Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Món ngon

Lòng lợn (dạ dày và ruột lợn) còn gọi trư đỗ. Lòng lợn chứa nhiều protein, lipid; vitamin B1, B2; acid nicotinic; Ca, P, Fe… Theo Đông y, lòng lợn vị ngọt, tính ôn; vào tỳ, vị, thận. Tác dụng ôn kiện tỳ vị, ích thận bổ hư.

Dùng tốt cho người gầy yếu suy nhược, sút cân, đái tháo đường, tiêu chảy, kiết lỵ, tiểu dắt, khí hư huyết trắng, di tinh, trẻ em suy dinh dưỡng… Ngày dùng 1 cái, bằng cách nấu luộc, bung hầm, om xào, hun (xông khói).

Lòng lợn hầm sa nhân chỉ xác: Dạ dày lợn 1 cái, chỉ xác 12g, sa nhân 5g. Chỉ xác, sa nhân cho vào dạ dày lợn đã làm sạch, khâu chặt, thêm nước và gia vị hầm nhừ; bỏ bã chỉ xác, sa nhân. Dùng tốt cho người bệnh dạ dày, sa tử cung, thoát vị bụng, người già yếu thoát vị cơ năng.

Lòng lợn hầm: Dạ dày lợn 1 cái làm sạch thái lát, thêm gia vị và nước hầm nhừ, ăn thường nhật, tuần ăn vài ba lần. Dùng tốt cho người bị lang ben, bạch biến, sạm da.

Canh lòng lợn (Trư đỗ canh): dạ dày lợn 1 cái (hoặc ruột lợn 1 đoạn), hoàng kỳ 15g, nhân sâm 8g, gạo tẻ 100g, hạt sen bỏ tâm 20g. Dạ dày luộc chín thái lát; các vị khác nấu nhừ, vớt bỏ bã hoàng kỳ, nhân sâm, thêm hành và gia vị. Thích hợp cho thai phụ, sản phụ, người cao tuổi suy nhược cơ thể.

Lòng lợn hầm hạt sen: Dạ dày hoặc ruột lợn 200g, hạt sen 30-50g. Lòng lợn làm sạch, cùng hạt sen hầm kỹ, ăn cả nước lẫn cái. Dùng tốt cho người viêm dạ dày, ruột mạn tính, tiểu dắt.

Lòng lợn nhồi nhân sâm: Dạ dày lợn 1 cái (hoặc một đoạn ruột lợn) làm sạch, nhân sâm 15g, bột tiêu 3g, gừng tươi 15g, hành sống 7 củ, gạo tẻ 200g. Cả 5 loại trên trộn đều cho vào dạ dày lợn khâu lại, hầm chín nhừ. Món này bồi bổ cơ thể, dùng tốt cho người bị suy kiệt, bệnh lao dài ngày.

Cháo lòng (Trư đỗ chúc): Dạ dày lợn 1 cái hoặc 1 đoạn ruột lợn làm sạch, luộc chín, thái lát. Gạo tẻ 150g vo sạch nấu cháo, cháo chín cho dạ dày hoặc ruột lợn vào hầm nhừ, thêm gia vị. Thích hợp cho người bị suy kiệt, sau thời gian bị bệnh dài ngày.

Lòng lợn dầm tương (Trư đỗ sinh phương): Dạ dày 1 cái hoặc 1 đoạn ruột lợn làm sạch luộc chín, thái lát. Dùng tỏi, dấm, bột tiêu, tương hoặc nước mắm làm nước chấm. Ăn ngày 1 lần khi đói, tuần 2-3 lần. Dùng tốt cho người cao tuổi thiểu dưỡng, phù nề hai chân.

Lòng lợn nấu thịt ếch: Dạ dày lợn 1 cái hoặc 1 đoạn ruột lợn làm sạch thái lát, ếch 1 con làm sạch, bỏ da ruột, thái lát, thêm gia vị (nhưng không cho muối mắm). Tất cả nấu chín nhừ, ăn cả cái hoặc gắp bỏ thịt ếch. Thích hợp cho bệnh nhân phù nề cổ trướng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Mùa hè với nắng nóng cơ thể ra mồ hôi, bài tiết theo muối và điện giải, nếu không được bổ sung thích hợp cơ thể sẽ mất nước và điện giải. Để khắc phục tình trạng đó, chúng ta nên biết cách chọn lựa thực phẩm phù hợp trong chế biến bữa ăn ngày hè nhằm cung cấp dinh dưỡng và có công dụng thanh nhiệt cho cơ thể.

Ăn rau diếp cá

Rau diếp cá chứa hàm lượng chất xơ thực vật cao, có lợi cho hệ tiêu hóa, có thể trị bệnh táo bón. Đây cũng là thực phẩm tốt cho người bị thiếu máu. Rau diếp cá còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu đờm, nên thích hợp sử dụng trong ngày hè.

Rau mồng tơi

Rau mồng tơi có vị ngọt, nhạt, nhớt, tính mát. Với dược năng là lưu thông huyết mạch, lợi tiểu, nhuận trường. Công hiệu giúp mát máu, điều hòa khí huyết, thanh lọc dạ dày và ruột, trị táo bón, chống tích tụ, trị đau mắt, sưng đau vú, huyết vận và huyết tụ. Được dùng để luộc hay nấu canh ăn rất ngon. Thường dùng trị liệu các chứng như huyết vận hay huyết tụ, dùng mồng tơi tía giã nát, pha giấm thanh, đắp lên chỗ huyết vận, huyết tụ (ma cắn). Để trị táo bón: tối trước khi đi ngủ, ăn một đĩa rau mồng tơi luộc.

Rau dền

Rau dền có vị ngọt, thơm, tính mát. Với dược năng thanh nhiệt, lọc máu, lợi tiểu, an thần. Trị nhức đầu, hạ nhiệt, giúp tiêu hóa, lưu thông khí huyết, trừ nhọt lở. Đặc biệt trị sung huyết, ứ huyết và tăng huyết áp. Được dùng luộc hay nấu canh ăn hằng ngày. Có thể phơi khô, nấu nước uống.

