Làm mẹ

0 9197

Theo ThS.BS. Nguyễn Kiên Cường khoảng một nửa những người phụ nữ mang thai có triệu chứng đau lưng, nguyên nhân do tăng trọng lượng cơ thể trong thời kỳ mang thai khiến cho cột sống chịu sức tải nặng hơn.

Chị gái chị Nguyễn Diệu Linh hiện đang trong thời kỳ mang thai, thường xuyên bị đau thắt lưng và khó ngủ, ảnh hưởng đến sức khoẻ của mẹ và thai nhi. Sau khi chia sẻ những lo lắng trên với Sức khoẻ và Đời sống, chị đã được ThS.BS. Nguyễn Kiên Cường tư vấn một số nguyên tắc giúp giảm thiểu tình trạng đau lưng và mất ngủ. Theo ThS.BS. Nguyễn Kiên Cường “khoảng một nửa những người phụ nữ mang thai có triệu chứng đau lưng, nguyên nhân do tăng trọng lượng cơ thể trong thời kỳ mang thai khiến cho cột sống chịu sức tải nặng hơn”. Ngoài ra, khi mang thai, cơ thể mẹ sẽ có một số thay đổi về nội tiết, tâm lý nên dễ trở nên lo lắng, mất ngủ, ốm nghén…

Áp dụng một số nguyên tắc sau có thể giúp cho phụ nữ mang thai tránh được tình trạng đau lưng và mất ngủ.

Nên mang giày bệt để giảm tải trọng lượng cho cột sống, vì khi mang thai cột sống phải chịu sức nặng của cơ thể mẹ (do tăng cân) cùng với sự phát triển của thai nhi. Việc đi giày không phù hợp với sinh lý cột sống sẽ chỉ làm cho tình trạng đau lưng thêm nặng nề.

1-b8dd0bf9-8959-4fdf-8684-0666fa5c570a-1436238209987

Không mang vật nặng bởi bụng bầu càng lớn thì áp lực lên vùng lưng dưới của bạn càng nặng nề nên bạn sẽ dễ bị chấn thương và tăng nguy cơ sảy thai nếu mang vác nặng.

1-khong-mang-nang-khi-di-du-lich-1436238349140

Khi ngồi lâu nên có gối lõm có đệm sau lưng, hoặc ngồi ghế cần có tựa lưng để hạn chế sự căng các cơ cột sống. Khi đứng lên: dùng 2 tay đặt lên đùi, chân vuông góc với mặt sàn, sau đó dùng lực tay từ từ nâng cơ thể lên trong khi vẫn giữ lưng thẳng. Lưu ý: mẹ không nên đứng dậy quá nhanh sẽ gây chóng mặt và đau lưng.

 Không sử dụng các chất kích thíchnhư trà, cà phê vào buổi tối.

Chất caffein có trong chè, cà phê đã được chứng minh là có tác động xấu đến sức khỏe của mẹ bầu và thai nhi. Vì vậy trong thời gian mang thai, chị em bầu nên hạn chế tối đa những loại đồ uống này.

 Nên tập thói quen đi ngủ đúng giờ, tránh thức quá khuya. Nếu thức khuya hoặc thiếu ngủ nhiều sẽ tác động xấu đến tâm sinh lý của cả mẹ và con, không có lợi cho sự phát triển sau này của trẻ.

1-nguyen-nhan-khien-ba-bau-bi-muoi-dot-thuong-xuyen-suckhoenhi-186151-1205-1436238681115

Tránh stress bởi nếu bà mẹ bị stress thì sau khi sinh ra trẻ sẽ có tỉ lệ bị rối loạn giấc ngủ, rối loạn hành vi. Cần giữ cho tâm hồn thư thái, tạo tinh thần sảng khoái cho mẹ và cho thai nhi

1-ba-bau-1436238734198

Trước khi ngủ có thể ngâm mìnhhoặc ngâm chân trong nước nóng 15 phút có tác dụng tốt cho cơ xương khớp, bao gồm cả xơ cơ, viêm khớp, có thể làm giảm sưng, viêm và tăng cường lưu thông máu.

1-massage-body-da-nong-20-8-1436238839209

Chỉ nên ăn nhẹ vào buổi tối, tránh ăn tối quá no, có thể sử dụng một số loại trà thảo dược có tác dụng an thần như tâm sen giúp cho bà bầu có giấc ngủ tốt hơn.

 Theo SKĐS

0 668

ThS.BS Lê Thị Hải nhấn mạnh: Chế độ ăn khi mang thai rất quan trọng, nếu mẹ ăn uống không đầy đủ, hoặc ăn quá nhiều đều không tốt đến thai nhi và cả sức khỏe của mẹ.

