Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Làm mẹ

Bộ Y tế, Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc vừa đưa ra lời khuyên về chăm sóc phụ nữ mang thai trong mùa dịch COVID-19.

Theo đó:

1. Bà mẹ mang thai cần được đảm bảo bữa ăn hàng ngày đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các nhóm thực phẩm dưới đây:

– Thực phẩm chứa nhiều tinh bột như gạo, ngô, khoai, sắn.

Đây là nhóm thực phẩm cung cấp năng lượng chủ yếu nhất. Đặc biệt là giai đoạn 03 tháng cuối của thai kỳ khi nhu cầu năng lượng tăng cao cho sự phát triển nhanh của thai nhi.

– Thức ăn giàu đạm đến từ thịt, cá, trứng, sữa và các loại hạt đậu đỗ.

Đây là các thực phẩm giúp hệ miễn dịch hoạt động tốt, cơ thể khỏe mạnh và phòng chống các bệnh nhiễm trùng. Các thực phẩm này cũng đồng thời cung cấp các khoáng chất như canxi, phospho giúp hình thành bộ xương chắc khỏe cho thai nhi, tránh loãng xương cho mẹ. Nên chọn nguyên liệu tươi và nấu chín kỹ trước khi ăn.

– Rau tươi, trái cây tươi các loạilà nhóm thực phẩm không thể thiếu trong thực đơn hàng ngày của bà mẹ mang thai.

Chúng không những cung cấp khoáng chất và vitamin giúp duy trì hệ miễn dịch khỏe mạnh. Các thực phẩm này cũng đồng thời cung cấp nhiều chất xơ có lợi cho chức năng tiêu hóa của bà mẹ.

– Cần thường xuyên thay đổi đa dạng các loại thực phẩm để vừa cung cấp tốt các chất dinh dưỡng vừa tạo sự ngon miệng, nhất là khi bà mẹ bị nghén.

2. Tránh ăn các thực phẩm chế biến công nghiệp vì chúng thường chứa các chất không có lợi cho sức khỏe như nhiều đường, muối, chất béo bão hòa và chuyển hóa nhưng ít các khoáng chất, vitamin và chất xơ

3. Uống nước đầy đủ từ 2 đến 2,5 lít mỗi ngày giúp cho các chức năng chuyển hóa, miễn dịch của cơ thể mẹ.

4. Nếu dịch vụ khám thai không bị gián đoạn do dịch bệnh, các bà mẹ cần khám thai định kỳ tại cơ sở y tế để đảm bảo thai phát triển tốt. Cần uống viên sắt – acid folic hoặc viên đa vi chất dinh dưỡng đều đặn hàng ngày theo chỉ dẫn của cán bộ y tế.

5. Đồng thời, các bà mẹ mang thai cần thực hành các biện pháp phòng chống mắc COVID-19 trong mùa dịch như:

– Vệ sinh cá nhân, tăng cường vận động, dinh dưỡng hợp lý.

– Thường xuyên rửa tay đúng cách với xà phòng và nước hoặc dung dịch sát khuẩn tay.

– Đeo khẩu trang ở nơi công cộng.

– Vệ sinh thông thoáng nhà cửa, lau rửa các bề mặt hay tiếp xúc.

– Thực hiện khai báo y tế.

Theo Suckhoedoisong.vn

Trái cây chứa nhiều vitamin và các chất khoáng rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, tùy theo từng loại mà nguồn cung cấp vitamin và năng lượng sẽ khác nhau. Nhưng cho trẻ ăn hoa quả như thế nào cho khoa học là điều các bà mẹ và người nuôi trẻ cần quan tâm.

Thời gian hợp lý nhất để cho bé ăn hoa quả là khoảng thời gian ở giữa hai bữa chính. Với trẻ từ 6 tháng cho bé ăn quả nghiền. Mỗi lần có thể cho bé ăn từ 50 – 100 gam hoa quả tùy theo khả năng hấp thụ và độ tuổi của bé. Từ sau 9 tháng nên cho trẻ ăn hoa quả cắt miếng. Sau khi trẻ mọc răng, có thể cho trẻ gặm trái cây như thế có thể rèn thói quen nhai của trẻ không nên cắt trái cây thành miếng quá to, để tránh trường hợp khi trẻ nuốt vào bị tắc nghẽn khí quản.
Một số lưu ý khi cho trẻ ăn hoa quả:
Chọn hoa quả đúng mùa (mùa nào thức nấy), cho ăn đa dạng nhiều loại vì mỗi loại trái cây chỉ cung cấp một vài vitamin, chất khoáng nhất định mà cơ thể trẻ lại cần rất nhiều loại.
Chọn trái cây tươi, không dập nát, rửa sạch, gọt vỏ rồi mới cho trẻ ăn.
Hoa quả không thay thế được rau xanh, vì hàm lượng muối khoáng và chất xơ trong hoa quả ít hơn rau xanh, đồng thời trong rau xanh còn có một số chất mà trái cây không có, cho nên cần kết hợp cho bé ăn rau xanh trong các bữa chính và bổ sung hoa quả ở các bữa ăn phụ.
Cần nắm vững nguyên tắc “ăn từ từ, vừa ăn vừa quan sát”, tức là cho bé ăn thử ít một, quan sát xem có dấu hiệu không tốt như đau bụng, đi ngoài, dị ứng không?…rồi mới quyết định có nên tiếp tục cho trẻ ăn hay không.
Theo Kinhtedothi.vn

Mới đây đi khám thai em được bác sĩ kê đơn bổ sung viên sắt. Xin hỏi khi uống viên này cần lưu ý gì trong ăn uống? Thực phẩm nào có chứa nhiều sắt mà em nên sử dụng?

Vũ Thị Hoa (Bắc Ninh)

Khi mang thai, cơ thể phải sản xuất nhiều máu hơn để nuôi thai nhi nên cần lượng sắt nhiều hơn bình thường. Nếu trong chế độ ăn uống, người mẹ không nhận được đủ sắt, cơ thể sẽ sử dụng lượng sắt dự trữ, dẫn tới thiếu máu (thiếu máu thiếu sắt), gây nhiều hệ lụy xấu như: sinh non, con nhẹ cân…

Cách tốt nhất để dự phòng thiếu sắt cũng như thiếu các vi chất dinh dưỡng khác là duy trì chế độ ăn đa dạng thực phẩm. Nên chọn các thực phẩm giàu sắt trong bữa ăn hàng ngày như: Gan các loại động vật và các phủ tạng khác như: tim, bầu dục, đặc biệt tiết có hàm lượng sắt rất cao. Bên cạnh đó sắt cũng có nhiều trong các loại thịt bò, thịt lợn, lòng đỏ trứng, các loại thủy hải sản; các loại rau màu xanh thẫm (rau muống, rau ngót, mồng tơi, rau đay…). Ngoài ra, nên chọn các thực phẩm như nước mắm, xì dầu, hạt nêm có bổ sung sắt…

Đối với việc bổ sung viên sắt khi dùng cần lưu ý:

Thuốc được hấp thu tốt hơn nếu uống lúc đói, nên thường uống thuốc trước khi ăn 1 giờ hoặc sau khi ăn 2 giờ. Uống thuốc với ít nhất nửa cốc nước, khi uống thuốc không nên nằm ngay và không nhai viên thuốc khi uống.

Nếu phải bổ sung đồng thời sắt và canxi, bạn nên uống hai loại thuốc này cách xa nhau. Đồng thời nên hạn chế uống sắt hoặc canxi vào trước giờ đi ngủ vì chúng có thể làm ảnh hưởng tới giấc ngủ. Ngoài ra, trà và cà phê làm giảm hấp thu sắt vì vậy tránh uống cà phê và trà trong bữa ăn và lưu ý tới thời điểm uống sắt. Tốt nhất là bạn nên ngừng uống các loại thức uống có chứa caffeine khi đang mang thai.

