Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Làm mẹ

0 621

Phụ nữ nôn nghén khi có thai có thể chắt nước nấu quả me với đường trắng uống 3 lần mỗi ngày, uống trong vài ba ngày liên tiếp…

Đồng bào ở cả 3 miền nước ta rất ưa thích món canh chua lá me non nấu cá mòi, cá trích, cá quả, cá đuối, thát lát, tôm tép, lá me cho vào nước rau muống luộc… làm cho ta duy trì được mức cơm ăn hằng ngày ngon miệng, khỏi khô khát trong những ngày nóng nực, nhất là vùng có gió Lào, gây mệt mỏi chán ăn, suy kiệt. Canh chua me nấu cá là một loại canh không thể thiếu trong mâm cơm hằng ngày của dân các nước vùng nhiệt đới vì nó rất phù hợp với phép ẩm thực dưỡng sinh theo mùa của Đông y (bù nước, điện giải, nhiều vitamin khoáng chất, cung cấp đạm dễ tiêu, vị chua mặn thanh thử giải nhiệt…) để bảo vệ có hiệu quả sức khỏe, phòng được bệnh mùa hè.

 me-chua-1439474402012

Me chua.

Me làm thuốc: Các bộ phận đều dùng làm thuốc, trái me dưỡng can, minh mục, hóa tích, tán bì, sát trùng, thoát nhiệt, chỉ khát. Me làm mát gan, phổi, dạ dày, tiêu thực. Chữa nóng quá sinh phiền khát, đái đỏ sẻn. Chữa nóng rát cổ, ho khản tiếng.

Một số cách dùng thông thường.

Nôn nghén, chán cơm khi có thai.

Quả me 30g, đường trắng 10g, me cạo vỏ cho vào nồi nấu với 300ml nước, đun sôi kỹ còn 200ml, chắt nước bỏ bã. Cho đường quấy đều chia 3 lần uống trong ngày. Uống trong vài ba ngày liên tiếp.

Có thể dùng me ngào, mứt, “ô mai me” cam thảo để ngậm, ăn.

Bệnh gan mật vàng da: Thịt quả me 20-120g pha đường đủ ngọt uống trong ngày. Trẻ em 3 tuổi: 5g, 5 tuổi: 10g, 12 tuổi: 30g. Quả me nghiền nát bỏ xơ. Cứ 50g thịt quả me trộn với 125g đường cho vào 500g đun còn 200g. Quả me cũng có tác dụng lợi mật. Để uống chữa sỏi mật, đồng bào vùng Đồng Tháp Mười dùng hạt me rang vàng xay bột mịn uống với nước đun sôi để nguội.

Trẻ em mùa hè rôm sảy, mẩn ngứa: Lá me nấu nước tắm.

Táo bón: Ăn quả me chín hoặc sắc nước gỗ me uống.

Viêm lợi răng: Vỏ cây me sắc nước đặc ngậm, súc miệng.

Chảy máu ngoài da: Cầm máu bằng rắc bột vỏ cây me hoặc giã đắp.

Tẩy giun: Hạt me rang chín tán bột 190g, 160g bột quả giun (sử quân tử đã bào chế kỹ tránh gây nấc), đường vừa đủ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi sáng 3 viên uống 3 sáng liền. Không phải dùng thuốc tẩy.

Viêm kết mạc: Lá me rửa thật sạch đủ để hãm vào cốc nước thật sôi làm thuốc nhỏ mắt, rửa mắt. Nên nhờ người có chuyên môn pha chế!

Bồi dưỡng chữa suy nhược: Vitamin C, B có nhiều ở quả chữa chảy máu chân răng. Vitamin B có nhiều ở búp lá, lá non. Pha nước uống, làm thức ăn hằng ngày.

Theo các tài liệu chuyên đề “Cây thuốc dân gian vùng Caribê” của UNESCO (1984) và sách Những cây họ đậu nhiệt đới nguồn tài nguyên tương lai của Viện Hàn lâm Mỹ (1970) còn nói đến các công dụng khác của me: Vỏ sắc nước chữa hen suyễn…, lá non giã đắp vào chỗ đau của thấp khớp cấp, thịt trái me có hoạt tính chống sỏi thận. Ở Đôminica trong bài thuốc bảo vệ gan, có thành phần của me. Hoa me là nguồn quan trọng để nuôi ong lấy mật, làm thức ăn, thuốc.

Theo BS. Phó Thuần Hương (SKĐS)

0 707

Từ khi mang thai đến tháng thứ 4, gia đình cho rằng, tôi phải tăng cường ăn thêm trứng ngỗng thì đẻ con mới to khỏe, thông minh. Xin hỏi bác sĩ, trứng ngỗng có chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho phụ nữ mang thai hay không? Chị Nguyễn Thị Yến (Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội)

mang-thai-3

Một quả trứng ngỗng thường có trọng lượng khoảng 300 gam, nặng gấp 4 lần trứng gà và 3 lần trứng vịt. Về giá trị dinh dưỡng, trứng ngỗng không thể so sánh với trứng gà, cũng như thịt ngỗng so với thịt gà. Về an toàn vệ sinh thực phẩm thì trứng gà sạch hơn trứng ngỗng, vì gà đẻ trứng ở nơi khô ráo, nơi ít có vi khuẩn và ký sinh trùng hơn trứng ngỗng. So với trứng gà, trứng ngỗng có tỷ lệ protein thấp hơn (tỷ lệ protein trong trứng gà toàn phần là 14,8%) nhưng lại có lượng lipid cao hơn (tỷ lệ lipid trong trứng gà là 11,6%).

