Nhau thai cừu Charmlux - Chống lão hoá da
Làm mẹ

0 697

Trầm cảm sau sinh là tình trạng liên quan đến suy nghĩ và cảm giác mệt mỏi, buồn chán, lo lắng của sản phụ xuất hiện sau sinh.

Những phụ nữ mắc bệnh trầm cảm sau sinh thường kèm theo trạng thái lo sợ con mình sẽ bị hại và bản thân mình là người mẹ xấu. Trầm cảm sau sinh có thể nhẹ, vừa hoặc nặng, có thể thoáng qua hoặc kéo dài. Tuy nhiên, bệnh có thể điều trị và trong một số trường hợp có thể dự phòng. Một số trường hợp tự tử sau sinh do bị trầm cảm.

hinh-1-4f720

Vì sao mắc bệnh?

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến trầm cảm sau sinh. Nhưng chủ yếu là các yếu tố sau đây:

Thay đổi về nội tiết: sau khi sinh, việc giảm đột ngột estrogen và progestrogen góp phần gây nên trạng thái trầm cảm. Hormones tuyến giáp giảm nhanh chóng gây ra cảm giác mệt mỏi và trầm cảm; Thay đổi về thể tích máu, huyết áp, hệ miễn dịch và chuyển hóa dẫn đến tình trạng mệt mỏi và dễ thay đổi cảm xúc.

Bản thân người phụ nữ: những phụ nữ sau sinh nếu rơi vào tình huống bạo hành gia đình thì nguy cơ bị trầm cảm cũng tăng gấp 5 lần. Những sản phụ có thai ngoài ý muốn cũng là nhóm có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh. Ngược lại, với những người có thai như mong muốn sẽ giảm đến 80% nguy cơ bị trầm cảm.

trang16-nhung-su-kien-gay-cang-thang-de-dan-den-tramcam-sau-sinh-o-phu-nu-1430102270244

Những sự kiện gây căng thẳng dễ dẫn đến trầm cảm sau sinh.

Về phía em bé: khó khăn trong chăm sóc bé. Tình trạng sức khỏe của đứa trẻ sinh ra cũng ảnh hưởng đến khả năng bị trầm cảm ở mẹ.

Yếu tố di truyền: trong gia đình có người bị trầm cảm (mẹ, chị, cha) thì nguy cơ bệnh cao.

Ai dễ mắc?

Tiền sử bị bệnh trầm cảm sau sinh, nguy cơ lặp lại 50%. Tiền sử trầm cảm ngoài thai kỳ, nguy cơ trầm cảm sau sinh 25%. Ngưng dùng thuốc chống trầm cảm lúc mang thai, 68% rơi vào trạng thái trầm cảm, nếu tiếp tục dùng thuốc thì 25% bị trầm cảm; Tuổi < 18.

Những sự kiện gây căng thẳng trong thời gian trước: bệnh tật, hiếm muộn, thất nghiệp; thiếu sự giúp đỡ, đồng cảm chia sẻ của người thân, đặc biệt là người chồng; mâu thuẫn vợ chồng, mâu thuẫn với mẹ chồng; thai kỳ không mong muốn; biến chứng thai kỳ: thai lưu, sẩy thai; trầm cảm dễ xuất hiện ở người con so, tuy nhiên vẫn có thể xảy ra ở con rạ.

Khi bị trầm cảm sau sinh, người mẹ dễ sụt cân, suy dinh dưỡng, suy nhược thần kinh, hoang tưởng, hành vi nguy hiểm. Người bị trầm cảm sau sinh có ý nghĩ hay hành vi tự tử (41.2%).

Bên cạnh đó, những người thân cũng bị ảnh hưởng: chồng và con không được chăm sóc tốt, gia đình không được vui vẻ.

Dấu hiệu nhận biết

Trầm cảm sau khi sinh biểu hiện khác nhau ở từng người nhưng có một số triệu chứng bạn có thể nhận thấy: bị hoảng loạn hoặc sợ hãi; thường xuyên lo lắng về sức khỏe, sự an toàn của bạn và những người thân; cảm thấy mình chưa là một người mẹ tốt; liên tục thấy mình bất hạnh, thường xuyên muốn khóc một cách vô cớ; lúc nào cũng muốn ngủ và không bao giờ cảm thấy thư thái; thấy khó ngủ; không thể nói chuyện về việc sinh con hoặc liên tục nói về nó vì bạn cảm thấy mất khả năng kiểm soát; cảm thấy cuộc sống vô vị kể từ khi sinh con, cảm thấy vô dụng, nghĩ rằng bạn không có mối gắn kết gì với bé hoặc không có chút tình cảm gì với bé; đánh mất khái niệm về thời gian và không thể nói lên sự khác biệt giữa một vài phút và một vài giờ.