Chị Huỳnh Như, 28 tuổi chia sẻ, chị đang mang thai bé đầu lòng được15 tuần tuổi. Do là lần đầu tiên mang thai nên chị cảm thấy rất lo lắng không biết mình cần ăn uống những gì để em bé phát triển một cách tốt nhất. Đây cũng là lo lắng của hầu hết các bà mẹ trẻ khi mang thai lần đầu.

Bày tỏ băn khoăn này đến bác sĩ dinh dưỡng, chị đã được ThS.BS Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia tư vấn chế độ ăn uống và giữ gìn sức khỏe trong quá trình mang thai để sinh con khỏe mạnh.

ThS.BS Lê Thị Hải nhấn mạnh: Chế độ ăn khi mang thai rất quan trọng, nếu mẹ ăn uống không đầy đủ, hoặc ăn quá nhiều đều không tốt đến thai nhi và cả sức khỏe của mẹ. ThS.BS Lê Thị Hải khuyến cáo các mẹ bầucần:

Ăn đa dạng các loại thực phẩm

 dd-me-bau-1436240748405

Qua ba tháng đầu của thời kỳ mang thai, đa số các bà mẹ đã hết nghén nên sẽ ăn được nhiều hơn, do đó có thể ăn như người bình thường tức là không phải kiêng khem gì cả.

Mẹ bầu có thể ăn được tất cả các loại thực phẩm trừ rượu, bia, thuốc lá nước ngọt có ga, gia vị chua cay và nên ăn nhạt.

Duy trì 2-3 cốc sữa/ngày

331-1436240628426

Chị em mang thai nên ưu tiên ăn các thực phẩm như: thịt, cá, tôm, cua, rau xanh, quả chín và đặc biệt nên duy trì 2 – 3 cốc sữa/ngày. Nếu có điều kiện thì uống sữa dành cho bà bầu, còn không thì uống sữa nào cũng được, sữa đậu nành cũng rất tốt.

Chia nhỏ bữa ăn

lich-giam-can-thong-minh-cho-nguoi-beo2-1436240628435

Số bữa ăn nên chia 4 – 5 bữa, nếu thấy tăng cân nhanh thì ăn giảm chất bột đường và chất béo, còn chất đạm và rau quả vẫn nên ăn bình thường, nhưng chọn quả ít ngọt.

Lượngthực phẩmmột ngày mẹ bầu nên ăn như sau :

– Gạo (mỳ, bún, phở) : 300 – 400g/ngày

– Thịt (cá, tôm, cua ): 200 – 300g/ngày

– Trứng: 1 quả/ngày

– Rau xanh: 300 – 400g/ngày

– Quả chín: 400 – 500g/ngày

– Sữa : 500 ml/ngày (2 -3 cốc)

Theo D.Hải (SKĐS)

0 633

Trong thời gian cho con bú, mẹ nên ăn thức ăn nóng, bổ sung nhiều vitamin và đừng quên uống nước.

Đối với các mẹ đang cho con bú, việc ăn uống là vô cùng quan trọng. Hãy cùng tham khảo một số mẹo về ăn uống thông minh để luôn đảm bảo mẹ khỏe bé ngoan dưới đây:

Hạn chế dùng thực phẩm đã qua chế biến

Thực phẩm tốt nhất cho mẹ đang cho con bú là những loại thực phẩm chưa qua chế biến và thêm phụ gia bởi bước chế biến này sẽ làm mất đi lượng vitamin, các khoáng chất và chất chống oxy hóa quý giá. Vì vậy, các loại rau quả xanh, trái cây tươi, ngũ cốc nguyên hạt, đậu nành và sữa ít béo đều là những lựa chọn thông minh cho mẹ.

8-sieu-thuc-pham-cho-ba-me-dang-cho-con-bu_1

Bổ sung nhiều nước cho cơ thể

Mẹ nuôi con nhỏ thường không được ngủ đủ giấc, việc này có thể khiến cơ thể bị mất nước cũng giống như khi uống ít nước vậy. Nếu bạn ngại uống nước trắng, thì hãy thử thay thế bằng nước dừa hay ăn dứa hấu. Ngoài ra, bạn cũng nên bổ sung thêm cam, dâu, dưa chuột hay cần tây bởi các loại rau quả này đều có thể dễ dàng bổ sung nước cho cơ thể.

1-1-20150326115531-bu1-1427420516662-1427511719184

Dứa hấu chứa hàm lượng nước cao và cũng rất dễ ăn. (Ảnh minh họa)

Bên cạnh đó, mẹ cũng nên chú ý bổ sung thêm các thực phẩm giàu kali như mơ sấy khô, chuối, rau lá xanh, khoai tây hay đậu lima bởi chũng có khă năng điều chỉnh khả năng giữ nước của cơ thể.

Ăn nhiều bữa

Các chuyên gia dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em đều khuyên phụ nữ đang cho con bú nên ăn thành nhiều bữa, cụ thể là nên ăn nhẹ cách khoảng 2-3 tiếng một lần để liên tục duy trì năng lượng cho cơ thể.

