có tác dụng giảm đau, chống viêm. Vitamin C có tác dụng tăng tổng hợp collagen, một thành phần chính của sụn. Các loại rau củ giàu quercetin giàu chất chống oxy hoá, có tác dụng ức chế các hoá chất gây viêm nhiễm có trong hành ta, hành tây, tỏi, húng, mùi tây, cà rốt, rau thơm.

Hoa quả nên ăn như cam, xoài, dâu tây, đào, táo và quả anh đào đỏ. Cà chua cũng rất tốt nhờ hàm lượng lycopen và chất carotenoit chống oxy hóa. Cà chua được xem như loại thực phẩm xanh mang lại rất nhiều lợi ích cho cơ thể nói chung và sức khỏe nói riêng. Trong thành phần của cà chua có chứa lượng lớn vitamin giúp ngăn ngừa lão hóa và cung cấp collagen cho cơ thể. Đối với cơ xương khớp, cà chua có tác dụng bảo vệ, phòng chống lão hóa và giảm đau các khớp nhanh chóng. Một cốc nước ép cà chua chín mỗi ngày sẽ giúp bạn bảo vệ sụn.

Rau xanh và trái cây là nguồn cung cấp vitamin và chất xơ đáng kể cho cơ thể. Trong đó đu đủ, dứa, chanh, bưởi được xem là những loại trái cây cung cấp men kháng viêm và vitamin C, rất tốt cho người bị đau khớp. Một số loại cải như bắp cải, cải thìa, cải xanh, cải xoăn, rau bina, cải mầm… cũng rất tốt cho người bệnh xương khớp, viêm đa khớp, thoái hóa khớp. Trong các loại cải có chứa nhiều vitamin K giúp tăng mật độ xương và ngăn ngừa rạn xương.

Một số loại gia vị: Các loại gia vị có tính ấm, giúp chống phong, hàn, thấp, giảm đau, như gừng, tỏi, nghệ, hành tím, hành tây, ớt, quế, rau thơm các loại cũng rất có ích cho người bị đau nhức khớp, nhất là khi trời lạnh.

Thực phẩm giàu axit béo omega -3: Nên ăn các loại cá có chứa nhiều acid béo omega-3 (cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ, cá basa, cá bông lau, cá hú…), đậu nành, hạt lanh, dầu thực vật, dầu bí ngô đều tốt cho người bệnh thấp khớp. Omega-3 làm giảm quá trình sản xuất các loại hoá chất gây viêm nhiễm, xưng khuỷu khớp, ức chế các loại enzymnes làm tăng bệnh. Ngoài ra, cá béo còn chứa nhiều vitamin D, làm giảm tấy đỏ và giúp người bệnh dễ chịu hơn.

Dầu ôliu giàu hợp chất oleocanthal ngăn chặn các enzyme tham gia vào quá trình gây viêm nhiễm. Có thể ăn bằng cách cho vào sa lát, bơ, bánh mì…, mỗi ngày ăn một thìa cà phê.

Sữa và các loại thực phẩm chế biến từ sữa: Sữa luôn luôn là thực phẩm nên dùng trong cuộc sống hàng ngày vì chứa rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Trong sữa có chứa nhiều canxi – là thành phần cấu tạo nên xương – nên việc uống sữa đều đặn sẽ giúp chống loãng xương, giúp xương chắc khỏe. Đặc biệt tốt cho người bị thoái hóa đốt sống cổ và cột sống lưng. Tuy nhiên nên dùng loại sữa ít đường tách béo vì uống các loại sữa nguyên kem nhiều axit béo no gây tăng phản ứng viêm.

Các loại nấm: Nấm có tác dụng tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừa lão hóa và hạn chế nguy cơ mắc bệnh tim mạch, béo phì, đái tháo đường, ung thư, đặc biệt là tình trạng thoái hóa xương khớp. Chế biến các món ăn từ nấm kết hợp cùng một số loại rau củ khác như cà rốt, bông cải, ớt trong các bữa ăn sẽ giúp bổ sung các vitamin A, E, C, K… giúp  xương khớp dẻo dai.

Giá đỗ: Trong giá đỗ có chứa phyto-oestrogen (hormone oestrogen thực vật), đặc biệt là isoflavon giúp  phòng ngừa bệnh loãng xương ở phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh. Khi bị loãng xương xương mỏng đi nhanh chóng và nguy cơ gãy xương ngày càng tăng cao.

Trà xanh: Trà xanh luôn được biết đến như một thức uống chứa nhiều chất chống oxy hóa giúp giảm nguy cơ loãng xương vì trong thành phần có chứa một hàm lượng đáng kể chất flavonoid. Mỗi ngày nên uống 3 – 4 cốc nước chè xanh vì chè xanh rất giàu chất chống oxy hoá.

Ngoài ra, để giúp giảm đau, chống viêm, bảo vệ lớp sụn giữa các khớp xương, nên uống đủ nước trong ngày, khoảng 2 đến 2,5 lít nước mỗi ngày.

Những thực phẩm cần tránh

Thực phẩm giàu phốt-pho: Phủ tạng, thịt đã qua chế biến. Nếu lượng phốt-pho cao sẽ dẫn đến giảm canxi do ức chế hấp thu. Thịt đỏ cũng chứa nhiều a-xít uric không tốt cho bệnh nhân bị gout.

Các sản phẩm bơ, sữa nguyên kem cần giảm vì chúng chứa nhiều chất béo bão hòa làm tăng phản ứng viêm.

Nói không với đồ ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn, thức ăn chiên quá kỹ và nhiều dầu.

Giảm muối, đường và các đồ uống ngọt cũng nên tránh bởi chúng chứa rất nhiều đường và hàm lượng phốt-pho cao. Không nên ăn thực phẩm quá mặn. Cần hạn chế lượng muối ở mức dưới 6g/ngày và đường ở mức  dưới 20g/ngày.

Tránh dùng rượu, bia, thuốc lá và các chất kích thích thần kinh bởi các chất này thường gây co cứng cơ, giảm tác dụng của thuốc, gây bất lợi trong điều trị.

Theo Suckhoedoisong.vn

Vitamin là những hợp chất hữu cơ mà tế bào người và động vật không thể tự tổng hợp (trừ vitamin D). Chúng có mặt trong thức ăn với số lượng nhỏ, cấu trúc hoàn toàn khác với glucid, protid và lipid nhưng lại rất cần thiết cho một số phản ứng chuyển hóa giúp duy trì sự phát triển và sự sống bình thường của cơ thể. Khi bị thiếu hụt vitamin sẽ gây nên bệnh lý đặc hiệu.

Có mấy loại vitamin?