Hàm lượng vitamin A trong trứng ngỗng chỉ bằng một nửa so với trứng gà (360mcg so với 700mcg trong trứng gà), đặc biệt là vitamin A rất cần cho phụ nữ có thai. Ngoài ra, trứng ngỗng có nhiều cholesterol và giàu lipid là những chất không tốt cho sức khỏe và hệ tim mạch của phụ nữ mang thai bị thừa cân, béo phì, rối loạn lipid máu, tiểu đường, cao huyết áp…
Nhiều người phụ nữ quan niệm rằng, khi có thai ăn nhiều trứng ngỗng thì thai phát triển khỏe mạnh, thông minh là không đúng. Mỗi loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng khác nhau – không có loại nào là hoàn thiện đủ các chất dinh dưỡng, vì vậy cần ăn đa dạng các loại thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày để bổ sung các chất dinh dưỡng cho nhau. Mỗi loại thực phẩm chỉ nên ăn 3 lần/tuần, phụ nữ mang thai không nên lạm dụng ăn trứng ngỗng, vì giá thành đắt, ăn vào khó tiêu.

Tuy nhiên, nếu bồi bổ bằng trứng gà cùng với chế độ ăn hằng ngày hợp lý cũng đã cung cấp đủ các thành phần dinh dưỡng cho thai phụ.

Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào chứng minh ăn trứng ngỗng sẽ sinh con thông minh hơn. Trẻ em thông minh hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Chế độ dinh dưỡng của người mẹ, bổ sung viên sắt/a xít folic trong thời gian mang thai, yếu tố di truyền, môi trường sống và giáo dục sau này… chứ không phụ thuộc vào ăn nhiều trứng ngỗng hay không.

 (Bác sĩ Nguyễn Văn Tiến Viện Dinh dưỡng quốc gia)

Theo baodansinh.vn/ hanoimoi.com.vn

0 561

Hầu hết phụ nữ khi mang thai đều mong muốn có một thai kỳ khỏe mạnh. Tuy nhiên, do việc bổ sung thái quá chất dinh dưỡng đã khiến các bà bầu thừa cân trong thai kỳ. Việc bà bầu thừa cân ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé thế nào? Thai phụ làm gì để tránh nguy cơ thừa cân?

thua can khi mang thai

Cần kiểm soát cân nặng khi mang thai.

Ảnh hưởng thừa cân đến sức khỏe của mẹ và bé như thế nào?

Nếu bạn tăng cân nhanh và bị béo phì trong khi mang thai người mẹ sẽ dễ mắc các bệnh như tăng huyết áp, ối vỡ sớm, viêm tĩnh mạch, nguy cơ cao bị sảy thai và tiền sản giật… Trong khi sinh mẹ còn có nguy cơ chảy nhiều máu hơn những sản phụ khác do khi sinh lực co bóp tử cung yếu dẫn đến phải sinh mổ. Khi phẫu thuật mổ lấy thai cũng trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn đối với các bà bầu thừa cân. Lớp mỡ dày dưới da sẽ khiến bác sĩ khó khăn hơn trong việc gây tê, truyền tĩnh mạch… Ngoài ra, việc tăng cân quá mức trong thời kỳ mang thai cũng làm tăng nguy cơ mẹ bầu bị tiểu đường thai kỳ, hậu quả là đứa con sinh ra sẽ có nhiều nguy cơ mắc bệnh khi trưởng thành. Mặt khác, việc mẹ béo phì trong thai kỳ cũng làm tăng nguy cơ thai to và phải can thiệp khi sinh, nguy cơ hạ đường huyết sơ sinh, vàng da, hạ canxi máu… nguy hiểm cho mẹ và bé trong quá trình sinh nở tăng cao.

Theo BS. Trần Thanh Tâm (SKĐS)

0 975

Một nghiên cứu đăng trên Tạp Chí « Fertility and Sterility » cho thấy những phụ nữ muốn tăng cơ hội thụ thai thì không nên uống quá 2 cốc cà phê mỗi ngày.

Một nghiên cứu đăng trên Tạp Chí « Fertility and Sterility » cho thấy những phụ nữ  muốn tăng cơ hội thụ thai thì không nên uống quá 2 cốc cà phê mỗi ngày.