1368850432-babau3

Làm gì khi bị trầm cảm sau khi sinh?

Nếu bạn cảm thấy mình có thể bị trầm cảm sau khi sinh, hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn, họ là những người tốt nhất có thể giúp bạn. Dưới đây là một số điều bạn có thể làm để giúp giảm bớt các triệu chứng trên: đừng kìm nén cảm xúc, hãy trò chuyện với chồng, bạn thân, bà con họ hàng hoặc những bà mẹ khác về những gì bạn đang trải qua; đừng cố gắng làm quá nhiều việc trong một ngày; đón nhận sự giúp đỡ từ những người xung quanh; dành thời gian để nghỉ ngơi; đừng cảm thấy tội lỗi với những gì bạn đang trải qua.

Điều trị

Khi người mẹ nghĩ rằng mình bị trầm cảm sau sinh thì nên đến bác sĩ càng sớm càng tốt. Một số thuốc thông thường được sử dụng trong trường hợp này là thuốc an thần hoặc thuốc chống trầm cảm, bao gồm những loại thuốc an toàn khi cho con bú. Bên cạnh việc dùng thuốc thì điều quan trọng là phải duy trì chế độ dinh dưỡng tốt, vitamin B6 hoặc vitamin tổng hợp nên được dùng.

Nếu thuốc thích hợp với bạn thì đừng nên rút ngắn thời gian điều trị bởi vì trầm cảm cần thời gian điều trị kéo dài để được phục hồi hoàn toàn. Nếu sau khi ngưng thuốc mà các triệu chứng tái phát thì đừng nên thất vọng mà nên đến bác sĩ tư vấn thêm. Thông thường bác sĩ tiếp tục điều trị với thuốc trước đó. Sau đó nếu có hiệu quả thì giảm liều dần, và điều này dự phòng được việc tái phát.

Việc điều trị cho bệnh nhân trầm cảm sau sinh có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của người thân. Động viên và cùng tham gia chăm sóc em bé sẽ giúp cho bệnh nhân nhanh chóng bình thường trở lại. Bạn bè và gia đình chắc chắn rằng người mẹ bị trầm cảm đang được bác sĩ chỉ định điều trị. Nếu đơn thuốc không thích hợp thì phải động viên bệnh nhân trở lại bác sĩ và yêu cầu thay đổi đơn thuốc.

Bên cạnh đó, các bà mẹ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các chuyên gia trị liệu hội chứng trầm cảm sau sinh

Bệnh nhân cần phải tin tưởng rằng tình trạng sức khỏe của mình sẽ tốt hơn, bạn cần sự kiên nhẫn và nhận thức rằng sự phục hồi sẽ đến sớm. Hãy thư giãn và quên đi đau đớn thì căn bệnh trầm cảm sẽ dần dần tan biến.

Hãy nghỉ ngơi nhiều bởi vì sự mệt mỏi sẽ làm cho bệnh trầm trọng hơn. Tránh thức khuya và có thể nhờ người khác cho con bú. Đừng quên ăn uống đầy đủ vì nếu hạ đường huyết cũng sẽ làm cho bệnh nặng nề hơn. Nên ăn nhiều trái cây và rau quả khi bạn cảm thấy đói. Nên uống viên đa sinh tố mỗi ngày.

Phòng tránh thế nào?

Vai trò của người thân

Có thể nói, trong giai đoạn nhạy cảm này, vai trò của người chồng chiếm vị trí rất quan trọng. rất nhiều ông chồng nghĩ rằng, chỉ cần cung cấp vật chất cho vợ là đủ mà không hề nhận thức được sự quan tâm, chia sẻ bằng hành động và lời nói động viên có thể giúp người vợ tránh được nguy cơ trầm cảm. Hơn ai hết, người chồng, gia đình, người thân… cần gần gũi chia sẻ với sản phụ trong thời kì hậu sản, để có thể tránh được những hệ quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Động viên, gần gũi và chia sẻ với thai phụ về cuộc chuyển dạ và chăm sóc bé sau sinh. Hướng dẫn thai phụ về việc nuôi con bằng sữa mẹ.