Rau má

Rau má có vị thơm, đắng, không độc, tính mát. Với dược năng cầm máu, giải nhiệt, sát khuẩn, lợi tiểu. Trị sốt rét nóng nhiều, máu cam, thổ huyết, khí hư, huyết bạch, tả lỵ. Giúp sáng mắt, trị các chứng nhọt độc, sang lở, hốt hoảng, gan nhiệt. Trị phụ nữ đau bụng máu. Bổ gan, điều hòa tạng phủ. Có thể giã sống, pha đường uống mỗi lần 40 – 50g hay luộc ăn hoặc phơi khô  nấu nước uống, mỗi lần 20g.

Mướp đắng

Vị đắng, tính hàn, có tác dụng sáng mắt, trừ khát, giải nhiệt, bổ khí, hoạt huyết. Mướp đắng dùng làm thức ăn mùa hè rất phù hợp, thường xào với thịt bò, nấu canh xương, nhồi thịt hấp, có khi đun nước tắm cho trẻ lặn rôm, sắc nước uống (thái nhỏ phơi khô dùng dần).

Bí, bầu: Cũng là món ăn rất tốt trong mùa nóng bởi nó tính mát, giúp thanh nhiệt, giảm tác hại của nắng nóng. Có thể dùng nấu canh hoặc ép lấy nước uống. Bầu chứa vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải khát. Canh bầu nấu với tôm là một món ăn dân dã nhưng lại có công dụng giải nhiệt và bồi bổ rất tốt.

Rau muống: Theo y học hiện đại, ăn rau muống giúp ức chế sự hoạt động của các vi khuẩn gây bệnh, ngăn ngừa nhiễm trùng, viêm nhiễm, mát máu, giải nhiệt ở miệng và phòng ngừa bệnh tiêu chảy. Một đĩa rau muống luộc, bát nước rau được vắt thêm chanh hay dầm vài quả sấu là món ăn rất tốt cho sức khoẻ trong những ngày hè oi bức.

Dưa chuột: Vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu, được dùng rất phổ biến trong mùa hè dưới dạng ăn sống, làm nộm, chế biến thành dưa muối cả quả. Dưa chuột còn có thể xào với một số loại thịt thành những món ăn khá hấp dẫn.

Cà chua

Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, cân bằng gan, chống nóng. Ngoài ra, Cà chua có nhiều vitamin, chất khoáng và vi khoáng dễ hấp thu, giúp cho cơ thể tăng cường khả năng miễn dịch, phòng chống nhiễm trùng, chống oxy hóa mạnh, chế độ ăn tăng cường cà chua đã góp phần làm chậm quá trình lão hoá và làm giảm nguy cơ ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đại tràng, ung thư vòm họng….

Theo Suckhoedoisong.vn

Mùa nhãn chín đang đến gần, mùa thi cũng sắp đến. Thật trùng hợp vì đây là loại quả có tác dụng dưỡng huyết, ích trí thần diệu. Sách “Thần Nông bản thảo kinh” gọi trái nhãn là “Ích trí quả. Mùa nhãn tiếp sau mùa vải, nên còn có tên là “Lệ chi nô” (lệ chi là quả vải, nô là kẻ theo hầu)…

Vị thuốc “long nhãn nhục hay long nhãn” trong Đông y là áo hạt phơi hay sấy khô nửa chừng của quả nhãn. Trong sách thuốc Đông y, long nhãn nhục thuốc nhóm thuốc bổ huyết, cùng thục địa hoàng, hà thủ ô, đương quy, bạch thược…
Long nhãn có tác dụng chống lão suy vì trong cùi có flavoprotein – một hoạt chất có tác dụng tăng cường hoạt tính của các tế bào thần kinh não; trong cùi nhãn còn có vitamin PP, một chất có tác dụng làm tăng độ bền và độ đàn hồi của mạch máu, giúp cho quá trình tuần hoàn máu trở nên tốt hơn.

 

 

Theo nghiên cứu của dược lý học hiện đại, long nhãn có tác dụng giúp cơ thể nâng cao năng lực chịu đựng trong điều kiện thiếu oxy, gia tăng trọng lượng của các cơ quan miễn dịch, kháng khuẩn, phòng ngừa ung thư và làm chậm quá trình lão hóa.
Long nhãn được y học cổ truyền sử dụng dưới nhiều dạng như thuốc sắc, thuốc cao, thuốc hoàn, rượu thuốc…, riêng rượu thuốc có thể ngâm phối hợp với các vị thuốc khác. Trong “Diên linh tửu”, long nhãn được ngâm cùng kỷ tử, đương quy, bạch truật và đậu đen; trong “Diên thọ tửu” được ngâm cùng quế hoa và đường trắng. Thông thường, nếu dùng độc vị có thể ngâm từ 150 – 200g long nhãn trong 1 lít rượu trắng, sau 15 ngày là dùng được, mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần dùng từ 15 – 20ml.
Ngoài ra, về mặt thực dưỡng, chè long nhãn cũng là món ăn ngon, giúp bồi bổ cơ thể, tăng cường trí lực.
Nhiều bài thuốc cổ phương cũng như tân phương có dùng long nhãn như một vị thuốc bổ huyết công hiệu. Trong thực tế chữa bệnh, tôi thường dùng long nhãn trong bài Quy tỳ thang thể bổ cả Tâm lẫn Tỳ cho những bệnh nhân hiếm muộn – vô sinh.
Bài thuốc: Táo nhân (sao đen) 12g, nhân sâm 12g, bạch truật (sao vàng) 12g, chích hoàng kỳ 12g, đương quy 12g, long nhãn 12g, mộc hương 8g, phục thần 12g, viễn chí 12g, chích cam thảo 8g, đại táo 5 trái. Bài thuốc này được làm hoàn mềm.
Trong đó, nhân sâm có tác dụng “bổ ngũ tạng, an tinh thần, định hồn phách” để bổ khí sinh huyết, dưỡng tâm ích tỳ. Long nhãn bổ ích tâm tỳ, dưỡng huyết an thần. Hoàng kỳ, bạch truật giúp nhân sâm ích khí kiện tỳ. Đương quy giúp long nhãn dưỡng huyết bổ tâm. Phục thần, viễn chí, táo nhân để ninh tâm, an thần. Mộc hương để lý khí tĩnh tỳ, phối hợp với thuốc bổ khí dưỡng huyết làm cho bổ mà không nê trệ ở vị. Cam thảo ích khí bổ trung, điều hòa các vị thuốc.
Bài thuốc chủ yếu dùng vị ngọt ấm ích khí, bổ trợ các vị dưỡng huyết, an thần, lý khí. Tâm tỳ đồng trị nên trọng dụng bổ tỳ, khí huyết cùng bổ nên trọng dụng ích khí. Tỳ khí vượng thịnh thì huyết có nơi sinh, huyết có nơi nhiếp; huyết mạch sung túc thì thần có nơi trú ngụ, huyết có nơi để quy tụ. Cho nên bài thuốc này được gọi là bài “Quy tỳ thang”.
Theo Kinhtedothi.vn