Ăn nóng

Có thể bạn chưa biết nhưng khi mang thai, sự phát triển của thai nhi khiến cơ thể mẹ thường xuyên bị nhiệt và cảm thấy nóng hơn. Do vậy, sau khi sinh con, mẹ nên chọn các món hầm, món súp hay mì ống để cân bằng lại cơ thể.

Làm đầy tủ đá với đồ ăn

Nếu công việc của bạn khá bận rộn và khó có thời gian để chuẩn bị các món ăn mỗi ngày thì cũng có thể chuẩn bị trước thịt hầm, súp hay nấu đông và đóng băng trên ngăn đá của tủ lạnh để dùng sau. Như vậy bạn hoàn toàn có thể thưởng thức những món ăn cần nấu cầu kỳ và tốn nhiều thời gian này chỉ sau ít phút làm nóng lại trong lò vi sóng.

Tiếp tục bổ sung vitamin

Rất nhiều loại vitamin có thể được cơ thể hấp thụ một cách dễ dàng hơn qua các thực phẩm bạn ăn hàng ngày so với việc dùng viên uống bổ sung. Nhiều mẹ cho rằng chỉ khi mang thai mới cần bổ sung nhiều vitamin hơn, tuy nhiên thực tế thì cơ thể mẹ sau sinh, đặc biệt là mẹ đang cho con bú cũng cần được chú ý cung cấp vitamin như trong thai kỳ.

Ngoài ra, một ly sinh tố có lẽ cũng là cách tương đối hoàn hảo và khá đơn giản để cung cấp cho cơ thể nhiều vitamin cũng như chất dinh dưỡng. Yến mạch, rau xanh và hạt chia có thể xay kết hợp với trái cây hay sữa chua là một lựa chọn tuyệt vời cho mẹ.

Rong và tảo biển

Rong biển chứa hàm lượng cao sắt – một khoáng chất vô cùng quan trọng cho cơ thể mẹ. Một gợi ý cho mẹ ngại vị tanh của rong biển là món sushi. Ngoài ra, mẹ cũng có thể sử dụng tảo biển bởi chúng cũng là một nguồn cung cấp sắt khá dồi dào.

2-2-20150326115531-bu2-1427420515705-1427511713929

Rong và tảo biển đều chứa hàm lượng cao sắt. (Ảnh minh họa)

Bổ sung chất xơ

Đừng nghĩ rằng sau khi sinh con thì tình trạng nhiệt ‘đau khổ’ trong thai kỳ sẽ kết thúc bởi việc cho con bú cũng khiến cơ thể mẹ rất dễ dàng bị nhiệt. Để hạn chế tình trạng này, mẹ nên bổ sung nhiều chất xơ bằng cách sử dụng một số loại thực phẩm rất dễ tìm như yến mạch, quả sung, quả táo (cả vỏ), lê, gạo lứt, đậu đen, hay củ cải xanh.

Theo Sức khỏe và Đời sống/Giadinhnet

0 557

Em bé của bạn chỉ có duy nhất một nguồn thức ăn – đó là qua bạn. Chính vì thế trong thời gian mang thai, hơn bao giờ hết điều thiết yếu là bạn phải có một chế độ ăn uống đa dạng và cân đối. Nhiều người cho rằng, lúc đó bạn phải ăn đủ để nuôi sống hai người – điều đó không hoàn toàn đúng. Bạn chỉ cần ăn đủ thức ăn giàu dinh dưỡng, tươi sạch trong số tuyển chọn dưới đây.

thit-bo

Protein:

Vì nhu cầu về protein của bạn gia tăng trong thời kỳ mang thai nên bạn cần cố gắng ăn nhiều thức ăn nhiều đạm: thịt, cá, các loại đậu hạt, các hạt nhiều dầu, các thực phẩm bắt nguồn từ sữa. Tuy nhiên, các thức ăn động vật cũng giàu cả chất béo. Do vậy, bạn nên hạn chế tiêu thụ các loại thức ăn này và nên ăn thịt nạc.

 

Chất canxi:

Canxi có nhiều trong pho-mat, sữa, rau xanh, sữa chua… Chất này đảm bảo cho xương và răng em bé khởi sự hình thành từ tuần thứ 8, phát triển lành mạnh. Tuy nhiên, các sản phẩm bắt nguồn từ sữa cũng rất giàu chất béo cho nên bạn lựa chọn thứ nào ít chất béo như sữa hớt hết kem chẳng hạn.

 

Vitamin C:

Vitamin C làm tăng sức đề kháng cho cơ thể và giúp bạn dễ hấp thu chất sắt, vitamin C có nhiều trong trái cây và rau tươi, mỗi ngày bạn nên cung cấp vitamin C đều đặn vì cơ thể không tích trữ được sinh tố này. Vitamin C bị mất rất nhiều trong quá trình tồn trữ thức ăn và nấu nướng, vì vậy tốt hơn hết bạn nên dùng thực phẩm tươi sống, với lá rau xanh thì nên hấp cách thủy hoặc ăn sống.