Vitamin C giúp làm tăng hấp thu sắt, vì vậy khi uống viên sắt hoặc ăn thực phẩm giàu sắt nên phối hợp cùng với những thực phẩm giàu vitamin C như nước cam, bông cải xoăn…

Theo Suckhoedoisong.vn

Trong Đông y, nhiều loại cá được đề cập không phải là món ăn mà là để chữa bệnh (Nam dược thần hiệu). Các nhà khoa học đã chứng minh trong cá có nhiều vitamin D tạo điều kiện cho việc hấp thu canxi của cơ thể, ngoài ra trong cá còn có nhiều kẽm là một vi chất có lợi cho sức khỏe.

Cá chép

Cá chép gọi là lý ngư, vị ngọt, tính bình, không độc nhập tỳ thận vị kinh, có tác dụng lợi thủy tiêu thũng, kiện tỳ khai vị, hạ thủy thông sữa, thai động bất an, rất tốt cho phụ nữ mang thai.

Chữa nôn mửa: Cá chép 1 con, đánh vảy, mổ bỏ ruột, rửa sạch, sa sâm 6g giã dập, gừng tươi 10g thái mỏng, nước 2 bát. Sa sâm + gừng cho vào bụng cá hầm chín, ăn trong ngày.

Tác dụng an thai, chữa động thai: Cá chép to 1 con để cả vảy, mổ bỏ ruột; gạo nếp vừa đủ, cho thêm ít vỏ quýt, gừng sống, gia vị, nấu thành cháo ăn hàng ngày rất tốt.

Chủ trị phụ nữ có thai bị phù: Cá chép to 1 con, đậu đỏ 100g, cho thêm gừng, hành trắng, nấu chín, ăn nhạt. Ăn cái, uống nước, ăn hết 1 lần để thải độc.

Tăng tiết sữa: Cá chép 1 con, chân giò lợn 1 phần, thông thảo 3g. Tất cả hầm mềm, chia ăn nhiều lần trong ngày.

Trị ứ huyết, đau bụng dưới sau sinh: Vảy cá chép sấy khô, nghiền nhỏ uống với ít rượu nếp.

Kiện tỳ vị, trị bệnh hư hàn: Cá chép 1 con đem luộc lấy nước, thêm hành tươi cắt khúc, gừng, gia vị vừa đủ, ăn cá, uống canh.

Thuốc từ các loài cáCá chép kiện tỳ, an thai.

Cá chạch

Cá chạch bùn giàu chất dinh dưỡng; theo Đông y, chạch bùn vị cam, tính bình, có tác dụng ôn trung, ích khí, trừ tà thấp. Chạch bùn bổ mà không tanh, không kiêng kỵ với bất cứ bệnh gì. Là thực phẩm tốt với người bệnh gan, tiểu đường, liệt dương và các chứng bệnh đường tiết niệu… chạch bùn đều có tác dụng trị liệu nhất định. Các nhà y học Trung Quốc còn cho rằng, cá chạch có tác dụng lợi mật, làm hết vàng da và có khả năng bảo vệ tế bào gan, làm hạ men gan, cải thiện chức năng gan với với trường hợp viêm gan mạn tính…

Trị suy nhược cơ thể, gầy yếu, thiếu máu, trẻ em suy dinh dưỡng: Cá chạch rán vàng 120g, hoàng kỳ 15g, đẳng sâm 15g, hoài sơn 30g, đại táo 15g, gừng tươi 5g, nước 250ml. Tất cả đem hầm kỹ, còn 100 ml nước. Chia ăn trong ngày.

Trị viêm gan vàng da, bổ tỳ vị, trừ thấp: Cá chạch 250g, đậu phụ 500g. Cá chạch rán qua thêm gừng tươi, hành khô, hạt tiêu, gia vị tẩm ướp cá cho thơm, nấu canh, canh sôi cho đậu phụ cắt miếng vào

Bổ thận, trợ dương, hỗ trợ điều trị liệt dương, suy giảm khả năng tình dục: Cá chạch 250g, mỡ lợn, hạt tiêu, gia vị vừa đủ, thêm chút rượu vang, hầm nhừ.

Chữa bệnh trĩ xuất huyết: Cá chạch 250g, cát cánh 6g, địa du 18g, hoa hòe 9g, kha tử 9g. Tất cả đem hầm kỹ, lấy nước uống.

Trị bệnh tiểu đường: Cá chạch 10 con bỏ đầu đuôi, làm sạch, phơi hoặc sấy khô, đốt thành than rồi tán bột; lá sen tươi phơi khô tán bột, hai thứ lượng bằng nhau, trộn đều, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê.

Chữa mẩn ngứa, giải độc gan: Cá chạch 30g, đại táo 15g, gia vị vừa đủ, nấu canh ăn ngày một lần. Ăn 7- 10 ngày.

Chữa suy nhược cơ thể, bổ tỳ vị: Cá chạch 250g, thịt lợn nạc 50g, lạc nhân 100g, gừng, hạt tiêu. Cá chạch rán qua, thịt, gừng,  gia vị, nước 250 ml; hầm nhừ còn 100ml nước. Ăn trong 1 tuần, ngày 1 lần. Nghỉ 1 tuần lại tiếp tục. Dùng trong 3 tháng.

Trị viêm gan cấp tính và viêm gan mạn tính: Cá chạch bỏ đầu đuôi, làm sạch, đem sấy khô, tán nhỏ thành bột, cất trong lọ kín dùng dần. Mỗi lần uống 10g, ngày uống 3 lần.

Chữa khí hư, người mệt mỏi, trẻ em mồ hôi trộm: Cá chạch 200g làm chín, gỡ lấy thịt nấu với gạo tẻ thành cháo.

Cá diếc

Cá diếc được Đông y sử dụng làm thuốc chữa bệnh từ lâu với tên thuốc là tức ngư, có tên khoa học là Carassus auratus L. Cá diếc có vị ngọt nhạt, tính ấm, không độc. Tác dụng bổ tỳ, vị, hành thủy, tiêu thũng, chỉ khát, làm se, sát khuẩn… được dùng trong các trường hợp sau:

Chữa tiểu đường: Cá diếc 1 con, làm sạch, lá chè non 20-30g rửa sạch cho vào bụng cá, bọc giấy nhiều lần quanh cá, đem đốt chín cá, tán nhỏ chia ra làm nhiều lần uống trong ngày với nước ấm.

Chữa viêm phế quản mạn: Thịt cá diếc sấy khô 50g, bột bán hạ 3g, bột gừng sống 3g, trộn đều. Uống với nước ấm.

Chữa viêm đại tràng: Cá diếc 1 con, gạo tẻ 50g. Hầm mềm với gạo thành cháo, thêm gia vị, hành, rau thơm, ăn nóng.

Chữa viêm gan vàng da: Cá diếc 1 con, làm sạch, bỏ ruột, nướng qua, sau cho rau má, lá mơ vào hấp chín.

Thuốc bổ huyết và dưỡng da: Cá diếc 1 con, câu kỷ tử 12g, hoàng kỳ 12g, gừng sống 3 lát, hành, giấm, đường, hạt tiêu, rượu vang. Hầm mềm.

Chữa viêm loét dạ dày: Bong bóng cá diếc rửa sạch rán giòn tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g hòa với với nước ấm.

Chữa tăng huyết áp: Cá diếc 1 con, đánh vảy, bỏ mang, ruột, rửa sạch, bột mẫu lệ 12g, ướp cá với gia vị, gừng tươi, 1 ít rượu trắng, hành khô, bột mẫu lệ trong 20-30 phút. Thêm đậu phụ, rau cải xanh, nước dùng (có thể dùng nước luộc gà) vừa đủ, nấu thành canh. Ăn hàng ngày.

Chữa viêm túi mật: Lấy mật cá diếc uống với rượu.