Bản thân người mẹ

Cố gắng tìm cho mình một giấc ngủ. Gắng đi ngủ sớm hơn nếu bạn phải thức dậy nửa đêm cho bé bú. Nên ngủ buổi trưa dù chỉ 30 phút. Nói chuyện và chia sẻ với bạn bè, gia đình hoặc các chuyên gia tâm lý để trút bỏ những cảm giác mệt mỏi trong người. Nên hỏi bạn bè và gia đình về kinh nghiệm chăm sóc em bé của họ. Sống tích cực, suy nghĩ lạc quan, đừng để những điều buồn chán làm ảnh hưởng đến tâm lý của bạn. Hãy nhớ rằng bạn luôn là người mẹ tốt nhất cho con của mình, đừng bao giờ so sánh mình hay con mình với người khác, đừng để áp lực đè nặng lên đôi vai của bạn.

Theo BS. Lê Anh (SKĐS)

0 688
Tập thể dục khi mang thai là một việc làm cần thiết. Các bà bầu hãy chú ý các quy tắc an toàn trong luyện tập để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.

Thể dục đúng cách khi mang bầu

Tập thể dục khi mang thai là một việc làm cần thiết nhưng không được thực hiện một cách tùy tiện. Các bà bầu hãy chú ý các quy tắc an toàn trong luyện tập để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.

Rất cần hỏi ý kiến bác sĩ: Cho dù bạn đã có thói quen tập thể dục từ trước khi mang thai thì bạn vẫn nên đi kiểm tra sức khỏe và hỏi ý kiến bác sĩ xem bài tập nào là phù hợp, bài tập nào gây nguy hiểm… Nếu bạn chưa luyện tập bao giờ, bạn càng nên trao đổi với bác sĩ để chọn những bài tập dành cho người mới bắt đầu.

Chọn trang phục phù hợp: Bạn nên chọn những loại trang phục rộng rãi để dễ thở trong quá trình tập luyện. Lúc mới khởi động, nên mặc thêm một chiếc áo khoác mỏng bên ngoài (khi mang thai, thân nhiệt cao hơn bình thường, nếu chủ quan sẽ dễ bị nhiễm lạnh). Nhưng bạn cũng không được để cơ thể quá nóng sẽ ảnh hưởng không tốt tới em bé. Nên chọn áo quần rộng thoáng, đi đôi giày tập phù hợp với kích cỡ chân trong giai đoạn chân bị phù.

pregnant-0e32f

Không quên khởi động: Dù bất kỳ lý do nào, bạn cũng không nên bỏ qua 5 – 10 phút khởi động trước khi tập luyện chính thức. Tác dụng của khởi động là khiến các mạch máu lưu thông, cung cấp ôxy tới các cơ bắp, “bôi trơn” các khớp xương và ngăn ngừa chấn thương.

Tập luyện nhẹ nhàng: Không tập những môn thể thao đòi hỏi phải di chuyển và thay đổi vị trí liên tục như bóng chuyền, cầu lông, tennis… Trong thời gian mang thai, các khớp xương dễ bị yếu, khả năng giữ cân bằng cũng thay đổi, nguy cơ bị chấn thương khi luyện tập là rất lớn. Nên chọn hình thức tập nhẹ như đi bộ, bơi lội…

Không nín thở lâu: Nên tránh nín thở trong những động tác thể dục thông thường (trừ những bài tập thở kiểu yoga), việc nhịn thở trong vòng vài giây (hoặc hơn) dễ làm giảm sự cung cấp ôxy tới bào thai. Bạn cũng nên đảm bảo giữ nhịp thở ổn định trong những phần bài tập khó.

Không thay đổi động tác đột ngột: Bụng càng lớn sẽ càng khó khăn trong việc giữ thăng bằng. Đó là lý do vì sao bạn nên đặc biệt cẩn thận khi chuyển các động tác hoặc thay đổi vị trí luyện tập. Thao tác quá nhanh sẽ khiến bạn bị chóng mặt, dễ bị ngã.

exercise-pregnancy-b66a5

Không tập đến kiệt sức: Thời gian mang thai không phải là giai đoạn bạn tập luyện với mục đích giảm cân, vì thế không nên ép cơ thể hoạt động quá công suất hoặc duy trì thời gian luyện tập dài hơn (dù chỉ là 5 phút).