 

5 loại vitamin cơ thể cần trong mùa đông

Chất xơ:

Khi mang thai bạn rất hay bị táo bón, chính vì thế chất xơ phải chiếm một phần đáng kể trong bữa ăn hàng ngày của bạn. Trái cây và rau xanh là nguồn cung cấp chất xơ quan trọng vì bạn có thể ăn được nhiều rau trái.

 

Axit folic:

Rất cần thiết cho sự phát triển thần kinh trung ương của em bé, đặc biệt trong những tuần đầu. Hơn nữa trong thời gian mang thai, cơ thể bài tiết axit folic gấp nhiều lần so với lúc thường, do vậy cần cung cấp axit folic mỗi ngày. Rau tươi lá to, màu xanh thẫm là nguồn cung cấp axit folic tốt.

 

Chất sắt:

Trong thời gian mang thai nhu cầu về sắt tăng. Em bé cần nhiều sắt để tích vốn dự trữ và khối lượng máu cơ thể bạn tạo ra cần sắt để chuyên chở dưỡng khí oxy. Chất sắt gốc động vật dễ hấp thụ hơn chất sắt gốc thực vật như: đậu hạt và trái cây khô. Do đó nếu bạn không ăn thịt thì nên ăn thức ăn giàu chất sắt kết hợp với thức ăn giàu vitamin C để hấp thụ được tối đa.

 

Ngoài việc cố gắng ăn đủ các chất trên, khi mang thai, bạn cần giảm lượng muối ăn để chống chứng phù và chứng tiền sản giật, uống nhiều nước chống táo bón.

Sau đây là một khẩu phần hợp lý với người có thai 6 tháng cuối:

Phải đảm bảo mỗi ngày được cung cấp 2.550Kcalo (bình thường là 2.200Kcalo); 1,5-2gam protein/kg cơ thể người mẹ; 0,7-1gam lipit (dầu mỡ)/kg; 6-7gam gluxit/kg, có đủ vitamin, chất khoáng và vi chất. Trong 3 tháng cuối thai kỳ, mỗi ngày phụ thêm 350Kcalo, 15 gam protein, 0,2mg vitamin B1, 0,2mg vitamin B2, 30mg vitamin C, 750 microgam vitamin A, 10 đơn vị vitamin D, 10-12gam canxi, 14-28mg sắt… Trong bữa ăn hằng ngày của người mẹ ngoài gạo ngô, các loại củ rau quả tươi nên có thêm thịt cá hoặc đậu, lạc ,vừng. Trong 3 tháng cuối mỗi ngày nên ăn thêm 1 quả trứng gà, vịt.

Theo BS. Nguyn Kim Dung/suckhoedoisong

0 802

Nhiều phụ nữ mang thai lần đầu ngoài những khó chịu như: buồn nôn, đau lưng, đau vú…

nang ne mang thai

Nhiều phụ nữ mang thai lần đầu ngoài những khó chịu như: buồn nôn, đau lưng, đau vú… trên thực tế, còn có nhiều triệu chứng khó chịu khác của thai kỳ. Vậy những trở ngại khi mang thai thường gặp là gì? Cách vượt qua như thế nào? Câu trả lời có trong bài viết dưới đây.

Từ khoảng tuần thứ 26 của thai kỳ thai phụ đã cảm thấy sức ép dồn xuống phía dưới. Cảm giác này khiến nhiều phụ nữ mang thai phải lo lắng. Đặc biệt với các phụ nữ mang thai lần thứ hai, họ thường phàn nàn về cảm giác này hơn. Khi gặp tình trạng này, thai phụ phải biết rằng đó là cảm giác bình thường và tử cung ở lần mang thai thứ 2 có phần thấp hơn so với lần mang thai thứ nhất và trọng lượng ngày càng tăng của thai nhi tiếp tục kéo toàn bộ tử cung thấp xuống. Bạn cần nhận thức được rằng tử cung và cổ tử cung vẫn đủ sức nâng đỡ đứa trẻ, hoàn toàn không có chuyện sẽ đẻ non vì cảm giác nặng phần dưới này.

Theo BS. Nguyễn Bùi Kiều Linh (SKĐS)

1 1328
Mỗi khi mệt mỏi, suy giảm hệ miễn dịch… các thai phụ thường dễ mắc bệnh viêm họng, nhất là 3 tháng đầu thai kỳ, hoặc khi thời tiết thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho virut gây lây lan nhanh.

Mỗi khi mệt mỏi, suy giảm hệ miễn dịch… các thai phụ thường dễ mắc bệnh viêm họng, nhất là 3 tháng đầu thai kỳ, hoặc khi thời tiết thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho virut gây lây lan nhanh. Nếu không phòng tránh và điều trị kịp thời thì bệnh viêm họng sẽ gây những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của mẹ và bé.