Dùng cho thai phụ nôn mửa, tinh thần mỏi mệt, tay chân rã rời, có thể có phù nhẹ hai chi dưới: Sa nhân 3g, cá diếc 1 con, gừng tươi, hành và gia vị vừa đủ. Cá diếc làm sạch, cho sa nhân vào trong bụng rồi kho nhừ, chế đủ gia vị, ăn nóng.

Theo suckhoedoisong.vn

Con tôi 4 tuổi, rất hiếu động. Nhiều người nói cháu mắc chứng tăng động giảm chú ý. Dấu hiệu nhận biết bệnh này thế nào?

Đỗ Bình (Hà Nội)

Chứng bệnh tăng động giảm chú ý thường được phát hiện ở lứa tuổi 4-6 tuổi với dấu hiệu trẻ không tập trung và hiếu động. Đến 8-11 tuổi, các biểu hiện bệnh càng rõ nét. Tỷ lệ trẻ trai mắc bệnh so với trẻ gái là 3/1. Đến nay, giới y khoa toàn thế giới vẫn chưa có kết luận chính thức, xác định rõ ràng được nguyên nhân của tăng động giảm chú ý. Để nhận biết trẻ tăng động, có thể qua những dấu hiệu chính như:

Hoạt động thái quá: Trẻ hoạt động liên tục, múa tay chân, chạy nhảy leo trèo, không ngồi yên một chỗ, thường xuyên chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác…

Tập trung chú ý kém: Khó khăn trong việc duy trì khả năng chú ý trong học tập, làm việc, sinh hoạt hàng ngày và ngay trong lúc vui chơi. Trẻ thường không lắng nghe khi người khác nói chuyện trực tiếp hoặc đưa ra câu trả lời trước khi nghe hết câu hỏi; không thể hoàn thành bài tập ở trường và ở nhà; dễ dàng bị phân tâm bởi các kích thích xung quanh; hay để quên và làm thất lạc đồ đạc.

Phối hợp, kiểm soát động tác kém: Trẻ hoạt động mang tính chất xung động tức thì, thường hay gây ồn ào, làm phiền người khác quá mức.

Những rối loạn hành vi khác đi kèm theo như: rối loạn giấc ngủ (thường là trẻ rất khó đi vào giấc ngủ), rối loạn lo âu…

Bạn nên đưa con đi khám để phát hiện và can thiệp bệnh sớm nhất có thể, hiệu quả kiểm soát và đẩy lùi chứng bệnh tăng động giảm chú ý sẽ cao.

Theo Suckhoedoisong.vn

Chăm sóc sức khỏe của người mẹ khi mang thai có liên quan mật thiết đến sức khỏe của thai nhi.

Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy suy dinh dưỡng bào thai là yếu tố góp phần làm tăng các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận và bệnh tim mạch khi trẻ trưởng thành. Người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống không hợp lý là nguyên nhân của suy dinh dưỡng bào thai (trẻ đẻ ra có cân nặng < 2.500g).

Theo kết quả điều tra toàn quốc năm 2015 cho thấy 32,8% phụ nữ có thai (PNCT), 25,5% phụ nữ tuổi sinh đẻ (PNTSĐ), 27,8% trẻ em (TE) dưới 5 tuổi bị thiếu máu. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở te dưới 24 tháng tuổi (42.7- 45%). PNTSĐ khu vực miền núi có tỷ lệ thiếu máu cao nhất (27.9%), khu vực nông thôn  và thành phố có thiếu máu thấp hơn với tỷ lệ tương ứng là 26.3 và 20.8%. Thiếu máu do thiếu sắt chiếm tỷ lệ 63,6 % TE; 54,3% PNCT và 37,7% PNTSĐ các trường hợp thiếu máu. Thiếu sắt chiếm tỷ lệ 50,3% TE; 47,3% PNCT và 23,6% PNTSĐ.

Phụ nữ dễ bị thiếu máu thiếu sắt hơn nam giới vì dự trữ sắt của họ thấp do mất máu trong các kỳ kinh nguyệt. Khi có thai, dự trữ sắt trong cơ thể phụ nữ không đáp ứng đủ việc tạo hồng cầu, do sự tăng thể tích máu ngày càng nhiều để nuôi thai nhi. Bệnh thiếu máu ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cả mẹ lẫn con.Người mẹ thiếu máu thường mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, khi đẻ có nhiều rủi ro, tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn so với bà mẹ bình thường.Người ta đã coi thiếu máu là một yếu tố nguy cơ trong sản khoa.

Đối với thai nhi, thiếu máu thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên lượng sắt dự trữ của cơ thể trẻ thấp. Khi mang thai tổng lượng sắt cần > 1.000mg hay nhu cầu sắt hàng ngày là 59,2mg sắt nguyên tố (so với 39,2mg/ngày ở phụ nữ không có thai).

phu-nu-co-thai-nen-yeu-sat-acid-folic-1Cần phải bổ sung sắt, acid folic bằng đường uống

Ở nước ta, những kiến thức về chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi mang thai đã được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều phụ nữ không được tiếp cận đầy đủ những thông tin về dinh dưỡng hợp lý để chuẩn bị cho việc đón đứa con chào đời thông minh và khỏe mạnh. Theo kết quả của một số nghiên cứu, để hỗ trợ thai nhi phát triển tối ưu, các vi chất dinh dưỡng như sắt, acid folic, kẽm, canxi… và các vitamin đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đây là vấn đề đang được quan tâm ở Việt Nam, vì tình trạng thiếu vi chất ở bà mẹ mang thai chưa được quan tâm đầy đủ. Bổ sung sắt, acid folic đầy đủ sẽ giúp cải thiện sức khỏe bà mẹ và thai nhi.

Sắt trong cơ thể có vai trò rất quan trọng vì đây là yếu tố cần thiết để tạo hồng cầu.Sắt có nhiệm vụ vận chuyển oxy và CO2 trong quá trình hô hấp, có vai trò quan trọng trong sự phát triển trí não ở trẻ nhỏ.Sắt còn giúp bảo vệ cơ thể không bị nhiễm khuẩn vì sắt tham gia vào thành phần của một enzym trong hệ miễn dịch, sắt giúp biến đổi betacaroten thành vitamin A, giúp tạo collagen (giúp gắn kết các mô cơ thể).Nếu sắt không được cung cấp đủ sẽ đưa đến thiếu máu thiếu sắt. Lượng sắt ở trẻ sơ sinh là 250mg, ở trẻ 1 tuổi khoảng 420mg và ở người trưởng thành khoảng 3.500mg – 4.000mg.

Acid folic (hay còn gọi là folat, vitamin B9) rất cần thiết cho sự phát triển, phân chia tế bào và cho sự hình thành tế bào máu.Nhu cầu acid folic trung bình ở người trưởng thành 400µg/ngày. Nhu cầu này tăng lên trong thời kỳ mang thai (600µg/ ngày) để đáp ứng cho sự phân chia tế bào cũng như sự tăng kích thước của tử cung.

Acid folic rất cần cho quá trình tổng hợp nhân tế bào acid deoxyribo nucleic (AND), acid ribo nucleic (ARN) và protein; cho sự hình thành nhau thai; sự tăng trưởng của bào thai. Do số lượng tế bào hồng cầu gia tăng theo sự gia tăng của khối lượng máu và do tăng thải folate qua nước tiểu trong khi mang thai, nên phụ nữ mang thai thường hay thiếu acid folic. Sự thiếu hụt này sẽ làm thiếu máu hồng cầu; nguy cơ sẩy thai cao; sinh non, sinh con nhẹ cân.