Uống cà phê tốt cho sức khỏe nhưng không nên lạm dụng, các nhà dinh Dưỡng khuyên không nên uống quá 3 cốc mỗi ngày (300 mg mỗi ngày). Tuy nhiên điều này còn tùy thuộc vào loại cà phê, tuổi, độ đậm đặc, độ nhạy cảm của cơ thể và loại cà phê.

caphe-eb410

Các nhà nghiên cứu tại Viện Sức khỏe Quốc gia – Mỹ đã khảo sát 501 cặp vợ chồng người Texas mong muốn có con. Tất cả họ đều báo cáo lại chế độ ăn uống hàng ngày bao gồm cả đồ uống như cà phê, bia rượu. Những phụ nữ có thai trong năm sẽ được theo dõi đến lúc sinh. Trong số đó có 344 phụ nữ mang thai và có 98 trường hợp bị sảy thai, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận những bà mẹ này uống nhiều cà phê, nguy cơ càng tăng đối với thai phụ trên 35 tuổi. Nhưng theo Germaine Buck Louis- tác giả chính của công trình nghiên cứu cho biết điều này không chỉ liên quan đến người vợ  mà nguy có sảy thai liên quan đến người chồng nếu họ cũng uống trên 2 cốc cà phê mỗi ngày.

Để tăng cơ hội thụ thai hãy nên uống ít cà phê và tăng thêm lượng vitamin. Uống cà phê không tốt cho phụ nữ mang thai nhưng bạn hãy nên hạn chế từ khi có ý định muốn sinh con.  Bổ sung thêm vitamin trong những tuần trước khi thụ thai làm giảm 55% nguy cơ sảy thai, nếu tiếp tục bổ sung thêm vitamin trong thai kỳ  giảm 79%, đặc biệt vitamine B6 và B9 và những vitamine này tìm thấy nhiều trong lòng đỏ trứng, rau bina, gan ngỗng…

Bs Ái Thủy

(Theo suckhoedoisong.vn/ Metronew.fr)

0 794

Đu đủ xanh, rau ngót, cây lô hội… là loại thực phẩm phổ biến trong cuộc sống. Tuy nhiên, phụ nữ trong quá trình mang thai nên hạn chế ăn các loại thực phẩm này.

Đu đủ xanh

Đu đủ là một loại trái cây ngon, bổ, rẻ rất được các chị em phụ nữ yêu thích. Tuy nhiên, có lẽ nhiều người không thực sự biết rõ được tác hại của loại quả đu đủ xanh này đối với các chị em phụ nữ mang thai.

Theo các nhà nghiên cứu ở Ấn Độ đã nghiên cứu về tác động của đu đủ xanh trên chuột. Theo đó, các nhà nghiên cứu đã cho chuột ăn nhiều loại hoa quả và kết quả cho thấy, đu đủ xanh có chất gây sẩy thai.

Thử nghiệm chất chiết xuất từ nhựa đu đủ (papain, PLE) trên tử cung chuột cho thấy, nhựa đu đủ khiến tử cung bị co bóp và mạnh nhất là thời kỳ sau của thai kỳ, có thể gây ra phù và xuất huyết nhau thai – những biến chứng nguy hiểm trong thai kỳ, có thể dẫn tới sinh non.

Cũng theo Đông y, trong đu đủ xanh có chứa papain, một chất phá hủy màng tế bào phôi thai và có thể tăng nguy cơ sẩy thai.

Do vậy, phụ nữ đang có thai hoặc đang chuẩn bị để có thai, tốt nhất nên hạn chế ăn đu đủ, nhất là đu đủ xanh. Ngoài ra, các mẹ chú ý không nên ăn hạt đu đủ bởi trong hạt có chứa chất độc carpine. Với một số lượng lớn carpine sẽ làm rối loạn mạch đập, làm suy nhược hệ thống thần kinh. Bản thân đu đủ có tính hàn nên mẹ bầu không nên ăn đu đủ lạnh.

1-thuc-pham-han-che-an-khi-mang-thai-1-1438059560407

Ảnh minh họa

Rau ngót

Theo bác sĩ Hương – Khoa Phụ sản – Bệnh viện Tuệ Tĩnh cho biết, ăn rau ngót làm sẩy thai hay không thì cũng chưa thể khẳng định vì chưa có tài liệu nào nghiên cứu tác động gây sẩy thai của rau ngót. Trong rau ngót có những thành phần dinh dưỡng như tới 5,3% protit, 3,4% gluxit, trong đó chủ yếu là canxi (169mg%), photpho (64,5mg%), Vitamin C (185mg%).

Rau ngót có nhiều axit min cần thiết. Ví dụ như trong 100g rau ngót có 0,16g lysin; 0,13g metionin; 0,05g tryp-tophan; 0,25g phenylalalin, 0,34g treonin, 0,17g valin, 0,24g leuxin và 0,17g izoleucin…

Thực tế, có rất nhiều trường hợp phụ nữ mang thai đôi khi vẫn ăn canh rau ngót bình thường mà vẫn không ảnh hưởng đến thai nhi.

Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe của mỗi sản phụ là khác nhau. Những thai phụ có tiền sử sẩy thai liên tiếp, đẻ non, con quý hiếm (thụ tinh trong ống nghiệm) thì nên hạn chế ăn rau ngót đặc biệt là uống nước rau ngót sống, liều cao.

Phụ nữ mang thai bình thường thỉnh thoảng vẫn có thể ăn rau ngót luộc hay nấu canh. Nhưng, phải chọn những loại rau ngót sạch, tươi để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, tránh ngộ độc – bác sĩ Hương cho biết.