Nguyên tắc phòng bệnh

Để không có  virut, vi khuẩn có nơi trú ẩn phát tán gây bệnh lây nhiễm thì việc đầu tiên là giữ cho nhà cửa sạch sẽ, thoáng mát, các vật dụng gia đình phải vệ sinh hàng ngày.

Để tránh viêm họng, thai phụ cần giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ, hàng ngày cần chải răng tối thiểu 2 lần/ngày và chăm súc miệng bằng nước muối loãng để sát trùng răng, miệng. Bàn chải đánh răng bị nhiễm khuẩn cũng có thể trở thành thủ phạm gây viêm họng. Bạn nên pha một cốc nước muối nóng hàng sáng để vệ sinh bàn chải trước khi đánh răng.

Để không lây nhiễm các vi khuẩn, virut thai phụ  cần hạn chế tối đa việc đến thăm hoặc tiếp xúc với những người bị cảm cúm, viêm họng để không lây nhiễm  mầm bệnh. Ra ngoài, cần đeo khẩu trang bất cứ lúc nào bạn muốn ra ngoài, ngay cả khi đi bộ để chống bụi, chống nhiễm khuẩn qua đường hô hấp.

 Phòng viêm họng ở phụ nữ mang thai Gừng hấp mật ong giúp trị viêm họng.

Lưu ý, không nên sử dụng quá nhiều muối trong khẩu phần ăn hay dùng quá nhiều đồ ăn rán, nướng, xào, khô, cay, đồ ăn chứa nhiều chất béo… mà nên ăn nhiều đồ luộc, hấp, ăn nhiều rau xanh không uống nước lạnh. Uống nước ép, ăn các loại hoa quả tươi giàu vitamin thay vì uống nước lạnh, nước có ga… Nước lạnh làm nhiệt độ ở họng giảm đột ngột sẽ gây viêm họng, mùa lạnh cần uống nước ấm và uống từ từ, từng ngụm nhỏ.

Biểu hiện

Với viêm họng cấp, thời điểm mới mắc, họng khó chịu và đau họng, sốt, ho, tắc/nghẹt mũi…

Đối với viêm họng mạn tái phát, triệu chứng khô, ngứa, ho húng hắng, họng tăng tiết dịch nhày, hơi thở hôi…

Hàng ngày, thai phụ cần tăng cường bổ sung dưỡng chất, chú ý ăn nhiều loại thực phẩm có chứa sắt, kẽm, vitamin A, B, C… nhằm giúp hệ miễn dịch hồi phục khả năng kháng bệnh, chiến đấu với bệnh tật.

Ngoài ra, các thai phụ nên tránh xa môi trường có khói thuốc lá để không hít khỏi những chất độc hại khiến cổ họng bạn bị viêm nhiễm nặng nề hơn.

Theo Bác sĩ Nguyễn Thị Hạnh (Sức khỏe và Đòi sống)

0 1176

Thông thường sau khi sinh thường tại cơ sở y tế 1-2 ngày sản phụ sẽ được xuất viện. Sau khi về nhà cách chăm sóc sau sinh là vấn đề quan trọng, cần phải có sự theo dõi  chặt chẽ và tuân thủ hướng dẫn sau.

Sau sinh sản phụ thường bị mất máu nhiều nên cần được bồi dưỡng, ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng, không nên kiêng khem quá độ, ăn những thức ăn dễ tiêu, tránh các gia vị có chất kích thích như ớt, cà phê, trà sẽ gây ảnh hưởng đến việc tiết sữa. Để có đủ sữa cho con bú, ngoài việc tích cực cho con bú, các bà mẹ nên uống đủ 2-3 lít nước mỗi ngày và uống thêm nước hoa quả, sữa.

 cham-soc-dung-cach-san-phu-sau-sinh

Đối với vú, sau khi sinh từ 2-3 ngày, sữa bắt đầu tiết ra, nên cho bé bú ngay sữa non, bú nhiều lần trong ngày để kích thích tiết sữa. Nếu việc tiết sữa bị tắc nên tích cực cho bé bú, triệu chứng đó sẽ dần dần mất đi. Tránh vắt, bóp sai cách gây vỡ tuyến, tia sữa. Cho trẻ bú mẹ sẽ giúp tử cung người mẹ co bóp tốt, sớm trở lại kích thước bình thường và tạo trạng thái tinh thần phấn chấn, gắn bó với con nơi người mẹ.