Không ngồi ngay sau lúc tập luyện: Dành khoảng 5 – 10 phút để đi lại nhẹ nhàng, thả lỏng toàn thân trước khi kết thúc buổi tập sẽ khiến cho nhịp tim ổn định, các mạch máu tuần hoàn bình thường, tránh cho bạn cảm giác choáng váng.

Uống nhiều nước: Nên uống nước lọc trước, trong và sau quá trình luyện tập. Điều này sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mất nước – nguyên nhân của những cơn co bóp dạ con, thân nhiệt tăng. Nếu mất nước nghiêm trọng sẽ gây nguy hiểm cho cả bạn và bé. Tuy nhiên, cần uống từ từ. 

Theo Sức khỏe và Đời sống

0 609
Em có bầu được 4 tuần không hiểu vì sao mà bị ngứa nặng. Đi khám bác sĩ cho thuốc tắm và bôi nhưng không hết. Mong bác sĩ tư vấn.

Chứng ngứa khi mang bầu

Em có bầu được 4 tuần không hiểu vì sao mà bị ngứa nặng. Đi khám bác sĩ cho thuốc tắm và bôi nhưng không hết. Mong bác sĩ tư vấn.

Hoàng Thị Mai Trang (hoangthimaitrang1@yahoo.com.vn)

Trong thư bạn không nói rõ bạn bị ngứa da toàn thân hay ngứa tại chỗ vùng da nào hay ngứa vùng kín… Bạn nói đã dùng thuốc bôi nhưng không rõ thuốc đó là gì, do vậy tôi không thể tư vấn cụ thể được, chỉ nêu ra một số tình huống có thể là tác nhân gây ngứa. Chẳng hạn ngứa da toàn thân do dị ứng, ngứa do thay đổi nội tiết khi mang bầu; ngứa do co mạch khi gặp lạnh, do nấm da, do bệnh ghẻ. Hoặc ngứa tại vùng kín do viêm âm hộ, âm đạo… Nếu có thể bạn cần xem lại chế độ ăn có chất nào gây dị ứng có thể trước đó bạn không bị nhưng do cơ thể mang bầu lại dị ứng với thực phẩm đó thì cần tránh ăn. Hơn nữa, cần vệ sinh nhà cửa sạch sẽ để loại các dị nguyên như nấm mốc, bụi, lông súc vật… là yếu tố gây dị ứng mày đay. Còn nếu ngứa vùng kín thì việc vệ sinh và dùng thuốc đặt hoặc bôi tại chỗ là chính. Nói chung viêm âm hộ, âm đạo là bệnh thường gặp, nhất là trong thời kỳ mang thai do sự tăng tiết dịch âm đạo dẫn đến âm đạo luôn ẩm ướt là yếu tố thuận lợi để vi khuẩn, nấm men… phát triển và gây bệnh. Nói chung, bệnh không gây nguy hiểm nhiều nhưng ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, nhất là khi đang mang bầu. Do vậy, nếu đã dùng thuốc tắm và bôi không hết ngứa bạn cần tái khám. Nếu ngứa vùng kín có thể phải xét nghiệm khí hư để tìm nguyên nhân, từ đó bác sĩ sẽ kê đơn thuốc đạt tại chỗ. Trường hợp ngứa da toàn thân bạn có thể khám chuyên khoa da liễu để được kê đơn điều trị hiệu quả. Vì bạn đang mang thaiChứng ngứa khi mang bầu tuần thứ 4 nên việc dùng thuốc cần lưu ý các thuốc chống chỉ định cho thời kỳ mang thai, nhất là thời kỳ 3 tháng đầu.

Chúc bạn mang thai an toàn và nhớ khám thai thai định kỳ bạn nhé.

Theo Nguyễn Kim Dung (Sức khỏe và Đời sống)

0 589

Phụ nữ nôn nghén khi có thai có thể chắt nước nấu quả me với đường trắng uống 3 lần mỗi ngày, uống trong vài ba ngày liên tiếp…

Đồng bào ở cả 3 miền nước ta rất ưa thích món canh chua lá me non nấu cá mòi, cá trích, cá quả, cá đuối, thát lát, tôm tép, lá me cho vào nước rau muống luộc… làm cho ta duy trì được mức cơm ăn hằng ngày ngon miệng, khỏi khô khát trong những ngày nóng nực, nhất là vùng có gió Lào, gây mệt mỏi chán ăn, suy kiệt. Canh chua me nấu cá là một loại canh không thể thiếu trong mâm cơm hằng ngày của dân các nước vùng nhiệt đới vì nó rất phù hợp với phép ẩm thực dưỡng sinh theo mùa của Đông y (bù nước, điện giải, nhiều vitamin khoáng chất, cung cấp đạm dễ tiêu, vị chua mặn thanh thử giải nhiệt…) để bảo vệ có hiệu quả sức khỏe, phòng được bệnh mùa hè.

 me-chua-1439474402012

Me chua.