2-thuc-pham-han-che-an-khi-mang-thai-3-1438059558862

Ảnh minh họa

Cây lô hội

Theo y học cổ truyền, cây lô hội (hay nha đam) có vị đắng, tính hàn, tác dụng sát trùng, thanh nhiệt, thông tiện, làm mát gan… Dùng để chữa các chứng rối loạn tiêu hoá, ăn uống không tiêu, làm thuốc nhuận trường, trẻ con bị cam tích, táo bón, chữa viêm loét dạ dày…

Tuy nhiên, các bác sỹ cũng khuyến cáo, phụ nữ có thai và đang cho con bú tuyệt đối không nên dùng, vì những báo cáo gần đây cho thấy nha đam có thể liên quan tới sẩy thai, dị tật bẩm sinh. Cây lô hội có tác dụng kích thích tiêu hoá, thông mật nhuận tràng. Tuy nhiên, cây này cũng rất độc, chất độc nằm trong toàn bộ cây. Phụ nữ có thai khi ăn phải cây lô hội sẽ xuất hiện sẽ xuất hiện triệu chứng đau bụng dữ dội, nôn mửa liên tục, đi ngoài phân lỏng, xuất huyết tiêu hoá, tăng nguy cơ bị sẩy ở phụ nữ mang thai.

Theo DS Lê Kim Phụng, Đại học Y dược TP.HCM, nhựa cây nha đam nguyên chất là một chất độc, khi để ra ngoài không khí chất nhựa này dễ bị oxy hoá làm mất đi một phần hoạt tính, do đó cần có quy trình chiết xuất đúng đắn để ổn định hoạt chất.

Khi ăn nha đam, cần làm sạch lớp mủ màu vàng kế bên lớp thạch để tránh ngộ độc. Không nên bôi trực tiếp lên da vì dễ bị kích ứng gây đỏ da và viêm loét. Đối với phụ nữ có da dễ nhạy cảm, trước khi sử dụng cần phải kiểm tra trước để tránh làm sưng tấy và nhiễm trùng vùng da bị dị ứng.

3-thuc-pham-han-che-an-khi-mang-thai-2-1438059557372

Ảnh minh họa

Theo các chuyên gia dinh dưỡng để đảm bảo sức khỏe cho phụ nữ mang bầu nên lưu ý:

Phụ nữ mang bầu cần ăn thêm bữa và tăng lượng thức ăn, chú ý tăng cường thực phẩm giàu đạm, kẽm, sắt, vitamin A, vitamin C và canxi. Ăn đầy đủ, đa dạng các loại thực phẩm.

Không nên dùng các chất kích thích như: rượu, cà phê, thuốc lá, chè đặc, ớt, hạt tiêu, giấm… Nên ăn nhạt, bớt muối nhất là những bà mẹ bị phù thận để giảm phù và tai biến khi đẻ.

Ngoài việc ăn uống hợp lý, những chị em có sức khỏe kém cần tạo cho mình cuộc sống vui vẻ, không bực tức, lo lắng để tránh stress. Chú ý nghỉ ngơi, làm việc nhẹ nhất là 3 tháng đầu. Cần phải vận động, đi lại, tránh nằm một chỗ (trừ trường hợp bác sĩ chỉ định), không thức quá khuya.

Tránh đu đủ xanh, lô hội, rau ngót… hay một số loại thức ăn được khuyến cáo ít sử dụng.

Ăn chín, uống sôi, hạn chế ăn ngoài đường, tránh các loại thực phẩm được khuyến cáo có nhiều chất bảo quản, thủy ngân…

Theo SK ĐS/Tri Thức Trẻ

0 795
Mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, đây là một quá trình sinh lý bình thường.

Mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, đây là một quá trình sinh lý bình thường. Tuy nhiên trong thời gian mang thai, chị em có thể gặp những khó chịu, khiến chị em ít nhiều lo lắng  nhưng tất cả những điều đó lại là chuyện hoàn toàn bình thường. Nguyên nhân của không ít các triệu chứng này là do sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể lúc mang thai. Sau đây là những bệnh thường gặp và cách khắc phục.

9bee8echuyennhungbabauxanhmatv

 

Ốm nghén: Là một trong những dấu hiệu thai kỳ xuất hiện đầu tiên, có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào trong ngày. Sự mệt mỏi có thể làm cho vấn đề trầm trọng hơn. Triệu chứng buồn nôn, nôn, sợ một số mùi vị nhưng lại thèm ăn của lạ (chua, chát, đắng…). Trong giai đoạn nghén, hãy chọn ăn những gì mình thích, tránh dùng các thức ăn và mùi làm cho cảm thấy buồn nôn. Bạn có thể ăn mỗi lần một ít, ăn nhiều lần trong ngày. Ợ chua và thấy đau rát ở ngay giữa lồng ngực cũng thường gặp khi nghén. Nguyên nhân liên quan đến nội tiết gây mềm và giãn van tâm vị (van giữa dạ dày và thực quản), vì vậy chất chua trong dạ dày trào ngược trở lại thực quản. Để hạn chế, bạn nên uống một cốc sữa nóng trước khi đi ngủ và nâng cao đầu giường hoặc sử dụng thêm gối để gối đầu.

ddd-1427217636730

Do tử cung mang thai sẽ to ra và đè ép lên bàng quang gây són tiểu.