Dựa vào tính chất hòa tan trong nước hay dầu mà các vitamin được xếp thành 2 nhóm: vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E, K…) và vitamin tan trong nước (vitamin nhóm B như B1, B2, B3, B5, B6, B8, B9, B12 và vitamin C).

Tuỳ theo giới và giai đoạn phát triển của cơ thể, nhu cầu vitamin rất khác nhau. Vì thế việc lựa chọn thuốc bổ sung vitamin không đơn giản. Sự thiếu hụt vitamin do nhiều nguyên nhân và đồng thời có thể thiếu nhiều loại vitamin cùng một lúc. Do vậy, trong điều trị cần phải tìm nguyên nhân và phối hợp nhiều loại vitamin khác nhau.

Bổ sung vitamin cho trẻ cần theo đúng hướng dẫn, chỉ định của bác sĩ.

Do cơ thể không thể tự tổng hợp được vitamin (ngoại trừ khi tắm, phơi nắng thích hợp để biến tiền vitamin D thành vitamin D), nên ta phải ăn uống đầy đủ và cân bằng dưỡng chất để được cung cấp đủ vitamin hàng ngày.

Trẻ nào cần bổ sung vitamin?

Nếu hàng ngày ta cho trẻ ăn uống với chế độ dinh dưỡng cân bằng, đầy đủ thì không sợ thiếu vitamin. Ðặc biệt, nên tăng cường rau củ, trái cây các loại cho bữa ăn vì đây là nguồn vitamin thiên nhiên tốt nhất. Đối với trẻ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn, đương nhiên phải được bổ sung vitamin; hoặc trẻ sau giai đoạn bị bệnh (nhiễm khuẩn, ho hen, tiêu chảy…) thì việc uống thêm vitamin là cần thiết.

Vậy đối với trẻ bình thường có nên bổ sung vitamin? Về mặt lý thuyết, nếu trẻ ăn uống cân bằng, hợp lý, đầy đủ và tình trạng bình thường (tức không có dấu hiệu suy dinh dưỡng) thì không cần bổ sung vitamin. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin. Bởi vì các vitamin vốn có trong thực phẩm sẽ bị mất đi hay giảm trầm trọng trong một bữa ăn đầy đủ nhưng chất lượng thực phẩm không đảm bảo (rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C), hoặc bảo quản chế biến thực phẩm không tốt (gạo càng trắng càng có ít vitamin B1, thức ăn nấu quá kỹ vitamin C sẽ không còn…). Vì vậy nhiều khi bác sĩ vẫn khuyên cho những trẻ xem ra khỏe mạnh uống bổ sung vitamin. Còn với trẻ béo phì, bác sĩ thường khuyên nên ăn chế độ ít chất béo và cần thiết phải bổ sung các vitamin, vì chế độ ăn ít chất béo không giúp hấp thu đủ lượng vitamin tan trong dầu là vitamin A, D, E, K.

Cần lưu ý, việc sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm. Trong các loại vitamin, vitamin A và D không được dùng thừa, dùng quá liều vì sẽ tích lũy lại trong cơ thể và có thể gây ngộ độc. Nếu dùng loại vitamin đa sinh tố (multivitamin) ngày uống 1 viên thì không được chứa quá 5.000 đơn vị quốc tế (IU) vitamin A và không quá 400 IU vitamin D. Nếu dùng loại dung dịch uống, phải lấy số giọt hoặc thể tích (số ml) theo đúng bản hướng dẫn sử dụng thuốc. Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu. Không nên dùng vitamin C liều quá cao (hơn 1g/ngày) vì có thể gây tiêu chảy, loét đường tiêu hóa, sỏi thận khi dùng dài ngày.

Theo Suckhoedoisong.vn

Món dưa muối thường ít chú ý trong bữa ăn gia đình, thật tiếc nếu ta không hiểu được giá trị đích thực của nó.

Các món dưa muối trong ẩm thực dân gian được chế biến theo quy kinh: chua, cay, mặn, đắng kết hợp vị ngọt nhạt của tương, cơm canh hay củ quả khác làm tăng tiết nước bọt; dưa muối thường nhai ròn sần sật, màu sắc và hương thơm quyến rũ mắt (can), lưỡi (tâm), miệng (tỳ), mũi (phế) và tai (thận) làm tăng hương vị và tăng chất lượng của bữa ăn – nguồn cung cấp năng lượng chính cho sự sống. Món dưa muối thường ít chú ý trong bữa ăn gia đình, thật tiếc nếu ta hiểu được giá trị đích thực của nó.

Dưa cải muối

Kỹ thuật muối dưa cải:

Lá cảI 10 kg, phèn chua 50 – 100g, muối ăn 600 – 700g. Chọn lá cải hơi già và bánh tẻ (cây sắp có ngồng – sắp ra hoa và chưa có xơ) rửa sạch, phơi cho héo, dội qua bằng nước sôi, cho vào hũ. Đậy vỉ (tre) lên để rau không nổi trên mặt nước muối. Hòa tan muối và phèn trong nước nóng (khoảng 3 – 5 lít), lọc, để nguội, đổ vào hũ (âu, vại) có rau. Nước muối phải ngập trên vỉ. Đậy hũ kín. Sau vài ngày, rau cải chuyển sang màu cỏ úa, nước chua là được dưa chua. Để hạn chế dưa chua quá, có thể vớt dưa cho vào hộp nhựa hay liễm, cho vào tủ lạnh để dùng dần.

 

gia-tri-dich-thuc-cua-cac-mon-dua-muoi-1

 

Khi muối dưa, ở môi trường thiếu oxy và nồng độ muối khoảng ≥ 4% là điều kiện thuận lợi cho khuẩn lactobacilii phát triển. Trong nước dưa chua có acid lactic và men lactic có tác dụng tích cực ức chế men thối rữa có hại trong đường ruột, có thể dùng nước dưa trong bữa ăn; nhưng phải đảm bảo vệ sinh và muối dưa đúng kỹ thuật.

Dưa khú: Do rau rửa không sạch, rau không ngập trong nước muối và nồng độ muối thấp. Vì vậy rau cần rửa sạch, phơi cho héo để rau hút nước muối và không làm giảm nồng độ muối; luôn luôn dìm rau trong nước muối. Ăn dưa khú dễ bị đau bụng, muốn ăn dưa khú phải nấu chín. Điều kỳ lạ là nấu dưa khú với cá nước ngọt, loại cá càng tanh (cá mại, đòng đong, cá thiểu, cá mè, cá trê…) thì canh dưa cá càng ngon, nên có câu: “Chồng chê thì mặc chồng chê. Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ”.