Mùa thi cũng là thời điểm nắng nóng nhất của mùa hè khiến các sĩ tử mệt mỏi, kém ăn thiếu ngủ, đau đầu, nhức mỏi mắt,…

Để các em có được sức khỏe tốt nhất, việc bảo đảm dinh dưỡng trong các bữa ăn hằng ngày rất quan trọng. Sau đây là một số món cháo, canh thuốc bổ khí huyết, tăng trí nhớ cho các em trong mùa thi.

Canh đậu đỏ, đại táo: Đậu đỏ 250g, đại táo 200g, đường phèn vừa đủ. Đậu đỏ ngâm nước qua đêm, rửa sạch, để ráo. Táo ngâm nước lạnh, rửa sạch bụi. Cho đậu đỏ vào nồi, thêm nước đun sôi sau hạ nhỏ lửa, nấu đến khi hạt đậu nứt đôi  thì cho táo vào nấu chung, khi hai thứ chín mềm cho đường phèn vào, quấy tan, nếm vừa ăn là được. Ăn trong ngày. Nếu làm món chè, ăn hết cả cái lẫn nước. Nếu dùng để chữa bệnh thì chỉ uống nước canh. Công dụng: Bổ trung ích khí, bồ bổ trí nhớ, chống suy nhược cơ thể.

Mùa thi cũng là thời điểm nắng nóng nhất của mùa hè khiến các sĩ tử mệt mỏi, kém ăn, thiếu ngủ,...

Mùa thi cũng là thời điểm nắng nóng nhất của mùa hè khiến các sĩ tử mệt mỏi, kém ăn, thiếu ngủ,…

Canh thịt dê: thịt nạc dê 100g, đương quy 20g, gừng 10g, bột gia vị vừa đủ. Thịt dê cắt miếng, đương quy rửa sạch. Cho thịt dê, đương quy, gừng vào nồi, đổ nước hầm chín kỹ, nêm bột gia vị. Ăn trong bữa cơm. Công dụng: Bổ trung ích khí dưỡng huyết, trị đau lưng, mệt mỏi, chóng mặt ù tai.

Canh óc lợn, táo tàu: Óc lợn 1 cái, tiểu mạch 30g, táo tàu 20g, đường trắng vừa đủ. Óc lợn rửa sạch, lọc bỏ máu, gân. Tiểu mạch rửa sạch để ráo, táo tàu ngâm nước nóng, rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, đổ nước đun chín kỹ. Chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: Bổ não hòa huyết dưỡng tâm, trừ phiền, trị hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, ra nhiều mồ hôi.

Canh kỷ tử đại táo trứng gà: kỷ tử 20g, táo 20g, trứng gà 2 quả. Tất cả cho vào nồi nấu, khi trứng chín bóc vỏ rồi cho vào đun tiếp 10 phút nữa. Hằng ngày hoặc cách ngày ăn 1 lần. Công dụng: Chữa khí huyết suy kém, hoa mắt chóng mặt.

Cháo xương lợn: Xương sống lợn 400g rửa sạch chặt miếng. Gạo tẻ 150g vo sạch. Cho gạo và xương sống lợn vào nồi, đổ nước nấu cháo, cháo chín cho hành hoa, củ kiệu vào đun tiếp 10 phút, thêm gia vị, muối, dầu ăn, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: Trị hoa mắt chóng mặt, chân tay lạnh.

Canh óc lợn nấu táo tàu rất tốt cho học sinh mùa thi.

Canh óc lợn nấu táo tàu rất tốt cho học sinh mùa thi.

Cháo chim sẻ: Chim sẻ 5 con làm sạch lông bỏ nội tạng, gia vị, dầu thực vật, gạo tẻ 150g vo sạch. Cho gạo và chim sẻ vào nồi, đổ nước nấu cháo, cháo chín cho bột gia vị, chia ăn trong ngày. Công dụng: Bổ âm, trị hoa mắt chóng mặt.

Cháo cá trê, đậu đen: Cá trê 1 con 400g, đậu đen xanh lòng 200g, gạo nếp 20g, trần bì 1 miếng, bột gia vị, hành, mùi, hạt tiêu vừa đủ. Cá trê làm sạch, đậu đen ngâm cho nở, trần bì ngâm nước 15 phút cạo sạch lớp trắng, rửa sạch để ráo. Gạo vo sạch cho vào nồi cùng cá, trần bì, bột gia vị, đổ nước nấu cháo, cháo chín cho rau mùi, hạt tiêu ăn nóng. Công dụng: Kiện tỳ bổ thận thông huyết. Trị kém ăn, mất ngủ, mệt mỏi, chóng mặt hoa mắt, ù tai.