Chảy máu chân răng: Thường khi có thai lợi dễ bị viêm và chảy máu chân răng, đặc biệt là sau khi đánh răng, vì các cơ vùng này trở nên mềm, phì đại hơn và dễ bị tổn thương trong lúc mang thai. Các tổ chức quanh cổ răng có thể sưng đỏ khiến cho bựa tích tụ ở chân răng. Ðiều này có thể dẫn tới viêm quanh răng (nha chu viêm) hoặc sâu răng. Nếu thường xuyên chảy máu mỗi khi đánh răng bạn nên đi khám nha sĩ.

mang-thai

Bị vọp bẻ (chuột rút): Là do co thắt cơ bắp gây đau, thường là xảy ra ở cẳng chân và bàn chân, nhiều khi vọp bẻ vào ban đêm làm thai phụ đau nên tỉnh giấc gây mất ngủ. Vọp bẻ thường xảy ra khi thai ở những tháng cuối cũng có khi ở 3 tháng đầu do nghén nặng nôn nhiều, không ăn được nên thiếu các vi chất, trong đó hay gặp là thiếu canxi. Triệu chứng khi vọp bẻ là cẳng chân duỗi đơ với các ngón chân quắp xuống gây đau buốt khó chịu. Nếu thường xuyên bị vọp bẻ gây mất ngủ ảnh hưởng sức khỏe thì bạn cần đi khám, có thể bác sĩ sẽ kê đơn thuốc bổ sung thêm canxi và vitamin D.

Chứng táo bón: Hormon progesterone của thời kỳ mang thai làm chùng giãn các cơ ruột khiến cho các nhu động ruột giảm đi và gây ra chứng táo bón. Bạn nên ăn thức ăn giàu chất xơ và uống nhiều nước. Chú ý chọn các loại rau củ có tính nhuận tràng như rau lang, mồng tơi, rau đay, khoai tây, bí đỏ, đu đủ chín, chuối chín… Hãy đi ngoài bất cứ lúc nào bạn cảm thấy có nhu cầu. Hãy đi khám bác sĩ nếu chứng táo bón kéo dài vì nếu để lâu có thể là nguyên nhân gây bệnh trĩ. Tuyệt đối không dùng thuốc nhuận tràng.

Đái dắt, đái són:  Đái dắt có thể gặp ở thai 3 tháng đầu là do tử cung to lên trong tiểu khung nên chèn ép vào bàng quang. Triệu chứng này sẽ thuyên giảm trong các tháng giữa của thai kỳ. Bạn nên đi khám bác sĩ nếu thấy buốt mỗi khi đi tiểu vì có thể là bạn đã nhiễm khuẩn đường tiểu. Són đái thường hay gặp trong 3 tháng cuối. Thường són một ít nước tiểu ra quần vào những lúc chạy, ho, hắt hơi hay cười. Là do các cơ sàn chậu yếu và do em bé ngày một lớn ép lên bàng quang. Để khắc phục tình trạng này bạn nên đi tiểu thường xuyên, nên tập luyện các cơ sàn xương chậu đều đặn, có thể theo một khóa học tiền sản do bác sĩ chuyên sản hướng dẫn.

bld150699_26993

Viêm âm đạo do nấm: Bình thường dịch âm đạo trong hoặc trắng đục không mùi. Khi mang thai, bạn sẽ thấy tiết ra hơi nhiều hơn, không đau hay rát. Bạn có thể nhận thấy cửa mình tăng tiết chất nhầy (huyết trắng) do có biến động nội tiết tố trong lúc mang thai. Tuy nhiên, nếu gây ngứa ngáy khó chịu cũng có khi bạn thấy đau rát khi đi tiểu là có viêm âm đạo và hay gặp là nấm âm đạo. Ðiều quan trọng là cần chữa cho hết chứng bệnh này trước khi em bé ra đời vì chứng bệnh này có thể lây qua miệng bé khi đẻ đường dưới làm cho em bé bị nấm miệng sơ sinh, việc nuôi bé trở thành khó. Vì vậy cần vệ sinh vùng kín bằng nước sạch, thường xuyên thay quần lót, tránh thụt rửa âm đạo, không nên dùng xà phòng có độ tẩy cao để rửa âm hộ vì dùng xà phòng để rửa sạch có thể làm cho chứng viêm âm đạo do nấm nặng hơn. Tránh mặc quần lót bằng vải nilon, nếu ngứa và khí hư ra nhiều kèm tiểu rát cần khám bác sĩ ngay để được chỉ định dùng thuốc đặt âm đạo.

Theo BS. Phạm Minh Nguyệt (Sức khỏe  và Đời sống)

0 619
Nguyên nhân gây viêm họng ở phụ nữ mang thai có thể do virut, vi khuẩn, nấm… Và chính sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai…
Nguyên nhân gây viêm họng ở phụ nữ mang thai có thể do virut, vi khuẩn, nấm… Và chính sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai cũng là một trong những yếu tố thuận lợi gây viêm họng ở thai phụ.