Cách muối dưa trên, dân gian gọi là muối sổi. Cách muối thường thấy của người dân miền Bắc trong mùa đông gần Tết âm lịch: Rau rửa sạch, phơi héo, xếp 1 lượt lá, rắc một lượt muối biển lên… cuối cùng đặt vỉ có đè vật nặng (hòn đá, cục đất nung), đổ nước muối ngập rau và đậy kín. Cách làm này làm cho dưa muối mặn hơn; nhưng dưa muối ăn với thịt đông hay thịt mỡ thì ngon tuyệt, là món ăn đặc sản trong những ngày tết âm lịch.

Cải bắp muối: Cách làm cũng như trên, nhưng dưa cải bắp thường muối sổi. Rửa sạch lá già hay bánh tẻ, thái phiến, phơi cho héo. Cho nước có muối như dưa cải canh. Dưa cải bắp muối thường dùng trong 3 – 5 ngày giống món Kim chi truyền thống. Dưa cải bắp muối có giá trị như dưa cải thảo muối hay món kim chi.

Dưa chuột muối: Chọn quả dưa non (dưa nụ, ít ruột, không có hạt và 1 phần hoa còn dính dưới quả). Rửa sach dưa, ngâm trong nước sôi 3 – 5 phút, lấy ra, ngâm vào giấm có pha 1% phèn chua; hoặc sau khi ngâm trong nước sôi, lấy ra, ngâm trong nước muối 5 – 7% có pha phèn chua đến khi dưa chua, tháo bỏ nước muối và thay bằng nước sạch vài lần để giảm bớt lượng muối. Sau đó ngâm lại trong giấm 2%. Để khoảng 1 tuần là ăn được. Dưa chuột có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu tiện và tiêu phù. Dưa chuột ngâm giấm còn có tác chữa phù thũng.

Cà muối:

Cà muối sổi: Cà pháo 5 kg, muối 250g, tỏi 3 – 5 củ. Cà cắt bỏ núm (phần lá đài và cuống quả), rửa sạch; tỏi bóc bỏ vỏ cứng, giã nát. Cho cà, muối và tỏi giã vào hũ (âu, vại), đảo đều, đậy kín, để 4 – 6 giờ. Đặt vỉ có đè vật nặng lên trên, đổ nước sạch ngập vỉ. Để 3 – 5 ngày là ăn được.

Cà muối mặn: Dùng cà bát, cắt bỏ núm, rửa sạch, phơi héo, cho vào vại; cứ mỗi lượt cà rải lượt muối, lượng muối sử dụng khoảng 15 – 25 %. Đặt vỉ, đổ nước sạch gần ngập vỉ và đổ lên trên phần muối còn lại, đặt lên trên một vật nặng. Sau 15 ngày -1 tháng mới dùng được. Cà muối theo cách này thường mặn chát nên trước khi ăn phải ngâm trong nước rất lâu mới bớt mặn.

Cà có vị ngọt, tính hàn; có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, tiêu thũng, trừ ôn dịch, hoạt huyết, tiêu viêm chỉ thống; là tác nhân kích thích chuyển hóa cholesterol ở gan. Cà có chất solanin, một alcaloid độc, có nhiều khi quả còn non xanh, do đó không ăn nhiều cà sống. Cà chọn để muối thường quả già nên lượng chất solanin giảm; hơn nữa khi muối, lượng acid lactic tăng trong quá trình lên men kết hợp chất kiềm – solanin thành muối làm giảm độc. Mâm cơm gia đình thường có món canh (luộc, sào), món mặn (thịt hay cá), nước chấm và món dưa muối; nên món cà muối trong mâm cơm chỉ là món kích thích tăng nước bọt, tăng hương vị trong bữa ăn.

Cà muối chấm tương là món ăn khoái khẩu. Tương được chế biến từ đậu nành với ngũ cốc qua quá trình đồ chín lên men; chế tác với nhiều công đoạn. Ở nước ta, tương Bần Hưng Yên, tương Nam Đàn đã có truyền thống lâu đời. Tương giàu chất dinh dưỡng, hương vị thơm ngon, dễ tiêu, có tác dụng giảI độc, vừa làm phụ liệu gia vị để chế biến nấu ăn nên kết hợp với cà muối có tác dụng tiêu thực, bổ tỳ vị và giải độc.

Hành muối, củ kiệu muối: Hai món này ăn với thịt mỡ làm tăng hương vị và đỡ ngán mỡ. Hành, tỏi kiệu có mùi thơm, vị cay, tính ấm, không độc, có tác dụng phát tán giải cảm, ôn trung, thông dương, hoạt huyết, giải được chứng uất do bên ngoài gây nên. Khi lên men làm mất vị cay, loại bỏ tính phát tán mà giữ lại tính tiêu thực, ôn trung, giải uất; sau chế biến có thể đáp ứng nhu cầu ăn thịt mỡ.

gia-tri-dich-thuc-cua-cac-mon-dua-muoi-2

Củ tỏi muối: Tỏi vị cay, tính ôn, hơi có độc; vào kinh phế, can, vị. Tác dụng giảI độc, thông khiếu, tiêu đờm, tiêu nhọt, trị đầy trướng trùng tích, tả, lỵ, bí đại tiện và hạ huyết áp. Tỏi tươi có allin, khi đập dập, men allinase chuyển allin thành allixin có vị cay, mùi khó chịu. Trong quá trình muối chua, vị cay mất đi làm giảm tính thăng (đi lên) và phát tán nên chủ yếu tác dụng vào kinh can vị.

Nhút: Nhút được chế biến từ quả mít xanh (loại mít bở, hạt trong các múi chưa có vỏ cứng dai). Gọt bỏ lớp vỏ có gai, tháI thành sợi từ ngoài vào trong sao cho xơ, múi đều được xắt thành sợi dài. Ngâm nước gạo cho hết nhựa và làm sợi trắng, để ráo (có thể phơi cho héo), trộn muối để làm sợi mít mềm, thêm ớt, gừng và vài khúc mía nhỏ; cho vào hũ (âu, vại), thêm ít nước; dùng phên tre ép trên và có viên gạch hay cục đá sạch nén để cho nhút không nổi trên mặt nước dễ thâm đen. Đậy kín, sau 5 – 7 ngày là ăn được. Nhút chấm tương Nam Đàn là đặc sản xứ Nghệ. Nhút còn được nộm với thịt ba chỉ, thịt thủ, thịt thăn, ăn với bánh đa vừng, lạc rang hoặc nấu cá chua.

gia-tri-dich-thuc-cua-cac-mon-dua-muoi-3

 