Đối với vệ sinh thân thể,  cần vệ sinh vùng âm hộ ít nhất là 3 lần/ngày vào sáng, chiều và tối trước khi đi ngủ. Nếu sản dịch ra nhiều, sản phụ nên vệ sinh nhiều lần hơn. Cần thay  băng, giấy vệ sinh, khăn, nước rửa cũng phải sạch sẽ, tốt nhất nên dùng nước đun sôi để nguội hoặc nước ấm. Có thể dùng dung dịch vệ sinh sát khuẩn pha loãng để rửa. Sau khi rửa xong thì dùng khăn thấm cho khô…

Trong quá trình sinh nở, cơ thể sản phụ tiết ra nhiều mồ hôi, nên cần phải tắm gội cho sạch sẽ. Nhất là vào mùa hè trời nóng, mồ hôi ra nhiều, để lâu không tắm, cơ thể càng bẩn, càng dễ nhiễm khuẩn gây nguy hiểm cho cả mẹ và bé. Tuy nhiên, sau khi sinh khoảng 2-3 ngày có thể tắm toàn thân nhưng cần tắm nhanh từ 5 – 10 phút, không nên tắm trong bồn hay trong chậu (đặc biệt là không nên ngâm mình trong nước). Phòng tắm phải kín gió và nên tắm bằng nước ấm dù ngoài trời nóng hay lạnh. Tắm xong phải lau khô người thật nhanh và mặc quần áo kín cổ, tay chân. Với các sản phụ đẻ mổ hay cắt tầng sinh môn, nên thận trọng với vết thương để tránh bung tuột mối chỉ. Cũng từ 3-4 ngày sau sinh, sản phụ có thể gội đầu nhưng nên gội nhanh và lau đầu cho nhanh khô, tốt nhất là dùng máy sấy để sấy khô tóc. Không tắm gội cùng lúc, mà nên tắm tầm 9 – 10 giờ sáng rồi gội đầu vào buổi trưa hoặc xế trưa để tránh phải tiếp xúc lâu với nước, tránh bị chóng mặt và có thể té ngã do phải vận động nhiều và cúi đầu lâu.

Duy trì và ổn định sức khỏe cho bà mẹ sau sinh là một trong những vấn đề quan trọng. Tập thể dục là một trong những cách tốt nhất. Để tránh tình trạng bị chứng són tiểu sau này, bà mẹ có thể tập hít thở; có thể dùng, tã cotton bó bụng để tránh xổ bụng, tập thể dục nhẹ nhàng để sớm lấy lại hình dáng thon thả.

Bác sĩ Phan Văn Thám

Theo Suckhoedoisong.vn

0 569

Theo y học cổ truyền, cá mè có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ não tuỷ, nhuận phế, ích tỳ vị, khoẻ gân cốt.

ca me

Theo y học cổ truyền, cá mè có vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ não tuỷ, nhuận phế, ích tỳ vị, khoẻ gân cốt, thích hợp đối với phụ nữ sau đẻ thiếu sữa, đau đầu do phong hàn, chóng mặt, hoa mắt, nhiều đờm, gân cốt yếu, tỳ vị hư hàn, tiêu hoá kém, chán ăn,… Xin giới thiệu một số món ăn thuốc từ cá mè để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Bài 1: Dùng cho các trường hợp huyết hư sau đẻ và thiếu sữa: Cá mè 1 con khoảng 500g, hạt mướp 30g, nghệ vàng 10g, gia vị vừa đủ. Cá mè làm sạch, cắt khúc, ướp gia vị và nghệ vàng băm nhỏ, thêm hạt mướp nấu thành canh, mỗi ngày ăn 1 lần.

– Hoặc: Cá mè 1 con 500g, mướp 30g, bột gia vị, gừng vừa đủ. Mướp gọt vỏ, rửa sạch xắt khúc. Cá mè làm sạch, cho vào nồi cùng gừng, bột gia vị, đổ nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi rồi đun nhỏ lửa tới chín nhừ là được. Ăn cá uống canh trong ngày.

Theo Bác sĩ Thanh Xuân (SKĐS)

 

0 715

Tại bất cứ thời điểm nào thì một chế độ ăn uống lành mạnh là một phần quan trọng của một lối sống lành mạnh, nhưng đặc biệt quan trọng nếu bạn đang mang thai hoặc dự định có thai. Ăn uống lành mạnh trong thời kỳ có thai sẽ giúp bé phát triển và trưởng thành.

Bạn không cần phải có một chế độ ăn uống đặc biệt, nhưng điều quan trọng là ăn nhiều loại thức ăn khác nhau mỗi ngày để có được sự cân bằng dinh dưỡng mà bạn và em bé của bạn cần. Bạn sẽ thấy rằng bạn đói hơn so với bình thường, nhưng bạn không cần phải “ăn cho 2 người” – ngay cả khi bạn đang mang thai đôi hoặc ba. Bạn cần phải có một bữa sáng đầy đủ bởi vì điều này có thể giúp bạn tránh ăn vặt các loại thực phẩm có nhiều chất béo và đường. Ăn uống lành mạnh thường có nghĩa là chỉ cần thay đổi các số liệu của các loại thực phẩm khác nhau mà bạn ăn để chế độ ăn uống của bạn khác nhau hơn là bạn cắt tất cả các mục ưa thích của bạn. Hơn nữa, bạn cần phải cẩn thận với chế độ ăn của bạn nếu bạn mắc bệnh tiểu đường thai kỳ – bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn một cách chi tiết.

protein-rich-1429023004577

Thịt, cá, trứng, ngũ cốc nguyên hạt là những thực phẩm giàu protein giúp tăng cường sức khỏe cho bà mẹ và thai nhi phát triển tốt.