Bà bầu viêm họng, dùng thuốc như thế nào?

Viêm họng ở phụ nữ mang thai lại thường hay xuất hiện trong ba tháng đầu của thai kỳ với các biểu hiện sốt, kèm theo ho, đau rát họng… (giống như viêm họng ở người bình thường). Trong khi đó, ở khoảng thời gian này việc sử dụng thuốc phải hết sức thận trọng để tránh tác động xấu của thuốc tới thai nhi.

Trong trường hợp viêm họng do virut thì không cần dùng kháng sinh mà chỉ cần dùng các thuốc điều trị triệu chứng: hạ sốt (dùng paracetamol, không được dùng aspirin vì dễ gây quái thai trong 3 tháng đầu, còn 3 tháng cuối nếu dùng aspirin sẽ gây các rối loạn ở phổi, liên quan đến việc đóng ống động mạch của bào thai trong tử cung, mặt khác có thể kéo dài thời gian mang thai và chậm chuyển dạ). Thuốc giảm ho có thể dùng là dextromethorphan, nhưng chỉ sử dụng khi triệu chứng ho làm ảnh hưởng tới thai phụ như ho liên tục làm họ không ăn uống gì được, ho có thể ảnh hưởng đến thai như gây sảy thai… Để giảm đau họng, tốt nhất chỉ nên súc họng bằng nước muối pha loãng hoặc điều trị bằng thuốc chấm họng không ảnh hưởng tới thai nhi hoặc có thể sử dụng một số bài thuốc Đông y như chế phẩm viên ngậm từ xạ can, cao cồn xạ can, cát cánh, trần bì, la hán, kha tử… cũng có tác dụng tốt trong điều trị viêm họng, giảm đau, chống viêm tấy, làm mềm và ẩm niêm mạc họng, kích thích xuất tiết, giảm phản xạ ho…

Nếu viêm họng do vi khuẩn cần phải dùng đến kháng sinh để điều trị. Một số kháng sinh có thể dùng như nhóm kháng sinh beta-lactam (các penicilin, cefalosporin và car- bapenem). Nếu bị dị ứng với các thuốc kháng sinh trên có thể dùng nhóm macrolid như erythromycin, clarithromycin, azithromycin… Tuy nhiên, cần lưu ý, phụ nữ có thai không được tự điều trị viêm họng mà việc dùng các thuốc trên phải do bác sĩ chỉ định và được sự theo dõi của bác sĩ.

Theo DS. Nguyễn Thị An (Sức khỏe và Đời sống)

0 389

Nếu con gái của bạn bắt đầu hỏi những câu hỏi liên quan tới vùng kín của bé hay vì sao cơ thể của bé lại khác các bạn nam, vì sao cơ thể bé lại khác với người lớn thì bạn nên xem những lời khuyên dưới đây về cách ứng xử cho vấn đề khá nhạy cảm này.

Đứa con gái nhỏ của tôi hiện đang ở độ tuổi thấy gì cũng tò mò, nghe gì cũng thắc mắc. Rồi con bé bắt đầu để ý sự khác biệt giữa cơ thể của nó và cơ thể các bạn nam, hay cơ thể của bé và người lớn. Và như bao đứa trẻ cùng độ tuổi, nó không ngại hỏi tôi nhiều câu hỏi khiến tôi bối rối. Dù tôi dạy con bé hãy luôn tự tin nói ra suy nghĩ của mình, tôi phải công nhận rằng việc con bé thi thoảng cứ hỏi về “chỗ nhạy cảm” của bé ở nơi công cộng cũng khiến tôi vô cùng khó xử. Tôi đã tìm đến bác sĩ Shuchi Dalvi, một nhà tâm lí học trẻ em để tìm ra giải pháp ứng biến với sự tò mò mới của con gái mình.

Bác sĩ Dalvi cho biết: “Việc con bạn bắt đầu tò mò và tự khám phá cơ thể của chúng không có gì lạ, nhưng cái chính là trách nhiệm của bậc phụ huynh trong việc giáo dục và giải thích cho chúng nghe về mục đích của từng bộ phận trên cơ thể khi các bé bày tỏ thắc mắc. Dù đó là vùng kín hay là đôi mắt, lỗ tai… Hãy trả lời những câu hỏi của các bé một cách thật thà”. Bà cũng chia sẻ với tôi vài lời khuyên trong việc ứng xử với con mình trong những trường hợp này.

photo-1-1487476377911

(Ảnh: Internet)

– Đừng la rầy các bé: Việc con trẻ khám phá cơ thể mình không có gì phải xấu hổ, trước hay sau chúng cũng sẽ phát hiện ra rằng cơ thể của chúng không giống như cơ thể của các bé trai cùng tuổi. Và nếu chúng đặt câu hỏi về việc đó thì cũng đừng ngại giải thích một cách đơn giản và dễ hiểu tại sao lại như vậy. Cũng đừng ngại dùng hai cái tên tả vùng kín của nam lẫn nữ trước mặt chúng vì nếu bạn cứ dạy chúng rằng việc nói về cơ thể của bản thân là điều cấm kị thì nó có thể có ảnh hưởng xấu tới tâm lí của các bé sau này.