 

Các món ăn từ thịt bò luôn hấp dẫn bởi độ ngon ngọt và giàu dinh dưỡng. Tuy nhiên, để chế biến thịt bò ngon thì không phải chị em nào cũng biết. Dành riêng cho tín đồ của các món ăn từ thịt bò, cứ làm theo cách sau đây là khỏi lo thịt bò khô, dai, mất chất.

Thái thịt bò đúng thớ

Thịt bò chứa những sợi cơ khỏe, chắc và có cấu trúc song song với nhau như dây đàn. Nếu cắt thịt bò dọc theo những đường cơ này, bạn sẽ làm tăng thêm độ dai của miếng thịt bất kể là thịt sống hay chín. Do đó, để thái thịt bò đúng thớ, các chị em cần phải nhận biết được thớ thịt bằng cách nhìn vào mặt cắt của miếng thịt, nếu sợi cơ chạy dài thì đó là dọc thớ, nếu chỉ thấy đầu sợi cơ thì đó là ngang thớ. Khi thái, cần đặt miếng thịt sao cho đường dọc thớ vuông góc với dao thái để thịt không bị dai.

Nếu vẫn khó để thái, chị em có thể mua những phần thịt được sơ chế sẵn theo món ăn như thịt xào, thịt xay siêu tiện lợi của thịt bò mát chuẩn Úc BeefDaily. Thay vì phải mất thời gian loay hoay vào việc băm chặt, với BeefDaily, chị em chỉ cần chế biến mà thôi.

E:\Loan Bich\PR\BOOKING PR Tháng 5\image.png

Các phần thịt được thái sẵn tiện lợi giúp chị em dễ dàng nấu nướng (ảnh minh hoạ)

Chế biến từng phần thịt theo cách khác nhau

Với chị em nghiền thịt bò thì chắc chắn chỉ với nguyên liệu này, chị em có thể biến tấu thành rất nhiều món ngon. Tuy nhiên, món ăn này phù hợp với phần thịt nào thì không phải tất cả các chị em đều sành. Dưới đây là một vài gợi ý của BeefDaily nhằm giúp chị em chế biến được món ăn phù hợp với các phần thịt khác nhau.

Đặc trưng là những lớp mỡ thơm ngậy, diềm thăn và dẻ sườn bò là phần thịt rất phù hợp để làm các món như hầm, kho, sốt vang hoặc nướng.

Phần thịt mềm ngon nổi tiếng như thịt thăn nội, thăn vai, thăn ngoại thì sao? Cực kỳ hấp dẫn với món steak hoặc salad nhé.

Phở bắp bò, bắp bò chần hành giá hay bắp bò ngâm mắm cũng cực kỳ nổi tiếng rồi. Bắp bò nói chung hay phần bắp hoa, lõi rùa đặc biệt phù hợp với những món ăn trên bởi sự giòn ngọt đặc trưng.

Nạc mông, nạc vai sẽ rất phù hợp với món xào, lúc lắc hoặc thịt bò khô; U vai sẽ thích hợp để nướng.

Mỗi phần thịt sẽ phù hợp với món ăn khác nhau (ảnh minh hoạ)

Nhúng lẩu chắc chắn không thể bỏ qua phần gầu bò, và đương nhiên, phần thịt này đã quá quen thuộc với các tín đồ của món phở.

Nạm bò cũng được sử dụng để ăn phở tương tự như gầu, ngoài ra cũng được dùng để làm món hầm, kho, sốt vang.

Để làm nên một món ngon, trước tiên cần phải làm đúng. Nếu dùng u vai để làm steak thì sẽ khó để có được một món ngon đúng nghĩa, đơn giản vì phần u bò là phần thịt hầu như không cử động nhiều ở con bò nên có phần cứng hơn so với phần thịt khác.

Với gợi ý về cách sử dụng các phần thịt như trên, hy vọng các chị em sẽ chế biến được nhiều món ngon cho gia đình, khỏi lo thịt khô dai, mất chất.

Lưu ý xử lý nhiệt và thời gian nấu khéo léo

Đối với thịt bò, nếu không khéo léo trong việc xử lý nhiệt độ và kiểm soát thời gian nấu nướng, món ăn sẽ rất dễ bị khô, dai, mất chất hoặc mang hương vị không như bạn mong muốn.

Chẳng hạn như món thịt bò xào, chị em luôn luôn phải xào với lửa to, đảo nhanh tay khi xào để thịt chín tới, mềm ngọt và tối ưu dinh dưỡng. Nếu xào lâu với lửa nhỏ, thịt sẽ rất dễ bị ra nước, khô dai và mất chất.

Với các món hầm, kho, sốt vang, thông thường chị em cần ninh khoảng 45 – 60 phút để thịt bò (bò ta) chín mềm.

Tuy nhiên, khi nấu ăn với thịt bò mát chuẩn Úc BeefDaily, chị em sẽ tiết kiệm được thời gian nấu nướng. Công nghệ sản xuất từ Úc giúp thịt bò mát BeefDaily mềm ngọt, giữ trọn dinh dưỡng. Do vậy, thay vì mất 45 – 60 phút cho món hầm, giờ đây, chị em chỉ cần mất khoảng 20 – 30 phút là thịt đã mềm ngon tự nhiên.

Thịt bò mát BeefDaily mềm ngọt giúp chị em tiết kiệm thời gian nấu nướng

Ra mắt vào tháng 3/2020, đến nay, thương hiệu thịt bò mát chuẩn Úc đã có mặt tại hơn 30 đại lý chính thức thuộc khu vực nội thành Hà Nội. Để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, dự kiến, BeefDaily sẽ tiếp tục phát triển đại lý phân phối tại các tỉnh miền bắc, tiến tới con số 200 đại lý chính thức trong nửa cuối năm 2020.