Kim chi: Kim chi có nguồn gốc từ Triều Tiên. Kim chi truyền thống được chế biến đơn giản từ cải thảo (cải bẹ trắng) với muối, ớt, gừng tỏi; đặc biệt nhiều ớt nên rất cay. Có thể dùng củ cải, bắp cải, dưa chuột… làm món này. Món ăn có thể sử dụng từ 1 – 5 ngày sau khi chế biến, không để lâu được. Để giảm bớt cay, sau này người ta pha trộn với rau củ quả khác để có chua, ngọt, mặn với màu trắng đỏ (tỏi, ớt, hành, gừng, muối đường…). Kim chi cải tiến có mùi vị khác hẳn kim chi truyền thống, nhưng lại hợp với khẩu vị người Việt Nam. Kim chi nghĩa gốc là rau củ ngâm (chua và mặn), trong khi ngâm, men lactobacilii hoạt hóa làm lượng acid lactic trong sản phẩm tăng; bên cạnh đó còn có các men vi khuẩn có ích. Sự lên men trên rau cải bẹ trắng, rau cải, dưa chuột cùng nhiều ót, tỏi, rau thơm đều có lợi cho sức khỏe.

Theo Suckhoedoisong.vn

Theo y học cổ truyền, viêm khớp dạng thấp (VKDT) thuộc bệnh chứng cơ khớp, có nhiều nguyên nhân, phần nhiều do “nội nhân” khí huyết, gân xương bị suy yếu, “ngoại nhân” do nhiễm phong, hàn, thấp, nhiệt gây huyết dịch ứ đọng gây đau tại khớp. Bệnh này ăn uống bổ dưỡng phù hợp rất cần thiết. Sau đây là một số món ăn bài thuốc phòng trị bệnh.

Nếu gặp lạnh đau tăng, chân tay không ấm do phong hàn. Tốt nhất nên ăn vị có tác dụng bổ huyết kiện tỳ trừ hàn thấp như:

Cá rô kho lá lốt: Cá rô 2 -3 con 100g, lá lốt 20g, thêm gia vị nghệ, tương mắm kho nhừ ăn.

duoc-thien-phong-tri-viem-khop-dang-thap-1

Canh bí đuôi heo: Bí đỏ 150g, đuôi heo 1 cái 100g làm sạch chặt khúc, đậu phộng 20g nấu nhừ ăn.

Cà-ri dê: Thịt dê thui 100g, khoai lang 100g, hành tây 50g, gia vị sả, ớt, bột cà- ri vừa đủ nấu ăn. Ngoài ra nên ăn: cà rốt, bí đỏ, đinh lăng, gừng, hành, hẹ, kiệu, nghệ, tỏi; thịt, cá; sụn, móng, gân, xương động vật như: lợn, dê, chó, tắc kè, cá ngựa, trăn, rắn, ếch đều tốt.

Nếu khớp có sưng nóng đỏ đau, người nóng do phong nhiệt. Nên chọn món ăn ích can thận giải phong nhiệt như sau:

Đu đủ hầm xương: Đủ đủ ương 100g, xương heo 100g, gia vị vừa đủ hầm ăn.

Lươn nấu cháo đậu xanh: Lươn 1-2 con 100g làm sạch, đậu xanh 50g, gạo nếp 20g, cho nhiều rau mùi hành hoa ăn.

Giò heo tiềm thuốc: Sinh địa 20g, đương quy, xuyên khung 14g, xích thược 14g, ngưu tất 14g, đào nhân 12g, thương truật 12g, hoàng bá, trạch tả mỗi vị 12g tiềm  ăn hoặc sắc uống. Ngoài ra nên ăn: atisô, rau má, giá đậu, khổ qua, rau đắng, rau diếp, đu đủ, khoai lang, quả bơ, dâu, nho, táo… Thịt, cá, lươn, trạch, cá rô, cá lóc, tôm, cua, cá nhỏ đều tốt.

Nếu đau các khớp phần dưới cơ thể đau cố định một chỗ do thấp tý. Nên chọn món ăn ôn bổ can thận kiện tỳ trừ thấp như:

Cháo chân dê: Chân dê 1 bộ làm sạch 100g, gạo mới 100g, đậu xanh gia vị vừa đủ nấu ăn.

Lươn om sả ớt: Lươn 1-2 con làm sạch 100g, sả 10g, lá lốt 20g, hành tây 20g, ớt ngọt 20g thêm gia vị lạc rang hành hoa dầu mè xào ăn.

Đuôi bò hầm thuốc: Đuôi bò 1 cái 100g làm sạch chặt khúc, đương quy, xuyên khung, đảng sâm, đỗ trọng, gừng tươi, ngưu tất, ý dĩ mỗi vị 20g gia vị vừa đủ tiềm ăn.

Đậu đen ngâm rượu: Đậu đen 300g sao vàng, tam thất 100g giã nhỏ, nhân sâm 100g các vị ngâm 2 lít rượu ngon 1 tháng dùng, ngày uống 3 lần/ly nhỏ. Ngoài ra nên ăn lá lốt, ngải cứu, các loại rau gia vị có vị thơm cay ấm như tỏi, ớt, mùi tàu, kinh giới, các loại rau thơm khác đều tốt.

Trên đây là một số món ăn dược thiện phòng trị viêm khớp dạng thấp, dễ chế biến sử dụng hầu như không có tác dụng phụ. Tuy nhiên nếu người lạnh thiên về hàn, kiêng thức ăn lạnh như cà, cam, măng, nước dừa… Người nóng thiên về nhiệt kiêng thức ăn cay nóng, tiêu ớt gia vị cay nóng qúa…

Theo Suckhoedoisong.vn

Đậu bắp có tên mướp tây, bắp chà…, được trồng nhiều ở miền Nam. Đậu bắp thuộc họ bông Malvaceace. Quả  đậu bắp non làm rau ăn, được chế biến đa dạng như xào, luộc, hấp chấm mắm, nấu canh chua với cá, lươn, ăn ngon làm dậy mùi thịt cá. Các bộ phận khác của cây dùng làm thuốc chữa bệnh hiệu quả.

Theo dược tính hiện đại, quả đậu bắp có chứa nhiều pectin, chất nhầy, protein, chất béo, chất xơ, Ca, P, Fe, Mg, K, Na và các loại vitamin đều là dưỡng chất có lợi cho nhiều lứa tuổi, sức khỏe. Đậu bắp chứa nhiều chất xơ thực vật là chất rất có lợi cho những người mập mỡ máu cao, táo bón, viêm ruột kết, đậu bắp vị thuốc quý cho người mập phì thừa chất.

dau-bap-mon-ngon-thuoc-quy-1

Đậu bắp là thức ăn quen thuộc, toàn cây đậu bắp đều có tác dụng trị bệnh.