Me làm thuốc: Các bộ phận đều dùng làm thuốc, trái me dưỡng can, minh mục, hóa tích, tán bì, sát trùng, thoát nhiệt, chỉ khát. Me làm mát gan, phổi, dạ dày, tiêu thực. Chữa nóng quá sinh phiền khát, đái đỏ sẻn. Chữa nóng rát cổ, ho khản tiếng.

Một số cách dùng thông thường.

Nôn nghén, chán cơm khi có thai.

Quả me 30g, đường trắng 10g, me cạo vỏ cho vào nồi nấu với 300ml nước, đun sôi kỹ còn 200ml, chắt nước bỏ bã. Cho đường quấy đều chia 3 lần uống trong ngày. Uống trong vài ba ngày liên tiếp.

Có thể dùng me ngào, mứt, “ô mai me” cam thảo để ngậm, ăn.

Bệnh gan mật vàng da: Thịt quả me 20-120g pha đường đủ ngọt uống trong ngày. Trẻ em 3 tuổi: 5g, 5 tuổi: 10g, 12 tuổi: 30g. Quả me nghiền nát bỏ xơ. Cứ 50g thịt quả me trộn với 125g đường cho vào 500g đun còn 200g. Quả me cũng có tác dụng lợi mật. Để uống chữa sỏi mật, đồng bào vùng Đồng Tháp Mười dùng hạt me rang vàng xay bột mịn uống với nước đun sôi để nguội.

Trẻ em mùa hè rôm sảy, mẩn ngứa: Lá me nấu nước tắm.

Táo bón: Ăn quả me chín hoặc sắc nước gỗ me uống.

Viêm lợi răng: Vỏ cây me sắc nước đặc ngậm, súc miệng.

Chảy máu ngoài da: Cầm máu bằng rắc bột vỏ cây me hoặc giã đắp.

Tẩy giun: Hạt me rang chín tán bột 190g, 160g bột quả giun (sử quân tử đã bào chế kỹ tránh gây nấc), đường vừa đủ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi sáng 3 viên uống 3 sáng liền. Không phải dùng thuốc tẩy.

Viêm kết mạc: Lá me rửa thật sạch đủ để hãm vào cốc nước thật sôi làm thuốc nhỏ mắt, rửa mắt. Nên nhờ người có chuyên môn pha chế!

Bồi dưỡng chữa suy nhược: Vitamin C, B có nhiều ở quả chữa chảy máu chân răng. Vitamin B có nhiều ở búp lá, lá non. Pha nước uống, làm thức ăn hằng ngày.

Theo các tài liệu chuyên đề “Cây thuốc dân gian vùng Caribê” của UNESCO (1984) và sách Những cây họ đậu nhiệt đới nguồn tài nguyên tương lai của Viện Hàn lâm Mỹ (1970) còn nói đến các công dụng khác của me: Vỏ sắc nước chữa hen suyễn…, lá non giã đắp vào chỗ đau của thấp khớp cấp, thịt trái me có hoạt tính chống sỏi thận. Ở Đôminica trong bài thuốc bảo vệ gan, có thành phần của me. Hoa me là nguồn quan trọng để nuôi ong lấy mật, làm thức ăn, thuốc.

Theo BS. Phó Thuần Hương (SKĐS)

0 678

Từ khi mang thai đến tháng thứ 4, gia đình cho rằng, tôi phải tăng cường ăn thêm trứng ngỗng thì đẻ con mới to khỏe, thông minh. Xin hỏi bác sĩ, trứng ngỗng có chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho phụ nữ mang thai hay không? Chị Nguyễn Thị Yến (Sài Đồng, Long Biên, Hà Nội)

mang-thai-3

Một quả trứng ngỗng thường có trọng lượng khoảng 300 gam, nặng gấp 4 lần trứng gà và 3 lần trứng vịt. Về giá trị dinh dưỡng, trứng ngỗng không thể so sánh với trứng gà, cũng như thịt ngỗng so với thịt gà. Về an toàn vệ sinh thực phẩm thì trứng gà sạch hơn trứng ngỗng, vì gà đẻ trứng ở nơi khô ráo, nơi ít có vi khuẩn và ký sinh trùng hơn trứng ngỗng. So với trứng gà, trứng ngỗng có tỷ lệ protein thấp hơn (tỷ lệ protein trong trứng gà toàn phần là 14,8%) nhưng lại có lượng lipid cao hơn (tỷ lệ lipid trong trứng gà là 11,6%).