Theo Suckhoedoisong.vn

Các quan niệm của cổ nhân như bệnh mùa đông trị vào mùa hạ, có câu: “Bổ tại tam phục” (một số bệnh âm thịnh dương hư và bệnh mạn tính thường phát vào mùa đông có thể sẽ giải quyết tốt nếu biết bồi bổ vào thời kỳ “tam phục”).

Tam phục là cách gọi chung của sơ phục, trung phục và mạt phục, chỉ thời kỳ nóng nhất trong năm: sơ phục, 10 ngày tính từ ngày canh thứ ba sau Hạ chí ; trung phục, 20 ngày tính từ ngày canh thứ tư sau Hạ chí ; mạt phục, 10 ngày tính từ ngày canh thứ nhất sau Lập thu. Bởi vậy, trong mùa hạ việc chọn dùng một số đồ ăn thức uống có tính ôn bổ cũng là rất cần thiết, đặc biệt đối với những người có bệnh mạn tính và thể chất vốn suy nhược do dương khí kém.

Trong vấn đề ăn uống mùa hạ, Đông y có một quan điểm hết sức độc đáo, đó là “xuân hạ dưỡng dương”. Mùa hạ nóng nực tuy phải dùng nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử nhưng vẫn cần lấy ôn ấm làm chính để trợ giúp khí dương. Bởi vì, các nhà dưỡng sinh Đông y cho rằng mùa hạ tuy dương khí vượng thịnh bên ngoài nhưng khí âm lại tiềm ẩn bên trong cơ thể, vậy nên “trời tuy nóng chớ tham mát, dưa tuy ngon chớ ăn nhiều”. Nếu không biết giữ gìn dương khí trong mùa hạ thì mùa đông sẽ mắc nhiều bệnh tật, phải biết thuận ứng thiên thời để bồi bổ dương khí, trừ khử âm hàn có như vậy mới gọi là phòng bệnh triệt để.
Mùa hạ nên nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử.

Mùa hạ là mùa dương khí vượng nhất trong năm. Quá trình trao đổi chất trong cơ thể con người diễn ra mạnh mẽ, dương khí phát ra ngoài, âm khí tiềm phục ở trong. Các lỗ chân lông giãn rộng, mồ hôi tiết ra nhiều để điều hoà thân nhiệt nhưng cũng vì thế mà tà khí dễ xâm nhập vào trong. Hệ thống mao mạch ngoại vi cũng giãn ra, khí huyết lưu thông nhanh và mạnh hơn. Công năng của tỳ vị có xu hướng suy giảm, quá trình tiêu hoá và hấp thu thức ăn dễ bị rối loạn.

Đông y cho rằng: Thử (nắng nóng) là chủ khí mùa hạ, là dương tà, tính thăng tán dễ làm hao tổn khí và tân dịch. Thử tà xâm nhập cơ thể gây ra nhiều mồ hôi làm tổn thương tân dịch, nếu không kịp thời bù đắp thậm chí có thể làm hao tổn nguyên khí, biểu hiện ra bên ngoài bằng các triệu chứng như mệt lả, khó thở, ngại nói, có khi đột nhiên ngã lăn bất tỉnh (say nắng, say nóng).

Thử thường kiêm với thấp (độ ẩm), thấp là âm tà dễ làm tổn thương dương khí. Đặc điểm của thấp tà là nặng trệ, kết dính, dễ gây thương tổn tỳ dương. Biểu hiện trên lâm sàng bằng các triệu chứng như chân tay tê mỏi, mình mẩy nặng nề, đầu nặng như đeo đá, không muốn ăn, hay đầy bụng, dễ đi lỏng, thậm chí có thể phù nhẹ hai chân…

Trong mùa hạ, Đông y khuyên nên chú trọng dùng nhiều đồ ăn thức uống có tác dụng thanh nhiệt giải thử, lợi niệu trừ thấp như dưa hấu, mướp đắng, dưa chuột, bí đao, đậu xanh, đậu đen, cháo ngũ đậu, cháo ý dĩ, cháo đậu xanh, cháo biển đậu, cháo lá sen, trà nhân trần, trà hoa cúc, trà nụ hoặc lá vối, trà actiso, trà khổ qua… Những ngày quá nóng bức có thể dùng một chút nước ướp lạnh hoặc nước đá để giúp cơ thể giải nhiệt nhưng không được dùng nhiều để tránh làm thương tổn tỳ vị, tạo điều kiện cho thấp tà gây bệnh bên trong.

Khi mồ hôi ra nhiều phải chú ý bổ sung đủ lượng nước đã mất bằng đường ăn uống. Cổ nhân có câu : “Hãn vi tâm dịch” (mồ hôi là dịch của tâm), bởi thế khi mất mồ hôi âm dịch trong cơ thể nói chung và âm dịch trong tạng Tâm nói riêng (gọi là Tâm âm) cần chú ý trọng dụng những đồ ăn thức uống có công dụng thanh nhiệt dưỡng âm như thạch đen, chè đậu đen, trà mạch môn, nước ép quả lê, nước ép ngó sen, nước mơ, nước mận, nước dâu, trà bát bảo…

Ngoài việc thanh nhiệt giải thử và dưỡng âm, ăn uống trong mùa hạ còn phải hết sức chú ý tránh làm thương tổn tỳ vị. Theo Đông y, các thực phẩm có công dụng phương hương tỉnh tỳ, kiện tỳ hoá thấp, giải thử đều trực tiếp hoặc gián tiếp giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động của tỳ vị, ví như các loại cháo chế từ đậu xanh, đậu cô – ve, bạch biển đậu, ý dĩ, hạt sen, củ mài…; các loại trà hoắc hương, trà nụ vối, trà hương nhu, trà lá sen… Nên chú ý dùng thêm các đồ ăn thức uống có vị chua ngọt, cay thơm để nhằm mục đích khai vị, kích thích cảm giác thèm ăn như các loại canh chua chế từ quả sấu, me, khế, quả dọc, tai chua, quả chay, chua me đất hoa vàng… và các loại nước cam, nước chanh, nước mơ, nước sấu…