Theo y học dân gian, đậu bắp có vị ngọt, tính mát, không độc. Chữa chứng tiêu khát, trĩ, táo bón, miệng khô khát, viêm họng, viêm tiết niệu. Xin giới thiệu một số món ăn vị thuốc từ đậu bắp:

Chữa đái tháo đường: đậu bắp non hấp cơm hoặc luộc chấm mắm thường xuyên.

Chữa phong thấp nhức mỏi: hái cả cây già phơi khô sắc uống.

Chữa chứng tiểu đục: cây tươi đậu bắp 100-150g sắc nước uống thường xuyên.

Chữa táo bón: đậu bắp thái lát phối hợp rau đay nấu canh cua ăn thường xuyên.

Chữa chứng ra mồ hôi: hạt đậu bắp già sao vàng sắc nước uống.

Chữa gút (thống phong): quả đậu bắp 200-300g luộc ăn thường xuyên.

Hạt đậu bắp già khô có thể ép lấy dầu ăn, bã làm thức ăn gia súc.

Đậu bắp không chỉ là một loại rau thường được người dân dùng luộc, xào, nướng, nấu canh chua ăn ngon mát mà còn được nhiều người dân dùng điều trị táo bón, tiểu đường, bệnh gút, thống phong, viêm tiết niệu rất hiệu quả.

Theo Suckhoedoisong.vn

Mít không chỉ hấp dẫn với rất nhiều người bởi hương thơm đặc biệt và vị ngọt của nó mà bên cạnh đó, mít còn chứa nhiều thành phần dinh dưỡng tốt cho sức khỏe.

Mít có tên khoa học là Artocarpus heterophyllus, là một loài cây họ dâu và cùng ngành với cây xa kê (Moraceae).

Mít có nguồn gốc và phát triển mạnh ở các nước Nam và  Đông Nam Á, đặc biệt là ở các khu rừng nhiệt đới phía tây nam của Ấn Độ, ven biển Karnataka và Maharashtra và Indonesia. Cây mít rất phù hợp với vùng khí hậu nhiệt đới và quả của nó thuộc loại trái cây lớn nhất, có thể đạt tới 35 kg trọng lượng, 90cm chiều dài và 50cm  đường kính.

Dưới đây là những thông tin về dinh dưỡng có trong quả mít bạn cần biết.

1. Mít có hàm lượng calo cao

100g thịt của quả mít cung cấp 95 calo. Thịt mít chín  có mùi thơm đặc trưng và dễ tiêu hóa nhờ có đường đơn như fructose và sucrose – loại đường mà khi chúng ta ăn sẽ làm tăng dự trữ năng lượng và tiếp thêm sinh khí trực tiếp cho cơ thể.

7-loi-ich-bat-ngo-cua-mon-mit-khoai-khau-ban-thuong-hay-an-1
Cây mít

2. Chứa nhiều chất xơ

Mít rất giàu chất xơ, vì vậy nó giống như là một liều thuốc nhuận tràng tốt cho tiêu hóa. Các chất xơ sẽ giúp bảo vệ màng nhầy của ruột bằng cách giảm thời gian tiếp xúc cũng như sự gắn kết của các hóa chất gây ung thư trong ruột kết.

3. Chứa vitamin A

Thịt mít tươi có chứa vitamin A và các sắc tố flavonoid như carotene-Ay, xanthin, lutein và cryptoxanthin-Ay. Khi kết hợp cùng với nhau, hợp chất này hoạt động để duy trì tính toàn vẹn của màng nhầy và da. Khi ăn các loại trái cây tự nhiên giàu vitamin A và carotene theo các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng hoàn toàn có thể bảo vệ phổi và phòng ngừa ung thư khoang miệng.

7-loi-ich-bat-ngo-cua-mon-mit-khoai-khau-ban-thuong-hay-an-2

Múi mít

4. Chống oxy hóa cao hơn nhờ có chứa vitamin C

Ngoài ra, mít là một nguồn cung cấp tốt của vitamin C giúp chống oxy hóa. Mít cung cấp khoảng 13,7 mg hoặc 23% RDA. Tiêu thụ thực phẩm giàu vitamin C giúp cơ thể miễn dịch với nhiễm trùng và các gốc tự do có hại.

5. Một nguồn giàu các vitamin B

Mít là một trong các loại trái cây hiếm rất giàu vitamin nhóm B. Số vitamin nhóm B bao gồm B6 (pyridoxine), niacin, riboflavin và acid folic.

6. Là nguồn cung cấp dồi dào các khoáng chất cần thiết

Mít tươi là một nguồn cung cấp dồi dào kali, magiê, mangan và sắt. Kali là một thành phần quan trọng của tế bào và chất dịch cơ thể, giúp kiểm soát nhịp tim và huyết áp.

7-loi-ich-bat-ngo-cua-mon-mit-khoai-khau-ban-thuong-hay-an-3

Ngoài kiểu ăn trực tiếp, mít còn được chế biến thành nhiều món hấp dẫn

7. Hạt Mít rất giàu protein

Hạt mít còn rất giàu protein và bổ dưỡng. Người ta có thể nướng, luộc hoặc sấy khô hạt mít và bảo quản để ăn dần vào mùa mưa tại các bang miền nam Ấn Độ. Hạt mít có thể nấu cùng các món ăn hỗn hợp với cá ngừ cũng rất ngon và bổ dưỡng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Bí đao là rau quả rất quen thuộc, ăn bổ mát, thích hợp nhiều người, đồng thời là vị thuốc quý cho người tâm, phế, nội nhiệt.

Bí đao là rau quả rất quen thuộc, ăn bổ mát, thích hợp nhiều người, đồng thời là vị thuốc quý cho người tâm, phế, nội nhiệt. Theo sách Tuệ Tĩnh: “Ðông qua là bí đao, vị ngọt, tính hơi hàn, không độc, tác dụng giải khát, mát tim trừ phiền nhiệt, trừ mụn, giảm sưng, thông tiểu tiện”.

Bí đao chứa protid, glucid, canxi, photpho, sắt, caroten; vitamin B1, B2, B3, C… Ăn bí đao trị chứng tâm nhiệt, phiền khát, ho khan viêm họng, táo bón, mụn nhọt, rôm sẩy, da khô sần, nám, trẻ em người già nóng nhiệt dùng rất tốt. Sau đây là 10 món ăn thuốc quý từ bí đao:

Bí đao nấu móng giò: bí đao, móng giò lợn,  hành, ngò, gia vị vừa đủ, hầm ăn. Công dụng: trị chứng huyết hư phong ngứa, da khô nhăn, vết sẹo, tàn nhang, mụn nhọt lâu lành.10-mon-canh-tot-cho-suc-khoe-tu-bi-dao-1

Bí đao nấu canh ngao trị đại tiện táo, tiểu tiện buốt gắt, miệng khô khát, ngoài da khô sần, ngứa.