Đặc biệt, việc thiếu acid folic có thể gây khuyết tật ống thần kinh của thai nhi, gây nứt đốt sống và não úng thủy (não có nước). Nứt đốt sống là một khuyết tật, trong đó một bộ phận của một hay nhiều đốt sống không phát triển trọn vẹn, làm cho một đoạn tủy sống bị lộ ra.Nứt đốt sống có thể xảy ra ở bất cứ đốt sống nào nhưng thường gặp ở dưới thắt lưng và mức độ nghiêm trọng tùy vào số mô thần kinh bị phô bày. Sự hoàn thiện của việc khép ống thần kinh kết thúc vào ngày thứ 28 của thai kỳ. Cho nên, bổ sung acid folic trước khi thụ thai mới có hiệu quả dự phòng khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi.

Mỗi phụ nữ mang thai đều có nguy cơ tiềm ẩn sinh ra những em bé bị nứt đốt sống, cho dù họ bao nhiêu tuổi, con so (lần đầu) hay con rạ (từ lần hai) mặc dù lần mang thai trước đó bà mẹ đã sinh ra đứa trẻ khỏe mạnh. Tuy vậy, một số trường hợp phụ nữ cần phải bổ sung acid folic (theo chỉ định của nhân viên y tế) sau:

– Tình trạng dinh dưỡng kém, bị sụt cân, ăn ít, khẩu phần ăn không cân đối, thiếu vi chất dinh dưỡng.

– Có giai đoạn không ăn được do mệt mỏi, chán ăn hay lo lắng nhiều.

– Mới sẩy thai, hay thai chết lưu.

– Làm việc vất vả hoặc bị căng thẳng thần kinh.

– Phụ nữ đẻ dày, đẻ nhiều, có thể để lại hậu quả tình trạng dinh dưỡng kém, nên rất cần cung cấp đủ acid folic trước khi mang thai.

– Có tiền sử sinh con khiếm khuyết ống thần kinh.

– Nghiện cà phê, rượu hay thuốc lá.

Nhiều nghiên cứu lớn trên thế giới gần đây đã chỉ ra rằng, nồng độ acid folic đủ cao trong máu người mẹ rất cần thiết cho việc đóng ống thần kinh bình thường ở thai nhi. Có thể ngăn ngừa 70% – 80% số trẻ bị dị dạng ống thần kinh nếu trước và trong thời gian mang thai người mẹ được bổ sung acid folic đầy đủ.

phu-nu-co-thai-nen-yeu-sat-acid-folic-2

Các giải pháp phòng chống thiếu sắt và acid folic

Ăn uống hợp lý, đa dạng các loại thực phẩm là biện pháp phòng chống thiếu vi chất tốt nhất. Trước và trong khi có thai, cần có khẩu phần ăn đủ số lượng và cân đối về chất lượng để đảm bảo cung cấp đủ vitamin, các khoáng chất và các yếu tố vi lượng. Để phòng thiếu acid folic và sắt, nên ăn các loại thịt có màu đỏ như thịt lợn, thịt bò, gan, các loại rau có màu xanh thẫm như bông cải, các loại đậu, ngũ cốc. Để tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu sắt, cần tăng cường vitamin C, nên cần ăn đủ rau xanh và hoa quả chín.

Phụ nữ dự định mang thai, mang thai và cho con bú nên sử dụng thực phẩm có tăng cường sắt/acid folic để đảm bảo cung cấp đủ lượng sắt và acid folic hàng ngày, kết hợp với các vitamin và khoáng chất khác.

Bổ sung sắt, acid folic bằng đường uống: phụ nữ là đối tượng rất dễ bị thiếu sắt và acid folic và trong một số trường hợp, sự bổ sung hai chất dinh dưỡng này thông qua ăn uống là không đủ, do vậy, cần phải bổ sung bằng đường uống thuốc. Phụ nữ không mang thai bổ sung sắt/acid folic mỗi tuần 1 viên (60mg sắt nguyên tố, 2.800µg acid folic) trong thời gian 3 tháng, nghỉ 3 tháng, sau đó tiếp tục bổ sung 3 tháng.

PNCT cần uống bổ sung viên sắt/acid folic 1 viên/ngày (60mg sắt nguyên tố và 400µg acid folic) từ khi phát hiện có thai đến sau khi sinh 1 tháng. Để tránh tác dụng phụ (như buồn nôn, táo bón…) của viên sắt nên uống sau bữa ăn 1 – 2 giờ, sắt hấp thu tốt khi trong khẩu phần ăn sử dụng những thực phẩm có nhiều vitamin C. Không uống sắt cùng với chè, cà phê vì chất tanin trong chè, cà phê sẽ giảm hấp thu sắt.

Theo Suckhoedoisong.vn

Trẻ em có hai giai đoạn phát triển thể chất vượt trội là giai đoạn 1000 ngày đầu đời (từ khi trẻ được mang thai đến 24 tháng tuổi và giai đoạn tuổi dậy thì). Hai giai đoạn này nếu trẻ được cung cấp đầy đủ dưỡng chất và có môi trường sống lành mạnh thì sẽ đạt được chiều cao tối ưu.

1.000 ngày đầu đời được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhấn mạnh là giai đoạn vàng phát triển chiều cao và thể chất. Trẻ có thể tăng 25cm trong năm đầu tiên và 10cm mỗi năm trong 2 năm tiếp theo, nếu được bổ sung dinh dưỡng đúng và đủ. Đây là giai đoạn quyết định đến 60% khả năng tăng trưởng chiều cao của trẻ trong tương lai.

Giai đoạn trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi đạt tốc độ phát triển nhanh nhất so với mọi giai đoạn khác. Trẻ có cân nặng gấp đôi cân nặng sơ sinh trong vòng 4-5 tháng đầu và gấp 3 lần cân nặng sơ sinh vào cuối năm thứ nhất. Đến ngày sinh nhật đầu tiên của trẻ, chiều dài nằm (tức là chiều cao của trẻ) đã tăng gấp rưỡi so với chiều dài khi sinh.

hai-giai-doan-vang-phat-trien-chieu-cao-cua-tre-1

Trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi đạt tốc độ phát triển chiều cao nhanh nhất so với mọi giai đoạn khác.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, giai đoạn trẻ có nguy cơ suy dinh dưỡng cao nhất là từ 12-24 tháng tuổi, và tỷ lệ suy dinh dưỡng giữ ở mức cao cho tới 60 tháng (5 tuổi). Những trẻ bị suy dinh dưỡng trong 2 năm đầu của cuộc sống sẽ bị ảnh hưởng đến phát triển thể lực, đặc biệt là chiều cao của trẻ ở tuổi vị thành niên. Sự phát triển trí não của những trẻ này cũng sẽ kém hơn những trẻ khác. Trẻ dưới 2 tuổi cũng là giai đoạn diễn ra sự chuyển tiếp về nuôi dưỡng (ăn dặm và sau đó dần chuyển sang ăn bữa ăn cùng gia đình), đồng thời là giai đoạn trẻ dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là tiêu chảy và viêm đường hô hấp. Do vậy, trong giai đoạn này trẻ cần được chăm sóc cẩn thận hơn.

Sau 2 tuổi, tốc độ tăng trưởng không quá nhanh khoảng 6,2 cm mỗi năm, mật độ xương cũng tăng lên khoảng 1% một năm ở cả bé trai và bé gái. Tuy nhiên việc có chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng sẽ tiếp tục hỗ trợ cho sự phát triển chắc khỏe của xương là tiền đề cho sự phát triển chiều cao ở lứa tuổi dạy thì.

hai-giai-doan-vang-phat-trien-chieu-cao-cua-tre-2

Sau 2 tuổi, tốc độ tăng trưởng không quá nhanh khoảng 6,2 cm mỗi năm, mật độ xương cũng tăng lên khoảng 1% một năm ở cả bé trai và bé gái.