Trái cây và rau quả

Ăn nhiều trái cây và rau quả vì chúng cung cấp các vitamin và khoáng chất cũng như chất xơ giúp tiêu hóa và có thể giúp ngăn ngừa táo bón. Ăn ít nhất 5 loại trái cây và rau mỗi ngày – chúng có thể là tươi, đông lạnh, đóng hộp, sấy khô hoặc nước ép. Hãy nhớ luôn luôn rửa chúng một cách cẩn thận trước khi dùng.

Các loại thực phẩm giàu tinh bột (carbohydrate)

Các loại thực phẩm giàu tinh bột là nguồn năng lượng quan trọng. Chúng bao gồm cơm, bánh mì, khoai tây, ngũ cốc ăn sáng, các loại mì, khoai lang, ngô, kê, yến mạch… Những thực phẩm này nên là một phần chính của mỗi bữa ăn. Chọn các loại bột nguyên hạt thay vì xử lý kỹ hoặc khoai tây còn vỏ khi bạn có thể vì chúng có chứa nhiều chất xơ hơn.

Chedodinhduongchobabautheotungthangmangthai_2

Protein

Bạn cần phải ăn một số loại thực phẩm protein mỗi ngày. Nguồn protein bao gồm: thịt, cá, thịt gia cầm, trứng, đậu, hạt đậu… Chọn thịt nạc, bỏ da gà, vịt và cố gắng không thêm chất béo hoặc dầu khi nấu. Hãy chắc chắn rằng trứng, thịt gia cầm, xúc xích và các thịt khác như thịt cừu, thịt bò và thịt lợn được nấu chín. Cố gắng ăn 2 bữa cá hoặc hơn mỗi tuần, một trong số đó nên là loại cá nhiều dầu như cá hồi, cá mòi hoặc cá thu.

Sữa và chế phẩm từ sữa

Thực phẩm từ sữa như sữa, pho mát, sữa chua rất quan trọng trong thời kỳ mang thai vì chúng có chứa canxi và các chất dinh dưỡng khác mà thai nhi cần. Chọn loại có chất béo thấp nhất có thể, chẳng hạn như bánh tách kem hoặc sữa tách kem, sữa chua ít chất béo với lượng đường thấp và pho mát cứng ít béo. Mục tiêu cho 2-3 phần mỗi ngày.

Các loại thực phẩm nên hạn chế

Chất béo và đường bao gồm: tất cả các chất béo như bơ, dầu, salad, kem, chocolate, khoai tây chiên giòn, bánh quy, bánh ngọt, bánh tráng miệng, đồ uống có ga…Bạn chỉ nên ăn một lượng nhỏ trong những thực phẩm này. Thức ăn ngọt và đồ uống thường chứa lượng calo cao có thể góp phần vào việc tăng cân. Thức ăn ngọt và đồ uống cũng có thể gây sâu răng.

Chất béo có chứa rất nhiều calo, vì vậy, ăn quá nhiều thức ăn béo hoặc ăn chúng quá thường xuyên có thể làm cho bạn tăng cân. Có chất béo bão hoà quá nhiều có thể làm tăng lượng cholesterol trong máu, làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tim mạch. Hãy cố gắng cắt giảm chất béo bão hòa và có một lượng nhỏ thức ăn giàu chất béo không bão hòa thay thế.

Đồ ăn nhẹ lành mạnh

Nếu bạn cảm thấy đói giữa các bữa ăn, cố gắng không ăn đồ ăn nhẹ có nhiều chất béo và/hoặc đường như kẹo, bánh quy, khoai tây chiên giòn hay sôcôla. Thay vào đó, chọn một cái gì đó lành mạnh hơn, chẳng hạn như: bánh mì, uống sữa hoặc trái cây tươi.

Theo BS. Trần Tất Đạt (SKĐS)

0 896
Để đứa trẻ sau này có hàm răng khỏe mạnh thì chế độ dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai là vô cùng quan trọng.

Trong thời kỳ thai nghén, nếu người mẹ thiếu chất dinh dưỡng, nhất là không được bổ sung đầy đủ canxi và khoáng chất, sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển răng của trẻ sau này.

Vì vậy, để đứa trẻ sau này có hàm răng khỏe mạnh thì chế độ dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai là vô cùng quan trọng. Dưới đây là một số chất người mẹ cần phải bổ sung trong thời kỳ thai nghén để đứa trẻ ra đời có hàm răng khỏe mạnh.