Canh bí đao sườn heo: bí đao, sườn heo non, hành, ngò, gia vị vừa đủ, hầm ăn. Công dụng: trị trẻ em, người lớn gầy gò khó lên cân, người nội nhiệt táo bón, tiểu vàng buốt gắt.

Canh bí đao chân gà: bí đao, chân gà, hành, rau ngò gia vị vừa đủ nấu canh ăn tuần vài lần. Công dụng: trị chứng chân phù, da khô sần, nám mặt, tê nhức mỏi tay chân, vị nhiệt xuất huyết dạ dày, tiêu hóa.

Bí đao nấu với tim heo: bí đao, tim heo, hành, rau ngò gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: trị chứng âm hư, hỏa bốc lên sinh ra hư phiền mất ngủ, mộng tinh, ra mồ hôi trộm, miệng lưỡi lở, tim hồi hộp, hay quên, trẻ em kinh giản.

Bí đao nấu canh ngao: bí đao, thịt ngao, hành, rau ngò, gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: trị đại tiện táo, tiểu tiện buốt gắt, miệng khô khát, ngoài da khô sần, ngứa.10-mon-canh-tot-cho-suc-khoe-tu-bi-dao-2

Canh bí đao thịt vịt trị suy nhược, đại tiểu tiện không thông, mồ hôi trộm, di tinh, miệng khô, khát.

Canh bí đao cá thát lát: bí đao, cá thát lát tẩm gia vị băm nhỏ làm viên, hành, ngò gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: trị chứng ho đàm, tức ngực, mụn nhọt, ăn kém, đau đầu chóng mặt, đại tiện táo, tiểu tiện bí, trẻ em người lớn hư nhược.

Bí đao nấu canh cùng thịt vịt: bí đao, thịt vịt, hành, ngò gia vị vừa đủ nấu canh. Công dụng: trị suy nhược, đại tiểu tiện không thông, mồ hôi trộm, di tinh, miệng khô, khát, con gái ít kinh nguyệt.

Canh bí đao tôm tươi: bí đao, tôm tươi lột vỏ, hành, ngò gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: trị chứng tỳ hư ăn kém, mệt mỏi, thận yếu đau lưng tiểu bí, huyết hư da khô nám dùng đều tốt.

Bí đao nấu canh cua: bí đao thái sợi, cua làm sạch giã lọc lấy thịt, hành, ngò gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: trị chứng tâm phế nhiệt, nóng bứt rứt khó ngủ, ho khan tức ngực, trẻ gầy ăn kém chậm lớn, có tuổi khó lên cân, táo bón, bí tiểu tiện, huyết hư nhiệt da khô sần ngứa.10-mon-canh-tot-cho-suc-khoe-tu-bi-dao-3

Canh bí đao nấu móng giò trị chứng huyết hư phong ngứa, da khô nhăn, vết sẹo, tàn nhang, mụn nhọt lâu lành.

Canh bí đao nấu con dông: bí đao, thịt con dông cát,  hành, ngò gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: trị chứng tỳ phế khí yếu ăn kém, ho suyễn, trẻ em gầy còm, thận yếu, đau lưng, nhức xương khớp, sinh lý yếu và các chứng khí huyết hư.

Kiêng kỵ: Bí đao tính hơi hàn, không dùng cho những người tâm dương hư, khi gặp lạnh tâm hồi hộp không yên, chứng phế hàn ho đàm nhiều, chứng tì vị hư hàn, đau bụng tiêu chảy, nôn mửa, chứng dương khí hư tay chân lạnh không nên dùng hoặc thêm gia vị cay ấm như gừng, hành, tiêu.

Theo Suckhoedoisong.vn

Tất cả mọi bộ phận của sen: hoa, lá, rễ đều có công dụng chữa bệnh. Củ sen bổ máu, chữa chảy máu dạ dày, thông huyết mạch, phòng ung thư và giảm cân.

15-cong-dung-tuyet-voi-cua-cu-sen-voi-suc-khoe-1Củ sen (rễ sen) là vị thuốc hạ huyết áp, trị chảy máu dạ dày và nhiều căn bệnh khác

Bạn đã bao giờ từng nghe về tên gọi Nelumbo Nucifera hay chưa? Đó chính là tên gọi khoa học của hoa sen. Loài hoa đẹp này không chỉ là quốc hoa của Ấn Độ mà còn của Việt Nam nữa. Hoa sen mang dấu ấn về mặt văn hóa và tín ngưỡng ở nhiều nền văn minh châu Á.

Nelumbo nucifera có chứa chất làm se da, se khít lỗ chân lông, làm mềm da. Hoa sen còn giúp làm lợi tiểu, chống nấm, kháng khuẩn, hạ sốt, bổ tim, chống ung thư, diệt giun sán, chống béo phì. Sau đây là một số công dụng đối với sức khỏe của loài hoa thiêng này. Và bạn còn có thể khám phá nhiều công dụng của củ sen nữa.

15-cong-dung-tuyet-voi-cua-cu-sen-voi-suc-khoe-2

Hoa sen là biểu tượng hòa bình và thanh khiết, có công dụng tĩnh tâm, giảm đau đầu, hạ hỏa

1. Hoa sen trong y học cổ truyền ayurvedic

Tất cả mọi bộ phận của sen đều được sử dụng trong y học cổ truyền của người Ấn Độ. Hạt sen và rễ sen được sử dụng trong y học chữa bệnh ayurvedic của người Ấn Độ. Hạt sen và củ sen có công dụng lớn trong việc điều trị nhiều loại bệnh.

Giá trị dinh dưỡng trong củ sen
Trong 100 gram củ sen chứa:
– Calories: 74 cal
– Chất xơ: 13%
– Không chứa cholesterol
– Vitamin C: 73%
– Giàu hàm lượng đồng và sắt
– Hàm lượng chất béo thấp
– Chứa hỗn hợp vitamin B
– Giàu chất khoáng và protein

2. Chữa bệnh rối loạn chảy máu

Lá sen thường được sử dụng để điều trị bệnh ra mồ hôi quá nhiều, sốt, rối loạn chảy máu, chảy máu mũi và đi tiểu ra máu.