– Đánh lạc hướng các bé: Nếu bạn và con bạn đang ở nơi công cộng, và con bé bắt đầu hỏi những câu gây ngượng về cơ thể của các bé hoặc các bạn xung quanh, hãy nhanh chóng tìm cách hay một cái gì đó để đánh lạc hướng bé. Thêm vào đó, hãy dặn bé rằng bé có thể hỏi bạn về những việc này ở những nơi riêng tư, như tại nhà. Cố đừng để cho cả bé lẫn bạn cảm thấy xấu hổ mỗi khi nó có những thắc mắc tương tự.

– Giáo dục giới tính cho con: Đây cũng là lúc hợp lí để dạy cho con mình cái đúng cái sai trong vấn đề về giới tính. Nếu con cái hỏi bạn về những vị trí nhạy cảm trên người thì đừng ngại giải thích tận tình cũng như đừng quên dặn chúng rằng những vị trí đó chỉ có cha hoặc mẹ hay những người thuộc ngành y khoa (bác sĩ, y tá…) khi thăm khám mới được quyền chạm vào, ngoài ra không một ai khác có quyền làm vậy.

Việc giải thích và giáo dục con bạn về những vấn đề này khá khó và cũng rất quan trọng. Nên nhớ rằng giải thích cho các bé hiểu là tốt các bậc phụ huynh cũng đừng nên nói thêm những thông tin vượt xe tầm hiểu biết của một đứa trẻ ở độ tuổi quá nhỏ.

(Nguồn: TheHealthSite)

Theo Giadinhvatreem.vn/(Trí Thức Trẻ)

0 844

Trong ba tháng đầu dinh dưỡng cho bà bầu rất quan trọng. Cùng tham khảo một số loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe của mẹ bầu dưới đây nhé

Dinh dưỡng cho bà bầu trong 3 tháng đầu rất quan trọng

Quá trình mang thai của người phụ nữ khá vất vả và nhiều thử thách, chính vì vậy người nhà phải chiều bất cứ đồ ăn, thức uống nào bà bầu muốn, dù là đêm hay ngày cũng phải đáp ứng đầy đủ, đây giống như một “đặc quyền” riêng vậy. Chọn chế độ ăn uống xanh, sạch tốt sẽ giúp cả mẹ và bé mạnh khỏe, đây cũng như món quà tặng bé trước khi bé chào đời.

sua_chua_hanh_nhan

Giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ bà bầu không cần phải ăn ráng thật nhiều, bởi đang trong quá trình ốm nghén rất dễ nôn. Mà chỉ cần chia nhỏ khẩu phần ăn của mình khoảng 5-6 bữa/ngày và duy trì được mức năng lượng này ổn định, bổ sung thêm thuốc bổ (sắt, acid folic, B12), protein, chất đạm dễ tiêu hóa và hấp thụ như: sữa, trứng, cá, đậu và thịt gia cầm… bởi rất cần cho sự phát triển não bộ và hệ thần kinh của bé trong giai đoạn này.

Các chất cần thiết cho cơ thế bà bầu:

Một ngày cần 3 bữa chính + 3 bữa phụ đầy đủ các chất như: thịt, cá, trứng, đậu… ăn nhiều trái cây, rau xanh để cung cấp đủ vitamin tăng sức đề kháng.

– Chất sắt: giúp phòng ngừa bệnh thiếu máu và tăng thể tích máu, có nhiều trong tim, gan, thịt, cật, rau xanh và các loại hạt…

3 sai lam khi an rau xanh

Bà bầu nên ăn nhiều rau xanh để cung cấp chất sắt cho cơ thể

– Canxi: giúp đồng máu bình thường và hoạt động hệ thần kinh tốt, hình thành hệ xương và răng vững chắc cho bé, có nhiều trong cá, cua, tôm, trứng, sữa, đậu đỗ, rau xanh…

– Acid folic (vitamin B9): giúp giảm nguy cơ bị tật nứt đốt sống trong bào thài và dị tật ống thần kinh cho trẻ, có trong các loại rau màu xanh thẫm như rau muống, cải xanh, súp lơ xanh…hoặc một số loại hạt.

– Vitamin D: có trong trứng, sữa và ánh nắng mặt trời, mỗi ngày nên phơi nắng khoảng 15 phút và để ánh nắng chiếu trực tiếp vào cơ thể, không nên phơi nắng sau cửa kính.

– Vitamin C: giúp hỗ trợ phát triển cơ, mạch máu và xương sụn cho bào thai, tạo bánh nhau bền chắc, cũng là một chất chống oxy hóa giúp tăng cường sức đề kháng, có trong các loại rau xanh, trái cây…

Theo suckhoedoisong.vn

1 622
Các nhà khoa học Mỹ đã đưa ra kết luận rằng những những thói quen của mẹ bầu có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển về trí tuệ, tính cách, thói quen của bé sau này.