Tuy nhiên, cần chú ý không nên dùng quá nhiều đường tinh luyện khi pha chế các loại nước giải khát. Để bảo vệ nguyên khí cổ nhân khuyên “72 ngày mùa hạ nên bớt vị đắng, tăng vị cay để dưỡng phế khí (Thiên kim yếu phương). Bởi vì căn cứ vào quy luật ngũ hành, Tâm thuộc hoả, Phế thuộc kim, hoả khắc kim, Tâm hoả quá thịnh sẽ khắc phạt Phế kim, vị đắng vào Tâm, vị cay vào Phế, nếu ăn thêm một ít vị cay thì Phế khí sẽ được trợ dưỡng, nếu ăn bớt vị đắng thì Tâm hoả sẽ không quá vượng thịnh mà hại Phế khí. Tôn Tư Mạo, danh y đời Đường (Trung Quốc) đã viết : “Nghi tỉnh khổ tăng tân, dĩ dưỡng phế khí” (nên giảm đắng tăng cay để dưỡng phế khí).

Theo Suckhoedoisong.vn

0 212

Chao ôi, những chùm nhót đỏ tươi nấp sau tán lá xanh từng là món quà cho lũ trẻ con trong xóm xúm xít lại, chấm mút với thứ muối ớt thơm cay, nồng nàn hòa với nụ cười giòn tan, vô lo vô nghĩ, từng là thức quà quê mỗi khi hè về mẹ đem ra chợ bán, đổi lấy chút đồng quà tấm bánh cho con thơ, nơi bức tường bao ấy, năm nào tuổi thơ tôi đã có biết bao kỷ niệm….

Cây nhót ấy được mẹ tôi trồng từ khi nào tôi cũng không rõ nữa, chỉ biết rằng khi có ý thức, trước cửa đã sẵn giàn nhót sum sê, thay tường rào với nhà hàng xóm, cành nhót vươn lên bám vào những cây xung quanh, mùa nối mùa ra từng chùm quả chín. Từ khi trời vẫn còn mưa xuân lắc rắc, hoa nhót đã nhu nhú những chùm trắng li ti, mùa nhót bắt đầu bằng những cơn mưa phùn lất phất, bảng lảng khi xuân còn sót lại, vấn vương chưa chịu rời đi.

Ảnh tư liệu

Giữa tháng Ba, trái nhót bắt đầu chuyển mình từ xanh đậm sang màu vàng da bò, rồi từ từ chín đỏ. Phủ bên ngoài lớp thịt nhót căng mọng là những hạt phấn trắng li ti. Chính vì đặc điểm này mà nhót khác với những trái cây khác. Những trái cây khác, chỉ cần gọt vỏ thậm chí để nguyên cả vỏ vẫn có thể ăn ngon lành. Nhưng muốn ăn nhót thì phải cực hơn chút xíu, cầm quả nhót chín đỏ trong tay, xoay tròn khắp thân quả, chùi lớp phấn trắng li ti bên ngoài vào áo hoặc quần mới có thể ăn. Lũ trẻ con chúng tôi ngày ấy, có lần háu ăn mà không kịp lau đi lớp phấn trắng nên hôm sau nhẹ thì ngứa họng, ăn nhiều sẽ bị ho. Nên một hai lần sau là thèm mấy cũng phải lau qua loa bớt lớp áo của trái nhót.

Vị của nhót cũng không ngọt ngào, đậm đà như nhiều trái cây khác, nhưng ai đã ăn, đã thích thì hễ trông thấy là khó cầm lòng. Trái nhót ngon là trái có màu đỏ au, chín đều màu, lớp áo ngoài căng mọng. Vị chua tê dại ban đầu nơi đầu lưỡi đúng là khiến người thưởng thức bất ngờ, rồi vị ngọt của nhót cứ thế lan dần nơi cuống họng, chấm muối ăn càng tăng thêm độ ngọt bùi.

Nhót được mùa, trái to nhất dễ bằng đầu ngón chân cái, không thì chỉ đều đều như quả trứng cút thôi. Nhưng một khi sai quả, cành lá có sum sê cỡ nào, cũng không lấn át được với màu đỏ của trái nhót.

Rời quê lên phố học tập rồi có gia đình riêng, giàn nhót quê nhà năm nào cũng bị chặt bỏ để xây tường bao cho hợp với những ngôi nhà cao tầng khang trang nối nhau mọc lên. Tôi tiếc lắm! Thương nhớ bao kỷ niệm xa xưa, thương lũ trẻ trong xóm không được trải nghiệm, quây quần, nô đùa với nhau bên giàn nhót ấy. Giữa lòng phố thị mùa này, cũng thấy những đôi quang gánh đủng đẳng món quà quê đỏ cả góc phố. Những bạn trẻ háo hức cầm trên tay những trái nhót đỏ au, căng mọng, vẫn tiếng cười vô lo vô nghĩ, tự nhiên lòng thấy vui đến lạ!

theo phapluatxahoi.vn

0 150

Cuối tuần, thả bước trên phố đi bộ, bỗng dưng ánh mắt tôi chạm hàng bánh chín tầng mây. Bao ký ức về loại bánh có cái tên đặc biệt thốt nhiên ùa về. Tôi cũng không rõ cái tên bánh chín tầng mây bắt nguồn từ đâu. Phải chăng, bởi vì bánh hội tụ đủ các “tầng” sắc màu  rực rỡ tựa cầu vồng nên có tên như vậy.