Củ sen thường được dùng để điều trị các bệnh ngoài da như nhiễm nấm và bệnh nấm ngoài da, ghẻ, sài, thủy đậu, bệnh phong, chứng nôn mửa, tiêu chảy, ho, kiết lỵ,….3. Điều trị nhiễm nấm

4. Giảm sưng da

Bệnh sa trực tràng có thể điều trị bằng lá sen non. Hỗn hợp lá nghiền nhỏ giảm sưng da và hạ sốt.

5. Hỗ trợ tuổi thọ sinh sản

Tinh chất nelumbo nucifera trong sen làm tăng khả năng sinh sản của cả nam và nữ.

6. Giảm lượng cholesterol

Sen giúp giảm cholesterol, hạ huyết áp

7. Giảm nguy cơ thiếu máu

Củ sen giàu sắt và đồng, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo tế bào hồng cầu, giảm nguy cơ mắc bệnh thiếu máu và tăng lưu lượng máu (thông huyết). Do đó, củ sen lưu thông mạch máu và tăng oxy cho các cơ quan phủ tạng. Nó cũng thúc đẩy các chức năng lục phủ ngũ tạng, tăng khí huyết và sức sống cho các cơ quan của cơ thể.

 

15-cong-dung-tuyet-voi-cua-cu-sen-voi-suc-khoe-3

Sen không chỉ là biểu tượng của cái đẹp mà còn là vị thuốc chữa bệnh trong y học cổ truyền phương Đông. (Ảnh minh họa: Thúy Quỳnh)

8. Giàu kali

Củ sen giàu kali, một chất giãn mạch. Nó có thể giúp mạch máu được lưu thông, thư giãn, giảm tắc nghẽn mạch. Nó cũng làm chậm lại áp lực lên hệ thống tim mạch. Kali giúp cân bằng dòng chảy mạch máu và giảm quá tải natri trong mạch máu của bạn.

9. Nhu ruột

Củ sen chứa một lượng chất xơ khá lớn. Nó giúp ruột rất tốt, nghĩa là làm cho ruột hoạt động mềm mại, uyển chuyển hơn. Nó có khả năng chữa táo bón và cho phép ruột non hấp thụ dưỡng chất qua hệ thống tiêu hóa và bài tiết. Nó kích thích nhu động cơ mềm của ruột non để đảm bảo ruột co bóp dễ dàng hơn, nhờ vậy mà ngăn ngừa bệnh trĩ.

10. Giàu vitamin C

Một trong những loại vitamin mà củ sen chứa nhiều nhất chính là vitamin C. 73% nhu cầu vitamin C của cơ thể bạn được cung cấp bởi 100 gram củ sen này. Là một chất chống oxy hóa mạnh, vitamin C có lợi cho cơ thể bạn theo nhiều cách. Nó giúp loại bỏ gốc tự do trong cơ thể và ngăn ngừa khởi phát các chứng bệnh nguy hiểm như bệnh tim và ung thư. Vitamin C cũng là một thành phần cấu thành nên collagen giúp duy trì sức mạnh    của toàn bộ mạch máu, da, và các cơ quan của cơ thể. Vitamin C cũng là chất xúc tác cho hệ miễn dịch.

 

15-cong-dung-tuyet-voi-cua-cu-sen-voi-suc-khoe-4

Canh củ sen nấu tôm giải nhiệt ngày hè

 

11. Thúc đẩy phát triển trí não

Pyridoxine nằm trong nhóm vitamin tổng hợp nhóm B. Nó có khả năng tương tác trực tiếp với các thụ thể thần kinh ở trong não có ảnh hưởng tới tâm trạng cũng như trạng thái tinh thần của bạn. Nó giúp kiểm soát các căn bệnh đau đầu, stress và nóng giận. Bởi hoa sen là biểu tượng của hòa bình và thuần khiết trong hàng thế kỷ qua, củ sen đã chứng minh được công dụng này.

12. Cải thiện sức khỏe tim

Duy trì sức khỏe tim là lợi ích tốt nhất của củ sen. Cùng với lượng kali giúp thông mạch, và chất xơ để giảm bớt cholesterol trong cơ thể, pyridoxine từ củ sen cũng giúp kiểm soát hàm lượng homocystein trong máu. Homocystein chính là “kẻ thù” gây ra cơn đau tim.

13. Hỗ trợ giảm cân

Nếu bạn muốn giảm cân, củ sen là một siêu thực phẩm nên bổ sung vào chế độ ăn của bạn. Nó chứa hàm lượng calories thấp, giàu chất xơ và giàu các dinh dưỡng cần thiết. Khi cơ thể bạn nhận được tất cả các dưỡng chất mà nó cần, bạn sẽ cảm thấy no lâu hơn và tránh được tình trạng ăn quá nhiều, do đó kiểm soát cân nặng dễ dàng hơn.

 

15-cong-dung-tuyet-voi-cua-cu-sen-voi-suc-khoe-5

Hoa sen, củ sen cải thiện sức khỏe tim, hỗ trợ giảm cân

 

14. Chữa chứng rối loạn hô hấp

Nghiên cứu chỉ ra rằng củ sen có lợi cho hệ hô hấp. Nó giúp làm sạch và cung cấp sức mạnh cho hệ hô hấp. Bạn có thể uống trà củ sen để giảm ho. Hương sen tỏa ra từ làn khói giúp làm sạch chất nhầy ở hệ hô hấp. Bạn cũng có thể uống sinh tố củ sen nghiền để trị các bệnh đường hô hấp như bệnh hen suyễn và bệnh lao.

15. Trị bệnh dạ dày

Uống sinh tố củ sen pha với gừng có thể điều trị bệnh viêm ruột. Nếu bạn nôn ra máu, sinh tố củ sen (củ sen xay nhuyễn) có thể cầm máu trong trường hợp chảy máu dạ dày hoặc chảy máu thực quản. Nếu chảy máu khi đi ngoài, chảy máu ruột, dạ dày và trực tràng cũng có thể ngăn ngừa nhờ củ sen. Nếu bạn mắc bệnh kể một chứng chảy máu đường ruột nào nêu trên, hãy uống loại sinh tố bổ dưỡng này và bạn sẽ giảm nhẹ tình trạng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Hải sản là món ăn được nhiều người ưa thích. Thủy hải sản chứa nhiều chất dinh dưỡng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe. Muốn ăn hải sản có lợi cho sức khỏe, bạn cần tránh những cách ăn uống sai lầm sau đây.