Giai đoạn dậy thì

Lứa tuổi dậy thì (từ 12-18 tuổi) đặc trưng bởi sự tăng trưởng vượt bậc về cả cơ bắp, khung xương cũng như các chức năng sinh dục. Tốc độ tăng trưởng nhanh cả về chiều cao, cân nặng và trẻ sẽ đạt đỉnh của tốc độ tăng chiều cao khi mà trẻ có thể tăng khoảng 10-15 cm/năm và mức tăng sẽ giảm dần sau đó. Ở giai đoạn 10 tuổi, cứ mỗi năm bé gái  tăng  10 cm chiều cao và tăng dần đến khi đạt được 15 cm một năm ở độ tuổi 12.

Đỉnh tốc độ tăng trưởng của trẻ nam là 12 tuổi (10cm/ năm) và đạt tối đa đến 14 tuổi (15 cm/năm). Tốc độ tăng trưởng sẽ giảm dần trong khoảng 15 tuổi ở nữ giới và khoảng 17 tuổi ở nam giới. Thời gian phát triển chiều cao mạnh nhất ở nữ giới là từ 8-17 tuổi, quyết định đến 23% chiều cao trung bình ở người trưởng thành. Kích thước xương, khối lượng xương và mật độ chất khoáng ở mỗi xương tăng lên khoảng 4% mỗi năm tính từ giai đoạn trẻ 8 tuổi cho đến qua giai đoạn vị thành niên.

hai-giai-doan-vang-phat-trien-chieu-cao-cua-tre-3

Lứa tuổi dậy thì (từ 12-18 tuổi), trẻ có thể tăng khoảng 10-15 cm/năm

Sự tích lũy nhanh chóng về khối lượng xương có liên quan đến sự tăng trưởng và phát triển chiều cao và có thể cả sự hoạt động của các hormone tăng trưởng như IGF-1, steroid sinh dục và các receptor của các hormone. Vai trò của khẩu phần ăn càng trở nên rất quan trọng đối với sự phát triển cơ thể của trẻ em trong giai đoạn này. Các chất dinh dưỡng chính để tăng trưởng và phát triển gồm protein, sắt, canxi, vitamin A, vitamin D, iot và kẽm.

Ngoài ra, còn có vai trò của hormone GH và các hormone sinh dục. Trong giai đoạn này, cơ thể có nhiều tiềm năng để khắc phục các tình trạng chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng ở các giai đoạn trước. Lưu ý việc dùng thuốc thay thế hormone chỉ sử dụng trong những trường hợp trẻ đã được thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng chặt chẽ để chẩn đoán xác định, tuyệt đối không tự ý dùng các thuốc thay thế hormone này sẽ không có tác dụng và nguy hiểm tính mạng của trẻ.

Nhiều nghiên cứu còn cho thấy, ở những năm tiếp theo, khi cơ thể được ăn uống hợp lý, tích cực rèn luyện thể dục thể thao trong môi trường và lối sống lành mạnh, chiều cao con người vẫn tiếp tục tăng ít cho đến 25 tuổi ở nữ giới và 28 tuổi ở nam giới.

Phần lớn trẻ em Việt Nam mới sinh đều có chiều dài tương đương với trẻ em sinh ra tại các quốc gia khác trên thế giới (trên 50cm), nhưng từ 3 tuổi trở lên, khoảng cách chiều cao của trẻ em Việt Nam cách biệt dần và dần bị trẻ em thế giới bỏ xa. Chiều cao trung bình của người Việt trưởng thành hiện nằm trong nhóm những nước có chiều cao thấp ở châu Á và càng xa hơn các quốc gia châu Âu mặc dù chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em do Viện Dinh Dưỡng triển khai trong nhiều thập kỷ qua đã đạt được những hiệu quả đáng kể về cải thiện chiều cao trẻ em. Tuy nhiên, các tiêu chí trong cuộc sống để giúp phát triển chiều cao tối ưu ở hầu hết các vùng miền vẫn chưa đạt đến được như đảm bảo đủ dinh dưỡng không thiếu ăn, không thiếu vi chất, môi trường sống trong sạch không nhiễm khuẩn, bụi, hóa chất…. Vì thế nắm bắt được các giai đoạn tăng trưởng chiều cao của trẻ cùng với các yếu tố ảnh hưởng đến chiều cao đặc biệt là dinh dưỡng hợp lý giúp cho các bậc phụ huynh có những biện pháp can thiệp kịp thời giúp trẻ đạt được chiều cao tối ưu.

Theo Suckhodoisong.vn

Hiện nay, thời tiết thu đông với các đợt không khí lạnh tràn về, trời hanh khô cùng với môi trường ô nhiễm… là những yếu tố thuận lợi khiến người dân hay mắc các bệnh về đường hô hấp, nhất là ở đối tượng trẻ nhỏ vốn nhạy cảm và sức đề kháng còn non kém. Trong các bệnh đường hô hấp thì viêm họng, viêm phế quản là hai bệnh khá phổ biến mà trẻ hay mắc phải.
Mỗi trẻ thường bị 4-6 lần mắc bệnh hô hấp/năm

PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy – Trưởng Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Hà Nội cho biết, bệnh lý hô hấp là bệnh rất phổ biến, nhất là ở nước ta hiện nay do đặc điểm khí hậu, ô nhiễm môi trường… Trung bình mỗi trẻ Việt thường bị từ 4-6 lần mắc bệnh hô hấp/năm.

Họng là vùng cửa ngõ hầu họng tiếp xúc trực tiếp với vi rút, vi khuẩn, trong khi trẻ non nớt do sức đề kháng yếu lại bị tác nhân tấn công liên tục nên nguy cơ mắc bệnh cao. Trước đây người ta kỳ vọng giảm bệnh hô hấp nhưng có vẻ bệnh này ngày càng gia tăng, do đó cần dự phòng cho bản thân và trẻ em.

“Trong đường hô hấp của chúng ta đều có sẵn vi rút ở thể không hoạt động, do yếu tố thuận lợi (như thời tiết chẳng hạn) sẽ làm nó chuyển sang thể hoạt động gây bệnh về đường hô hấp. Biểu hiện sớm là viêm long đường hô hấp trên như: hắt hơi, sổ mũi, ho, chảy mũi trong, hơi đau đầu, quấy khóc, khó chịu, bỏ ăn…. Ho lúc đầu ho khan, ho đờm, tiến triển dần. Đây là dấu hiệu khởi điểm hay gặp.

Nếu để nặng hơn sẽ tiến triển nặng hơn gây viêm phế quản là bệnh đường hô hấp dưới với biểu hiện là ho nhiều khò khè, khó thở…”- PGS. Thuý phân tích.

bac-si-chi-ro-dau-hieu-tre-bi-viem-hong-viem-phe-quan-va-cach-phong-ngua-1PGS.TS. Nguyễn Thị Diệu Thúy.

80% bệnh do vi rút, chỉ 20% do vi khuẩn – Tuyệt đối không tự dùng kháng sinh

Hiện nay nhiều cha mẹ băn khoăn giữa nhóm các bệnh do vi khuẩn và vi rút gây ra, theo chuyên gia Nhi khoa, đây là vấn đề mà các nhà chuyên môn là bác sĩ cần phân biệt nguyên nhân gây bệnh khác nhau để có cách xử trí khác nhau. Bệnh do vi rút có thể tự khỏi sau 2-3 ngày và có đến 80% bệnh do vi rút gây nên; chỉ 20% do vi khuẩn.

PGS. Thuý tư vấn, với trẻ chỉ bị ho, cảm lạnh thông thường thì các biện pháp xông rất dễ chịu giúp thông mũi, hoặc vệ sinh nước muối cho trẻ. Nếu trẻ chỉ ho, chảy mũi cần rửa mũi, súc miệng, vệ sinh cho trẻ. Có thể dùng các loại thuốc đông y, thảo dược để dịu họng, mát họng, chúng hầu như không có tác dụng phụ, giúp trẻ loãng đờm ra, không đau họng, nuốt dễ… Cho trẻ ăn đồ lỏng, nhiều nước giúp hấp thu tốt làm lỏng đờm, vỗ long đờm… sẽ giảm tải sổ lượng vi rút ở mũi, triệu chứng thuyên giảm dần dần, sau 3 ngày trẻ đỡ hẳn. Thông thường bệnh không quá nặng như phụ huynh lo lắng.