Trong ký ức của tôi, các hàng quà vặt gần trường luôn có sức hút với những món ăn hấp dẫn tuổi thơ. Nào là ô mai, sấu dầm, khế dầm, bỏng ngô… Nhưng có lẽ, điều khiến nhóm con gái chúng tôi luôn mê mẩn là hàng bánh chín tầng mây. Bác bán hàng thường bày trên một cái mẹt tre sạch sẽ vài loại bánh như: Bánh gấc đỏ tươi, bánh dành dành vàng nhạt, đặc biệt là bánh chín tầng mây vừa đẹp, vừa ngon. Tất cả các màu sắc đó đều được người bán hàng khéo léo tạo ra từ cây lá tự nhiên. Màu xanh của lá dứa, màu đỏ của củ dền, màu tím của khoai môn, màu vàng của đậu xanh xay nhuyễn, màu trắng trong suốt của bột nguyên chất. Tất cả hòa quyện, tạo nên chiếc bánh tuyệt đẹp.

Bánh chín tầng mây thường được cắt to bằng 3 ngón tay và gói trong một lớp ni-lon trong suốt để ta có thể ngắm được các dải sắc màu rực rỡ. Nâng nhẹ chiếc bánh trên tay, chúng tôi ngắm nghía chán chê rồi mới từ từ bóc lớp vỏ ra. Cắn một miếng nho nhỏ, ta cảm nhận vị ngọt thanh quyện cùng hương thơm béo ngậy của nước cốt dừa. Bánh có độ dai mềm, man mát nhẹ nhàng nên rất dễ ăn.

Ảnh tư liệu

Có lần, chúng tôi tỉ mẩn ngồi tách từng lớp của chiếc bánh ra để thưởng thức. Lần lượt, mỗi tầng bánh cho ta một cảm xúc khác nhau. Tầng màu xanh khiến ta như lạc vào khu vườn thiên nhiên đầy cây lá. Tầng màu vàng mang trên mình sắc nắng óng ả, màu trắng tinh khôi của sương sớm, màu đỏ tươi rực rỡ bên màu tim tím dịu dàng tựa như những bông hoa khoe sắc. Và không biết bao lần, tôi cứ tần ngần ngắm những “tầng mây” trên tay mà không nỡ ăn.

Chín tầng mây, cái tên khiến ta có cảm giác đây là loại bánh khá cầu kỳ nhưng thực tế cách làm lại khá đơn giản. Điều quan trọng là phải đảm bảo bột mới, lá tươi để chiếc bánh khi nào cũng bóng mượt, ánh lên sắc màu lung linh tươi tắn. Theo kinh nghiệm, khi hấp bánh chín tầng mây, ta nên phủ một chiếc khăn mỏng lên miệng nồi để ngăn phần hơi nước không bị rơi vào bánh. Khi đổ bánh, ta phải đợi lớp bánh trước chín hẳn rồi mới tiếp tục đổ lớp bánh tiếp theo. Nếu lớp bánh trước chưa chín, các tầng màu sắc sẽ không phân định rõ ràng từng dải màu nên bánh bị lem nhem. Để bánh không bị vỡ, ta cần chờ khuôn nguội hẳn, không nên dỡ từ khi còn nóng.

Ngày xưa, chúng tôi thường ăn bánh chín tầng mây một cách thật đơn giản. Bây giờ, một số hàng chè đã kết hợp loại bánh này với các loại chè khác nhau tạo ra hương vị khá đặc biệt. Chè sương sa hạt lựu được kết hợp giữa thạch rau câu, đậu xanh, sương sa, hạt é và bánh chín tầng mây. Khi thưởng thức, ta từ từ cảm nhận vị thanh mát của thạch rau câu, bùi béo của đậu xanh, sương sa ròn sần sật và cái dai dẻo của bánh chín tầng mây. Người ta cứ ngỡ miếng bánh chín tầng mây trong bát chè sẽ trở nên lạc vị. Nhưng không, cái vì deo dẻo, dai dai đặc trưng của bánh đã tạo nên điều bất ngờ bởi sự giao thoa hương vị tuyệt vời.

Bánh chín tầng mây, cái tên khiến ta chợt nhớ chợt thương về miền ký ức đã xa…

Theo phapluatxahoi.vn

Phở vốn được biết đến như một món ăn nổi tiếng của đất Hà thành. Nhà văn Vũ Bằng đã từng viết: “Một buổi sáng mùa thu rỗi rãi, trời hơi lành lạnh, mà ngồi ăn một bát phở gà, có đủ rau mùi, hành sống, vừa ăn vừa nghĩ thì phở gà cũng có một phong vị riêng của nó, khác hẳn phở bò. Điều người ta nhận thấy trước nhất là phở gà thanh hơn phở bò”. Quả đúng như vậy, hương vị bát phở gà Hà Nội được kết hợp bởi sự hài hòa của các loại gia vị và tài khéo của người nội trợ nên luôn thanh nhẹ, tinh tế.

Để có bát phở gà ngon cũng không quá khó. Theo kinh nghiệm, các bà các mẹ đi chợ thường chọn loại gà mái tơ để làm món phở gà. Đôi khi, ta có thể thay bằng vài cái đùi gà hoặc ức gà cũng được. Sau khi được sơ chế sạch sẽ, gà sẽ được cho vào nồi nước lạnh, luộc chín. Ta chẳng nên quên cho thêm chút bột canh để thịt gà ngọt đậm hơn. Gà vừa chín tới, ta vớt ra để nguội, rồi lọc lấy thịt gà, thái nhỏ thành từng miếng vừa ăn. Người nội trợ khéo phải biết thái thịt gà sao cho miếng nào cũng phải có cả phần thịt và da. Phần xương gà lọc sẽ được cho vào nồi nước dùng ninh kỹ.