Nên ăn hải sản tươi sống, nấu chín kỹ

Nên chọn hải sản tươi sống, vì chúng đảm bảo giá trị dinh dưỡng. Nếu không có đồ tươi mới phải ăn hải sản đông lạnh. Nếu là hải sản được người bán ướp đá cục thì cần xem xét kỹ trước khi chọn mua, chỉ chọn khi biết là hải sản còn tươi chưa bị sình ươn. Hải sản tươi mới còn nguyên vẹn giá trị dinh dưỡng, mùi vị thơm ngon. Còn hải sản đã bị ươn, vỡ bụng, mềm nhũn, chảy nhớt, có mùi khó chịu… rất dễ gây ngộ độc cho người ăn.

Để giữ được nhiều giá trị dinh dưỡng và vị ngọt, nên chế biến hải sản bằng phương pháp hấp, luộc, nướng hơn là chiên rán. Làm sạch và khử mùi tanh của hải sản bằng hành, tỏi, sả, ớt… Khi ăn hải sản, nên chế biến và ăn nóng mới nhiều dinh dưỡng. Trong hải sản thường có ký sinh trùng và vi trùng. Vì vậy, bạn cần nấu chín kỹ mới ăn để tránh mắc bệnh.loi-khuyen-quy-gia-khi-an-hai-san-1

Nên chọn mua ăn hải sản tươi sống vì chúng đảm bảo giá trị dinh dưỡng ngon, bổ.

Với hải sản đông lạnh, không nên luộc hấp

Nên hạn chế luộc hay hấp những loại hải sản đã để lâu trên ngăn đá. Khi đã để lâu thì chỉ thích hợp để xào, chiên hơn, bởi sau thời gian cất trữ, vi khuẩn dần hình thành, protein mất đi nhiều, không còn hương vị… Ngoài ra, cần làm sạch và khử hết mùi tanh thường có của hải sản bằng hành, tỏi, sả, ớt… Khi ăn hải sản nên chế biến và ăn càng sớm càng tốt và ở nhiệt độ cao sẽ an toàn cho sức khỏe hơn, ăn lúc còn nóng thì nhiều dinh dưỡng hơn để nguội.Không ăn hải sản đã chế biến lâu

Nếu hải sản bị chết hoặc bảo quản ở nhiệt độ thường, chúng rất nhanh chóng bị các vi khuẩn xâm nhập và sinh sôi nảy nở nên dễ gây bệnh.

Một số loại hải sản như cá ngừ, cá thu, cá nục… vi khuẩn còn biến thịt của cá thành chất độc, nếu người ăn phải sẽ bị ngộ độc với các triệu chứng: nổi mẩn đỏ, nóng bừng, tim đập mạnh, đau đầu, khó thở…

Không ăn hải sản cùng với thực phẩm có tính lạnh

Theo đông y, hải sản có tính hàn, nên khi ăn tốt nhất tránh ăn kèm với những thực phẩm mang tính hàn khác như: rau muống, dưa chuột, dưa hấu, dấp cá, nước đá… dễ gây đầy bụng, khó tiêu.loi-khuyen-quy-gia-khi-an-hai-san-2

Không nên uống bia và uống trà sau khi ăn hải sản.

Không ăn hải sản cùng với thực phẩm giàu vitamin C

Hải sản tươi như tôm, cua, sò, ốc… thường rất ngon, bổ. Bình thường những loại hải sản này không có nguy cơ gì cho cơ thể. Nhưng nếu ăn kèm với thực phẩm giàu vitamin C thì lại gây hại cho cơ thể, như gây ngộ độc thạch tín cấp tính, có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Không nên uống rượu bia khi ăn hải sản

Nhiều nghiên cứu cho thấy: sự kết hợp giữa bia và hải sản sẽ dễ dẫn đến nguy cơ mắc bệnh gout hoặc làm bệnh tái phát hay nặng hơn. Vì lượng purine trong hải sản trong quá trình tiêu hóa sẽ hình thành axit uric, khi chất này dư thừa sẽ gây ra bệnh gout và các bệnh khác. Nếu ăn nhiều hải sản rồi sau đó uống bia sẽ đẩy nhanh tốc độ tạo thành axit uric. Lượng axit uric với nồng độ cao sẽ tích tụ tại các khớp xương hoặc các mô mềm từ đó dễ dàng gây bệnh gout, viêm khớp xương và mô mềm.

Không nên ăn trái cây và uống trà sau khi ăn hải sản

Nhiều người thường có thói quen uống trà và ăn trái cây tráng miệng sau bữa ăn. Nhưng việc này không tốt, bởi lượng axit tannic có trong trà khi kết hợp với lượng canxi có trong hải sản cũng sẽ tạo thành canxi không hòa tan, gây kích ứng lên hệ tiêu hóa. Quá trình này cũng gây ra các triệu chứng: đau bụng, buồn nôn, nôn mửa và kết sỏi dẫn đến sỏi thận. Như vậy, tốt nhất chỉ uống trà và ăn trái cây sau khi ăn hải sản 2 tiếng trở lên.

Ai không nên ăn hải sản?

Tuy hải sản giàu dinh dưỡng, ăn lại thơm ngon, nhưng không phải ai ăn cũng tốt. Vậy ai không nên ăn hải sản?

Phụ nữ mang thai và cho con bú không nên ăn nhiều hải sản: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, phụ nữ mang thai và đang cho con bú, nếu thường xuyên ăn hải sản sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển hệ thần kinh của thai nhi hoặc của trẻ sơ sinh, đặc biệt có những triệu chứng bệnh lý mà đến khi trẻ em từ 7-14 tuổi mới xuất hiện. Vì thế, các chuyên gia khuyến cáo: phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú nên hạn chế ăn hải sản, tốt nhất mỗi tuần chỉ nên ăn 1-2 lần và mỗi lần chỉ dưới 100 gam.

Bệnh nhân mắc bệnh gout hay viêm khớp: Những người bị bệnh gout cần kiêng ăn hải sản. Ăn hải sản và uống rượu bia làm tăng axit uric trong máu dễ gây bệnh gout hoặc làm cho bệnh này tăng nặng.

Người có cơ địa dị ứng: Hải sản nói chung thường chứa chất gây dị ứng. Đây là thức ăn gây dị ứng nhiều nhất trong số các trường hợp bị dị ứng do ăn uống. Chất gây dị ứng có trong hải sản khi vào cơ thể sẽ gây ra phản ứng quá mẫn. Phản ứng dị ứng rất đa dạng và thường xảy ra nhanh, chỉ vài phút hay vài giờ sau khi ăn. Nhẹ thì nổi mề đay từng vùng hoặc khắp người, gây ngứa ngáy, phù nề mặt. Nặng thì ngoài nổi ban và ngứa còn phù mặt, nôn, đau quặn bụng, cảm giác nóng rát thượng vị, tiêu chảy, khó thở… Thậm chí bị sốc phản vệ, có thể tử vong.

Theo Suckhoedoisong.vn