Đi ngủ muộn

Đồng hồ sinh học của trẻ được thiết lập từ khi còn là bào thai, chính vì vậy, việc mẹ thức khuya, dậy sớm cũng ảnh hưởng đến bé. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, người mẹ thường xuyên thức khuya, chơi đêm sẽ sinh ra những đứa trẻ có xu hướng ngủ đêm ít hơn và thậm chí còn khó tính hơn. Bà mẹ mang thai đi ngủ đúng giờ và có giấc ngủ đêm đủ giấc cũng giúp trẻ sau khi chào đời có thói quen ăn ngủ giống bố mẹ.

Trong thời gian mang thai, mẹ nên từ bỏ những thói quen xấu, dành thời gian nghỉ ngơi đặc biệt là đi ngủ đủ giấc và đúng giờ. Mẹ cần ngủ ít nhất 8 giờ mỗi ngày và có thêm 1 giờ nghỉ trưa. Ngoài ra, mẹ bầu cũng cần tránh xa rượu, thuốc lá, những nơi quá ồn ào để không ảnh hưởng xấu đến bé.

Những thói quen xấu của mẹ bầu ảnh hưởng đến trẻ

Hay cáu gắt, căng thẳng

Chúng ta đều biết rằng tính cách của thai nhi bị ảnh hưởng rất lớn từ tính cách và tâm trạng của mẹ bầu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tâm trạng của mẹ thường xuyên stress khi mang bầu có thể dẫn đến những thay đổi trong môi trường vật lý và truyền đến bé qua nhau thai, đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến tính cách của trẻ.

Những thói quen xấu của mẹ bầu ảnh hưởng đến trẻ

Nếu mẹ bầu thường xuyên ủ rũ, chán nản hay buồn bã thì đứa trẻ sau này sinh ra chắc chắn sẽ không thể hay cười và cũng buồn như mẹ.

Việc duy trì một tâm trạng tốt khi mang thai là rất cần thiết. Mẹ nên tạo tâm lý thoải mái, tránh căng thẳng trong công việc và cuộc sống, đồng thời nên chăm chỉ tập luyện thể thao. Mẹ nên dành 30 phút mỗi ngày để đi bộ hoặc tập những môn thể thao mình yêu thích. Nếu mẹ thực sự cảm thấy mệt mỏi, chán nản, hãy dành thời gian nghỉ ngơi hoặc tâm sự với người thân, bạn bè. Trong sinh hoạt hàng ngày, mẹ bầu cũng nên cải thiện tâm trạng bằng cách xem phim hài, đọc truyện cười hoặc làm những hoạt động mình yêu thích… sẽ giúp cải thiện tâm trạng rất tốt.

Ít vận động

Khi mang thai, nhiều thai phụ thường nghĩ rằng đây là thời gian mình cần được nghỉ ngơi nhiều và gia đình cũng ưu tiên hết mức. Vì vậy, thai phụ thường không làm việc và chỉ nằm một chỗ. Đây chính là quan niệm hoàn toàn sai lầm và dễ sinh ra những đứa trẻ kém phát triển.

Thực tế, thai phụ và em bé có sự kết nối thông tin rất mật thiết. Khi mẹ làm việc, suy nghĩ đầu óc hay vận động chân tay thì em bé đều cảm nhận được và đó như sợi dây vô tình kết nối hai mẹ con. Mẹ lười học tập, lao động sẽ sinh ra những em bé cũng sẽ lười biếng, kém phát triển trí não.

Những thói quen xấu của mẹ bầu ảnh hưởng đến trẻ

Hãy để bộ não của bạn làm việc cho dù bạn đang bầu bí vì như thế sẽ giúp não bộ của bé cũng được kích thích đấy. Mẹ hãy cứ đọc sách, nghe nhạc, thậm chí là suy nghĩ về công việc để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của thai nhi.

Ăn uống không đủ hoặc không đúng bữa

 Việc mẹ kén ăn có thể ảnh hưởng đến sự dung nạp dinh dưỡng cho cơ thể, khiến cơ thể không đủ chất. Hơn thế nữa, chế độ ăn không đủ chất của mẹ còn ảnh hưởng đến sở thích ăn uống của bé nữa. Vì thế, mẹ tuyệt đối không nên chỉ ưu tiên những thực phẩm mình thích mà bỏ qua những món ăn giàu dưỡng chất khác. Điều này không tốt với sự hình thành sở thích ăn uống của bé chút nào.

Một số thai phụ kén ăn cũng có thể khiến thai phụ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng nhất định. Chẳng hạn như thiếu axit folic vào đầu thai kỳ có thể gây dị tật thai nhi, dị tật ống thần kinh. Vì vậy, trong quá trình mang thai, bà mẹ nên cố gắng ăn đủ bữa, đúng giờ, sinh hoạt điều độ và nên kiểm tra sức khỏe thường xuyên để phát hiện bệnh và được tư vấn các biện pháp phòng và điều trị để bé khi sinh ra phát triển hoàn thiện.

 Theo Sức khỏe và Đời sống/(Tatra, Metrol, The Time)