Thực ra, điều làm nên sự độc đáo của món phở gà Hà Nội chính là nước dùng. Để có nồi nước dùng trong, có vị thanh nhẹ, người nội trợ cũng phải chú tâm một chút. Theo kinh nghiệm, các bà các mẹ thường dùng xương gà và thêm vài xương ống của lợn để ninh cùng nước luộc gà. Xương lợn thường được luộc qua một lượt rồi mới ninh. Khi nồi nước dùng sôi lên, ta nhớ canh để hớt bọt, sau đó hạ lửa nhỏ, mở hé vung ninh âm ỉ. Các bà các mẹ thường nêm nếm mắm muối cho thật vừa miệng vào lúc này. Theo kinh nghiệm, ta nên dùng loại nước mắm ngon để nêm thêm một chút vào nồi nước dùng.

Ảnh tư liệu

Phở gà Hà Nội dậy lên hương vị riêng có còn bởi sự kết hợp của những gia vị đặc biệt. Hành khô, gừng được rửa sạch, nướng qua cho thơm. Hạt mùi rang thơm hoặc gốc rau mùi già rửa sạch. Ngoài ra, còn có thêm củ hành tây bổ dọc nhưng không đứt hẳn. Tất cả được gói trong một miếng vải sạch rồi thả vào nồi nước dùng. Thêm một bí quyết nhỏ để nước phở có vị ngọt thanh, các bà các mẹ thường cho thêm vài con “sá sùng” vào ninh cùng xương.

Chẳng mấy chốc, cả gian bếp thơm lừng hương thơm đặc trưng của nồi nước dùng phở gà. Đợi cả nhà ngồi vào bàn, các bà các mẹ chần qua bánh phở trong nước sôi bằng một chiếc “vá”, xóc cho ráo nước rồi đổ vào bát. Thịt gà được bày lên trên cùng hành mùi, lá chanh thái chỉ, rồi chan một muôi nước dùng nóng rẫy vào. Bát phở thật hấp dẫn với những miếng thịt gà da vàng ươm, bóng nhẫy xếp trên bánh phở trắng nõn, dẻo mềm. Rau mùi, hành lá xanh mơn mởn cùng ít củ hành trần điểm xuyết thêm vài lát ớt đỏ tươi. Ta nên cho một chút tương ớt, gẩy thêm hạt tiêu bắc thơm thơm, vắt xíu chanh tươi. Vậy là bát phở gà nóng hôi hổi đã sẵn sàng chờ được thưởng thức.

Khẽ múc một thìa nước dùng đưa vào miệng. Ôi chao, cái vị ngọt thanh sao mà hài hòa đến thế. Bánh phở dẻo mềm, không dai mà không nát ăn kèm miếng thịt gà béo thơm, da gà hơi nảy vị dai giòn đặc trưng của gà mái tơ. Hành mùi thơm dậy vị quyện cùng hạt tiêu bắc đẩy vị giác lên đến đỉnh cao của sự thưởng thức miếng ngon Hà thành.

Hương vị thanh nhẹ của phở gà Hà Nội gói bao phong vị tinh tế của người Hà thành khiến ai đã một lần thưởng thức sẽ khó có thể quên.

Theo phapluatxahoi.vn

 

 

 

 

0 115

Vợ chồng nào cũng mong chờ tình yêu của mình “đơm hoa, kết trái” nhưng nhiều cặp đôi hiếm muộn do chất lượng tinh trùng của ông xã. Sau đây xin giới thiệu vài món ăn khắc phục chứng loãng tinh.

Tắc kè khô hầm thịt chó, hồ đào nhục: Hồ đào nhục 30g, tắc kè khô 1 đôi, thịt chó 150g, gừng tươi 20g, hồi hương 8 cánh 10g. Tắc kè bỏ đầu và móng, thịt chó bỏ mỡ, hai thứ rửa sạch bằng nước gừng rồi chặt miếng, các vị thuốc rửa sạch. Tất cả cho vào nồi hầm nhỏ lửa trong 2,5-3 giờ là được, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần.

Nhung hươu hầm thuốc bắc: Đông trùng hạ thảo 10g, nhân sâm 8g, hoài sơn 30g, nhung hươu 150g, đại táo 15g. Nhung hươu rửa sạch, thái mỏng, nhân sâm thái phiến. Các vị thuốc khác rửa sạch. Tất cả cho vào nồi hầm bằng lửa nhỏ chừng 2,5-3 giờ là được, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

Đuôi lợn hầm thục địa, đỗ trọng: Thục địa 30g, toả dương 20g, đỗ trọng 30g, đuôi lợn 150g, gừng tươi 15g, đại táo 8 quả. Đuôi lợn cạo bỏ lông, rửa sạch, chặt đoạn, gừng tươi giã nát. Các vị thuốc rửa sạch. Tất cả cho vào nồi hầm lửa nhỏ trong 2,5-3 giờ là được, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

Gà ác hầm nhung hươu, tắc kè:

Gà ác 1 con, nhung hươu 10g, tắc kè 1 đôi, bạch truật 15g, ba kích 15g, dâm dương hoắc 15g, sơn thù du 15g. Gà ác làm sạch, bỏ nội tạng, nhung hươu, tắc kè ngâm nước. Các vị thuốc khác rửa sạch, cho vào túi vải buộc chặt. Cho tất cả các thứ trên vào nồi, đổ nước hầm khoảng 40 phút tới khi gà chín nhừ, nêm gia vị vào là dùng được.

Tim lợn hầm nhục thung dung, nhung hươu: Tim lợn 200g, nhục thung dung 20g, nhung hươu 15g, rượu, gia vị, gừng đủ dùng. Tim lợn rửa sạch, thái miếng, trần qua nước sôi. Hai vị thuốc trên cho vào túi vải buộc kín. Cho tất cả các thứ trên vào nồi, đổ nước, hầm trong vòng 40 phút, sau đó nêm gia vị vào là dùng được. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Theo suckhoedoisong.vn

 

 

 

escort eskişehir escort samsun escort gebze escort sakarya escort edirne