Chất đạm:

Đạm, chất căn bản của mọi loại tế bào, trong đó có răng, là chất phải có trong thời kỳ mẹ mang thai. Lượng protein (chất đạm) của người mẹ có thai tăng lên so với bình thường trung bình là 10g/ngày, vào 6 tháng cuối tăng thêm là 15g/ngày. Thiếu đạm, răng sữa có thể không nhú được mà sau này còn dễ bị hỏng.

Chất xơ:

Chất xơ trong loại thực phẩm này có tác dụng tẩy cọ, chải sạch răng, kích thích hệ thống tuần hoàn ở niêm mạc miệng, lợi và mô quanh răng, kích thích nước bọt chảy nhiều để tiêu hóa tốt thức ăn. Nhờ đó, nó tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa bệnh răng miệng.

Dinh dưỡng cho sản phụ và sức khỏe răng miệng của bé

Chất xơ có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa bệnh răng miệng

Canxi:

Ngay trong khi còn nằm trong bụng mẹ, mầm răng của thai nhi bắt đầu hình thành khoảng từ cuối quý hai và quý ba của thai kỳ. Cùng với hình thành cung hàm, mầm răng được hình thành tồn tại suốt trong khi thai nằm trong bụng mẹ. Mầm răng chủ yếu là canxi. Trong thời kỳ này mầm răng tích lũy dần canxi để 4 hoặc 5 tháng sau khi sinh, răng sữa bắt đầu xuất hiện trong đó hai răng cửa của hàm trên xuất hiện trước. Nếu thiếu chất canxi, răng sẽ mọc chậm hoặc không mọc. Trong thời kỳ mang thai mà mẹ không được cung cấp đủ canxi thì không những mầm răng phát triển không tốt, sau sinh đứa trẻ sẽ chậm mọc răng, chất lượng răng không tốt, dễ sún, dòn hay bị vỡ. Điều này không những ảnh hưởng đến sức nhai, khả năng khiến trẻ tiêu hóa chậm lên cân. Vì vậy, trong khi có thai, thai phụ phải được cung cấp đầy đủ một lượng canxi từ 1.500 – 2.000mg để đảm bảo cho thai nhi phát triển về bộ xương cũng như về mầm răng. Nếu chứa nhiều thai thì liều lượng canxi phải tăng nhiều hơn trong thời kỳ thai nghén và cho con bú để đáp ứng nhu cầu phát triển của tất cả các thai. Nếu không được cung cấp đầy đủ, để phục vụ nhu cầu cho thai nhi phát triển và nuôi con bằng sữa mẹ, theo lẽ tự nhiên, cơ thể tự điều bằng cách lấy bớt canxin, gây nên tình trạng loãng xương, có khi gây dính cột sống, dễ bị gãy xương. Nguồn thực phẩm tốt nhất chứa canxi là sữa và những sản phẩm làm từ bơ sữa. Tuy nhiên, nếu bạn không chịu được đường lactose hoặc không thích sữa và những sản phẩm từ sữa, bạn cần hỏi bác sĩ về loại thuốc bổ sung canxi. (Những dấu hiệu cho thấy không chịu được đường lactose là tiêu chảy, sưng phù hay đầy khi sau khi uống sữa hoặc sản phẩm làm từ sữa).

Vitamin D:

Vitamin D là chất xúc tác giúp cho cơ thể hấp thu canxi, phốt pho (những chất rất cần thiết cho sự cấu tạo xương, răng và duy trì mọi hoạt động của cơ thể). Nếu thiếu vitamin D, trẻ sẽ chậm mọc răng, men và ngà răng bị mềm hơn bình thường nên răng dễ bị sâu và bệnh này sẽ tiến triển nhanh hơn bình thường. Vitamin D có nhiều trong gan cá và gan các động vật khác, lòng đỏ trứng, dầu thực vật… Liều dùng cần thiết 400 – 800 IU/ngày.

Vitamin A:

Vitamin A để tạo chất keratin cho men răng (enamel). Thiếu sinh tố A làm men nứt, xương hàm kém phát triển khiến cho răng mọc không ngay hàng. Vitamin A có nhiều trong các loại rau trái có màu đỏ như cà rốt, cà chua, gấc, bí đỏ… hay các thực phẩm như: gan lợn, gan cá, lòng đỏ trứng, bầu dục lợn, sữa… Loại vitamin này tan trong dầu, khá bền, khó bị tiêu hủy bởi nấu nướng. Mỗi người cần 1.500 – 4.000 IU/ngày; phụ nữ có thai cần 5.000 – 6.000 IU/ngày.

Iod:

Người mẹ trước và trong quá trình mang thai bị thiếu iod sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển thai nhi có khi dẫn tới những dị tật bẩm sinh với bệnh trì độn. Đồng thời, iod còn giúp răng mau nhú.

Theo  BS. ANH ĐỨC (Sức khỏe và Đời sống)

phim thuyet minh