Trường hợp trẻ sốt cao liên tục, qua thăm khám có nhiễm khuẩn, họng có mủ, bỏ ăn, li bì khó đánh thức… thì cần dùng kháng sinh. Việc có quyết định dùng kháng sinh hay không là do bác sĩ quyết định, cha mẹ tuyệt đối không tự ý điều trị.

“Thực tế các gia đình hiện nay có ít con, cha mẹ dành mọi yêu thương cho con nên khi con hắt hơi, sổ mũi đã rất lo lắng, tuy nhiên theo tôi cần tăng cường kiến thức khoa học. Rửa nước muối cần phải được bác sĩ chỉ định đúng, kỹ thuật rửa đúng, chứ không thiết cần phải rửa hàng ngày. Mũi – họng thông nhau, rửa không đúng cách sẽ từ viêm mũi sẽ thành viêm tai cho nên không nên lạm dụng việc này. Nếu trẻ bị bệnh cần bình tĩnh không nên ngay lập tức vào viện vì dễ lây chéo khiến bệnh nặng hơn”- PGS. Thuý nói.

bac-si-chi-ro-dau-hieu-tre-bi-viem-hong-viem-phe-quan-va-cach-phong-ngua-2PGS.TS Nguyễn Thị Lâm.

Chú ý chế độ dinh dưỡng cho trẻ

PGS.TS Nguyễn Thị Lâm – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia tư vấn, bất kỳ giai đoạn nào của trẻ, cha mẹ cũng cần phải chú ý chế độ dinh dưỡng cho con, không phải riêng lúc ốm đau. Nên cho trẻ ăn đa dạng các loại thực phẩm, khi trẻ ăn đủ dinh dưỡng thì khả năng miễn dịch tốt hơn.

Trẻ có dấu hiệu viêm đường hô hấp trên thì nên cho trẻ ăn thức ăn mềm, ăn lỏng, chia nhỏ bữa ăn trong ngày, xen kẽ có thể là cháo súp, cho trẻ uống sữa, sinh tố thêm vào bữa phụ… Những món ăn gây kích thích làm họng tổn thương như ăn cay quá sẽ khiến trẻ bị ho, khó chịu hơn. Trẻ có nguy cơ dị ứng cần tránh món ăn gây dị ứng như cá, tôm, nhộng, lạc… vì dễ làm tăng tình trạng viêm đường hô hấp ở trẻ.

Hiện nay việc sử dụng sản phẩm có tính chất kìm khuẩn, diệt khuẩn, giảm triệu chứng được bào chế, chiết xuất từ thảo dược thiên nhiên được cấp phép đang khá được quan tâm. Các chuyên gia Nhật Bản khuyến cáo nên dùng các sản phẩm organic, không ăn sản phẩm biến đổi gen… Ngay cả WHO khuyến cáo điều trị bệnh lý đường hô hấp trên (ho, cảm lạnh) chỉ cần làm dịu họng chứ không cần giảm ho, dùng thảo dược giảm đau họng, làm dịu họng, điều hòa miễn dịch, cân bằng trở lại.

Các bác sĩ cũng lưu ý, việc dùng sản phẩm thảo dược cần phải được cấp phép, chứng nhận về chất lượng, vệ sinh an toàn, thẩm định cụ thể chứ không phải tự chế, tự pha để dùng. Với các thuốc Tây y không phải lúc nào cũng khuyến cáo sử dụng mà phải có kê đơn của bác sĩ mới được sử dụng.

Theo Suckhoedoisong.vn

Rất nhiều bí ẩn liên quan đến Số xuất huyết Dengue ít được đề cập, trong số này có những thắc mắc vừa được trang tin Researchgate.net (RN) của Đức cập nhật.

1. Muỗi Aedes aegypti mang hai virus Dengue và Chikungunya, cả hai có truyền sang cho người ?

Aedes aegypti có thể bị nhiễm đồng thời hai loại virut (sốt xuất huyết và chikungunya) như xuất hiện ở bang Maharashtra, Ấn Độ. Chuyên môn gọi là nhiễm trùng kép, thường xảy ra  ở những nơi có sự phân bố của các loài virus nói trên. Tuy nhiên, hiện tượng này cực hiếm do sự cạnh tranh và việc sử dụng các con đường lan truyền trong chính trong cơ thể muỗi. Thật thú vị khi nghiên cứu, các nhà khoa học đã phân lập được cả DENV và CHIK (virut sốt xuất huyết và chikungunya, tất cả đều thuộc chi flaviviruse) trong cùng một con muỗi, nhưng những nỗ lực tái tạo điều này trong phòng thí nghiệm lại không thành công.

A. Aegyptii và những loài muỗi khác có thể mang hai loại flaviviruse khác nhau nhưng việc nhiễm trùng với một flaviviruse thứ hai thường phổ biến hơn trong tự nhiên. Tuy nhiên, một khi trong cơ thể muỗi, sự tiến triển lây nhiễm của từng loại virus này lại mang tính tác động qua lại. Như loại trừ lẫn nhau, trong đó chỉ có một tiến triển còn một yếu hơn và biến mất; hai tăng cường lẫn nhau và ba, không có tương tác nào nên khả năng nhiễm trùng kép được truyền từ một lần đốt duy nhất phụ thuộc vào loại tương tác giữa hai loại virus nói trên trong cơ thể muỗi.

nhung-dieu-co-the-ban-chua-biet-ve-sot-xuat-huyet-dengue-1Muỗi Aedes aegypti đôi khi mang cả hai virus sốt xuất huyết và Chikungunya

2. Sốt xuất huyết sẽ “soán ngôi” sốt rét trong những năm tới?

Có ý kiến cho rằng tại Ấn Độ, các ca sốt rét đang có chiều hướng giảm thì sốt xuất huyết lại gia tăng. Theo RN, số ca mắc sốt xuất huyết ở Ấn Độ từ 40.000 – 50.000 ca/năm, hầu hết được báo cáo là ở miền nam Ấn Độ, và Delhi. Trong số này có dạng sốt xuất huyết nghiêm trọng DHF, thậm chí cả P.vivax cũng trở nên trầm trọng trong thời gian gần đây.

Chưa có bằng chứng khẳng định SXH sẽ “xoán ngôi” sốt rét

Những trường hợp được xác nhận đã được đánh giá còn các trường hợp không được xác nhận thì không qua xét nghiệm.Vì vậy, nói các trường hợp sốt rét đang giảm mà không có bằng chứng đầy đủ.Điều đáng lo ngại là bệnh sốt nhiệt đới cấp tính đang trở nên nghiêm trọng.Sốt xuất huyết đã tăng, nhưng việc có “soán ngôi” sốt rét hay không thì chưa có bằng chứng đầy đủ.

3. Những bệnh nhân không sốt xuất huyết có cần nằm giường cách xa bệnh nhân bị sốt xuất huyết từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 8 không?

Thực tế, nhiều phụ huynh có con nằm viện nhưng không phải sốt xuất huyết đã yêu cầu giường cho con họ tránh xa trẻ đang bị sốt xuất huyết, đặc biệt là từ ngày 3 – 8 của cơn sốt. Câu trả lời của bác sĩ như sau: Sau khi hút máu từ vật chủ, tức con người hay động vật, muỗi Aedes sẽ nghỉ ngơi một thời gian để tiêu hóa một phần máu đã hút và dồn máu còn lại để sản xuất mẻ trứng sắp tới. Nếu muỗi đã hút phải máu có chứa virus sốt xuất huyết, thì nó sẽ trải qua thời kỳ ủ bệnh bên ngoài (EIP), tức thời gian ủ bệnh của virus nằm giữa thời điểm muỗi bị nhiễm trùng máu và thời gian muỗi truyền bệnh.

EIP tiêu chuẩn là 8 – 12 ngày nhưng thực tế EIP bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và bởi các loài nên EIP có thể rút ngắn tới 5 ngày hoặc dài hơn 12 ngày. Với sự thật này, trong khi muỗi Aedes đã hút máu một đứa trẻ bị sốt xuất huyết thì nó có thể tiếp tục lây nhiễm sang người khác, nhưng muỗi không thể truyền trực tiếp virus sốt xuất huyết từ đứa trẻ này sang một đứa trẻ không bị sốt xuất huyết nằm giường bên cạnh.

4. Xét nghiệm Interleukin 10 có phải là yếu tố tiên lượng về mức độ nghiêm trọng của sốt xuất huyết ở trẻ em?

Mức độ TNFa dường như được dự đoán nhiều hơn IL-10 khi tiên lượng về mức độ nghiêm trọng của sốt xuất huyết.TNFa liên kết với PECAM-1 tại các điểm nối khoảng cách nội mô, cho phép vượt qua CTL được kích hoạt, mà còn cả huyết tương và hồng cầu.IL-10 là một cytokine TH2, cần cho CTL bộ nhớ và làm chậm phản ứng CTL hưởng ứng với nhiễm trùng visus Dengue (DV) nguyên phát. Có rất nhiều mảnh di chuyển, nhưng IgG bán trung hòa và có trước theo kiểu huyết thanh khác và nhiễm một chủng virus  SE Asian DV-2, cùng với việc quản lý lâm sàng kém, dường như là yếu tố nguy cơ chính của bệnh sốt xuất huyết trầm trọng.

5. Vì sao người muỗi “hỏi thăm” nhiều, người thì ít?

Theo hãng tin NBC, các nghiên cứu phát hiện thấy khoảng 20% dân số thuộc diện “người hấp dẫn muỗi cao”, số còn lại là hấp dẫn trung bình, thấp. Vì vậy để tránh muỗi cắn nên mặc áo bảo hộ, quần áo dài tay và áo cao cổ…

Theo một nghiên cứu năm 2011 được công bố trên tạp chí PLOS One, thành phần của khuẩn trên da ảnh hưởng rất nhiều đến sự thu hút muỗi, điều này đồng nghĩa, mùi vị da do khuẩn phát ra thu hút muỗi đến. Chưa hết, cơ thể càng phát ra nhiều mùi CO2 (Carbon dioxide) thì muỗi lại càng bâu tới đông hơn , vì vậy nên duy trì vệ sinh sạch sẽ cơ thể sẽ hạn chế muỗi cắn.

Một số nghiên cứu phát hiện thấy muỗi thích những người có nhóm máu O, đây là nhóm máu phổ biến. Trong một nghiên cứu năm 2004 của Viện Công nghệ kiểm soát dịch bệnh Mỹ, các nhà khoa học phát hiện thấy tỷ lệ muỗi căn trung bình tương đối trên những người có nhóm máu O là  83,3%, so với 46,5% ở những người có nhóm máu A. Nếu những người thuộc nhóm này lại nghiện rượu bia thì thì tỷ lệ bị muỗi đốt lại càng cao, vì muỗi rất chuộng mùi bia.

Hơn 200 nghiên cứu phát hiện thấy, muỗi rất thích phụ nữ mang thai, vì những người nay phát ra lượng CO2 cao gấp 21 % so với nhóm không mang thai. Ngoài ra muỗi còn thích những người ra nhiều mồ hôi, như khi làm việc nặng, hay luyện tập thoát nhiệt kèm theo mùi vị của máu, CO2 và những hương vị khác được muỗi rất ưa tìm.

nhung-dieu-co-the-ban-chua-biet-ve-sot-xuat-huyet-dengue-2Khoảng 20% dân số thuộc diện “người hấp dẫn muỗi cao”

6. Cách phòng chống sốt xuất huyết hữu hiệu nhất hiện nay?

Muỗi Aedes aegypti (vectơ của virus sốt xuất huyết) sinh sản trong các thùng chứa nhân tạo chủ yếu được tìm thấy trong nhà với vòng đời của nó trung bình 7 ngày. Do đó, cộng đồng phải hợp tác làm một cái gì đó cùng nhau để phá vỡ chu kỳ sinh sản của loài côn trùng này. Mục đích chính để kiểm soát hoặc ngăn chặn sự lây truyền của virus sốt xuất huyết là chống muỗi vectơ thông qua một số cách làm sau đây:

– Liên tục thay nước trong thùng, lu chứa, bình lọ… nếu cần dùng tới

– Lật ngược, đổ hết nước ứ đọng trong các đồ chứa trong gia đình, lọ hoa cây cảnh… Bịt kín các đầu hở, như đầu cọc, cây gãy… để tránh tụ nước, giúp muỗi đẻ trứng.

Có nhiều cách phòng chống SXH hiệu quả, trong đó có giải pháp diệt loăng quăng, bọ gậy và nằm mùng màn khi ngủ.

– Thông tắc định kỳ cống rãnh và phun thuốc trừ sâu BTI trong máng xối

– Ngăn chặn muỗi tiếp cận môi trường sống đẻ trứng bằng cách giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nơi ở và những nơi thường xuyên tụ tập đông người.

– Mặc quần áo bảo hộ khi làm việc nơi có muỗi đốt, mặc quần áo dài tay, đi giày tất vào buổi tối.

– Xử lý chất thải đúng cách để loại bỏ môi trường sống nhân tạo. Cho muối hoặc dầu vào bát kê chân chạn hay tủ bát…

– Sử dụng thuốc chống muỗi, phun Permethrin cho quần áo, giày dép, dụng cụ cắm trại và mùng màn hoặc nhúng đồ vật này trong dung dịch nói trên.

– Người bị sốt xuất huyết nên  nằm trong màn, tránh muỗi đốt để ngừa lây lan bệnh cho người khác.

– Huy động toàn bộ cộng đồng phòng chống, giám sát vectơ muỗi gây bệnh, diệt muỗi đồng loạt mới đạt hiệu quả cao.

– Nên phun thuốc diệt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện diệt muỗi… trong không gian khi xuất hiện dịch sốt xuất huyết…

Tham khảo nhanh sốt xuất huyết ở Việt Nam
Theo trang tin Wpro.who.int của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Văn phòng Việt Nam, tình hình nhiễm sốt xuất huyết ở Việt Nam biến thiên liên tục, thời kỳ cao điểm từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm. Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết trên 100.000 dân tăng từ 32,5 ca năm 2000 (24.434 ca) lên 120 năm 2009 (105.370 ca), và 78 ca vào năm 2011 (69.680 ca). Trên 85% ca mắc và 90% ca tử vong do sốt xuất huyết là ở các tỉnh phía Nam. Khoảng 90% số ca tử vong sốt xuất huyết rơi vào nhóm dưới tuổi 15.
Việt Nam đã thành công trong kiểm soát tỷ lệ tử vong vì sốt xuất huyết, từ năm 2005 đến nay tỷ lệ tử vong nằm ở ngưỡng dưới 1/1.000 ca bệnh. Tuy nhiên Việt Nam vẫn chưa đạt nhiều thành công trong việc giảm số ca mắc sốt xuất huyết. Trong giai đoạn từ 2001 đến 2011 có 76,9% ca mắc sốt xuất huyết và 83,3% ca tử vong do sốt xuất huyết ở 20 tỉnh phía Nam. Riêng tỷ lệ người trên 15 tuổi mắc sốt xuất huyết tại các tỉnh phía Nam đã tăng từ 35% năm 1999 lên 60% vào năm 2017. 
Theo Bộ Y tế , năm 2016 số ca sốt xuất huyết tăng gấp 3 lần, riêng 4 tỉnh Tây Nguyên diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Sáu tháng đầu năm 2019, cả nước ghi nhận khoảng 71.000 trường hợp mắc sốt xuất huyết, cao gấp hơn 3,2 so với năm 2018. Cũng theo Bộ Y tế, hiện đang là cao điểm của dịch sốt xuất huyết, số ca mắc mới ghi nhận từ 5.000 – 10.000 ca bệnh/tuần và đã có 15 trường hợp tử vong vì căn bệnh này.

Theo Suckhoedoisong.vn

Muỗi sinh sản cao điểm vào mùa mưa, kéo theo sự lây lan của nhiều dịch bệnh thông qua vết đốt và truyền vào máu. Trong đó, không thể không kể đến sốt xuất huyết – một trong những bệnh mùa mưa nguy hiểm nhất cần phòng tránh.

benh-mua-mua-nguy-hiem-nhat-do-muoi-van-gay-ra-1

Muỗi vằn là nguyên nhân gây ra nhiều dịch bệnh nguy hiểm (ảnh minh hoạ)

Khí hậu nước ta nóng ẩm mưa nhiều cộng thêm địa hình sông ngòi chằng chịt, lý do này trở thành điều kiện thuận lợi khiến muỗi sinh sôi phát triển, dẫn đến nguy cơ bùng phát nhiều dịch bệnh nguy hiểm.

Dưới đây là những bệnh mà ai cũng dễ mắc phải vào mùa mưa, cùng xem qua để có những biện pháp đề phòng tốt nhất cho mình và người thân nhé!

Các dịch bệnh mùa mưa nguy hiểm do muỗi gây ra

Viêm não Nhật Bản

Đây là bệnh nhiễm trùng của não do vi-rút viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh bắt nguồn từ động vật và lây nhiễm theo đường máu qua vật trung gian là muỗi.

benh-mua-mua-nguy-hiem-nhat-do-muoi-van-gay-ra-2

Vi-rút viêm não Nhật Bản do muỗi lây truyền từ vật chủ sang người bệnh (ảnh minh hoạ)

Viêm não Nhật Bản đặc biệt nguy hiểm với trẻ em dưới 15 tuổi. Sau 05 đến 15 ngày kể từ khi bị lây nhiễm, người bệnh bắt đầu xuất hiện các triệu chứng như nhức đầu, nôn mửa, sốt cao, hôn mê sâu và co giật,…Nếu không chữa trị kịp thời sẽ để lại các biến chứng nguy hiểm như động kinh, thiểu năng trí tuệ, nguy hiểm hơn có thể dẫn đến tử vong.

Sốt rét

Sốt rét cũng là bệnh truyền nhiễm qua vết đốt do muỗi gây ra. Khi nhiễm vi-rút sốt rét, người bệnh sẽ có các triệu chứng lâm sàng chưa rõ ràng như ớn lạnh, vã mồ hôi, nhức mỏi… Các triệu chứng của sốt rét có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào loại ký sinh trùng người bệnh nhiễm phải, thể trạng và mức độ nhiễm của người bệnh.

Tại nước ta, sốt rét có tốc độ lây lan mạnh vào tháng 4- tháng 5 và tháng 9- tháng 10 (đầu và cuối mùa mưa), vì đây là giai đoạn muỗi sinh sản nhiều. Nếu không phát hiện kịp thời cũng như chữa trị triệt để, nguồn lây sốt rét có thể kéo dài đến tận 1-2 năm.

Sốt xuất huyết

Trong số các dịch bệnh nguy hiểm bùng phát do muỗi, không thể bỏ qua sốt xuất huyết. Đây là loại bệnh mắc phải khi nhiễm vi-rút Dengue do muỗi Aedes Aegypti hay còn gọi là muỗi vằn truyền nhiễm cho.

benh-mua-mua-nguy-hiem-nhat-do-muoi-van-gay-ra-3

Bệnh sốt xuất huyết đang lây lan ở mức độ báo động (ảnh minh hoạ)

Triệu chứng phổ biến của bệnh sốt xuất huyết như đau bụng, buồn nôn, sốt cao liên tục, đau cơ, nhức hai hố mắt, sung huyết ở lỗ chân lông,… Các dấu hiệu này thường bắt đầu hiện rõ sau 07-10 ngày bị muỗi đốt.

Sốt xuất huyết vừa là bệnh cấp tính vừa mang tính truyền nhiễm, không chỉ nghiêm trọng với trẻ em mà cả người lớn cũng cần hết sức lưu ý. Triệu chứng của bệnh xuất hiện chậm rãi nhưng lại trở nặng khá nhanh và kéo dài, làm suy yếu hệ miễn dịch ở người bệnh, gây mất sức và khó hồi phục thể trạng sau này. Do đó, tốt nhất không nên tự điều trị sốt xuất huyết tại nhà, cần đưa người bệnh đến ngay trung tâm y tế gần nhất khi nhận thấy những biểu hiện bệnh lý đầu tiên.Chủ động phòng chống dịch bệnh do muỗi gây ra

Hầu hết các bệnh lây truyền do muỗi đều chưa có vắc-xin phòng ngừa. Do đó, để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các gia đình nên chủ động bài trừ muỗi ra khỏi không gian sống cũng như tăng sức đề kháng cho bản thân.

Sau đây là một số phương pháp phòng chống dịch bệnh do muỗi hiệu quả, lưu ý ngay để bảo vệ sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng nhé!

– Phát quang các bụi rậm quanh nhà, thu gom, vứt bỏ các vật dụng, phế liệu như chai lọ, lốp xe cũ, vật tù đọng nước,…để muỗi không vào đẻ trứng.

– Trồng thảo dược hoặc các loại cây có mùi thơm như sả, húng quế, hương thảo,…gần nơi sinh sống để xua muỗi.

– Vệ sinh, thả cá vào các dụng cụ đựng nước có dung tích lớn như bể, giếng, chum, vại,…để cá ăn hết lăng quăng/ bọ gậy nếu có.

– Xông tinh dầu hoặc trữ vỏ bưởi, cam, quýt trong nhà hạn chế muỗi.

benh-mua-mua-nguy-hiem-nhat-do-muoi-van-gay-ra-4
Trồng cây hương thảo trong nhà có tác dụng xua muỗi hiệu quả (ảnh minh hoạ)

– Ngủ trong màn để tránh bị muỗi đốt.

– Hạn chế mặc quần áo tối màu vì thu hút muỗi.

– Sử dụng các sản phẩm chống muỗi như chai xịt phun sương, kem chống muỗi chứa các thành phần an toàn để bảo vệ cả nhà.

Phòng bệnh vẫn hơn chữa bệnh. Cùng ngăn ngừa sự hoành hành của muỗi vằn cũng như các dịch bệnh do muỗi lây lan bằng sự chủ động của bản thân nhé!

benh-mua-mua-nguy-hiem-nhat-do-muoi-van-gay-ra-5

Sản phẩm chống muỗi Remos an toàn cho cả người lớn và trẻ em

Từ năm 2011 đến nay, nhãn hàng Remos thuộc công ty Rohto-Mentholatum (Việt Nam) đã phối hợp với Trung Tâm Y Tế tổ chức chiến dịch “Remos – Bảo vệ gia đình khỏi mọi vấn đề do muỗi” nhằm tuyên truyền, hỗ trợ cộng đồng phòng chống các dịch bệnh liên quan đến muỗi và côn trùng. Năm nay, chiến dịch sẽ tiếp tục được
phát động tại 32 tỉnh thành trên cả nước.

Sản phẩm chống muỗi Remos hiện có bán tại các nhà thuốc, siêu thị, cửa hàng mỹ phẩm và Lazada. Hãy cùng Remos chung tay bảo vệ sức khỏe cộng đồng nhé!

Theo Suckhoedoisong.vn

escort eskişehir escort samsun escort gebze escort sakarya escort edirne