Hàm lượng vitamin A trong trứng ngỗng chỉ bằng một nửa so với trứng gà (360mcg so với 700mcg trong trứng gà), đặc biệt là vitamin A rất cần cho phụ nữ có thai. Ngoài ra, trứng ngỗng có nhiều cholesterol và giàu lipid là những chất không tốt cho sức khỏe và hệ tim mạch của phụ nữ mang thai bị thừa cân, béo phì, rối loạn lipid máu, tiểu đường, cao huyết áp…
Nhiều người phụ nữ quan niệm rằng, khi có thai ăn nhiều trứng ngỗng thì thai phát triển khỏe mạnh, thông minh là không đúng. Mỗi loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng khác nhau – không có loại nào là hoàn thiện đủ các chất dinh dưỡng, vì vậy cần ăn đa dạng các loại thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày để bổ sung các chất dinh dưỡng cho nhau. Mỗi loại thực phẩm chỉ nên ăn 3 lần/tuần, phụ nữ mang thai không nên lạm dụng ăn trứng ngỗng, vì giá thành đắt, ăn vào khó tiêu.

Tuy nhiên, nếu bồi bổ bằng trứng gà cùng với chế độ ăn hằng ngày hợp lý cũng đã cung cấp đủ các thành phần dinh dưỡng cho thai phụ.

Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào chứng minh ăn trứng ngỗng sẽ sinh con thông minh hơn. Trẻ em thông minh hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Chế độ dinh dưỡng của người mẹ, bổ sung viên sắt/a xít folic trong thời gian mang thai, yếu tố di truyền, môi trường sống và giáo dục sau này… chứ không phụ thuộc vào ăn nhiều trứng ngỗng hay không.

 (Bác sĩ Nguyễn Văn Tiến Viện Dinh dưỡng quốc gia)

Theo baodansinh.vn/ hanoimoi.com.vn

0 536

Hầu hết phụ nữ khi mang thai đều mong muốn có một thai kỳ khỏe mạnh. Tuy nhiên, do việc bổ sung thái quá chất dinh dưỡng đã khiến các bà bầu thừa cân trong thai kỳ. Việc bà bầu thừa cân ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé thế nào? Thai phụ làm gì để tránh nguy cơ thừa cân?

thua can khi mang thai

Cần kiểm soát cân nặng khi mang thai.

Ảnh hưởng thừa cân đến sức khỏe của mẹ và bé như thế nào?

Nếu bạn tăng cân nhanh và bị béo phì trong khi mang thai người mẹ sẽ dễ mắc các bệnh như tăng huyết áp, ối vỡ sớm, viêm tĩnh mạch, nguy cơ cao bị sảy thai và tiền sản giật… Trong khi sinh mẹ còn có nguy cơ chảy nhiều máu hơn những sản phụ khác do khi sinh lực co bóp tử cung yếu dẫn đến phải sinh mổ. Khi phẫu thuật mổ lấy thai cũng trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn đối với các bà bầu thừa cân. Lớp mỡ dày dưới da sẽ khiến bác sĩ khó khăn hơn trong việc gây tê, truyền tĩnh mạch… Ngoài ra, việc tăng cân quá mức trong thời kỳ mang thai cũng làm tăng nguy cơ mẹ bầu bị tiểu đường thai kỳ, hậu quả là đứa con sinh ra sẽ có nhiều nguy cơ mắc bệnh khi trưởng thành. Mặt khác, việc mẹ béo phì trong thai kỳ cũng làm tăng nguy cơ thai to và phải can thiệp khi sinh, nguy cơ hạ đường huyết sơ sinh, vàng da, hạ canxi máu… nguy hiểm cho mẹ và bé trong quá trình sinh nở tăng cao.

Theo BS. Trần Thanh Tâm (SKĐS)

0 955

Một nghiên cứu đăng trên Tạp Chí « Fertility and Sterility » cho thấy những phụ nữ muốn tăng cơ hội thụ thai thì không nên uống quá 2 cốc cà phê mỗi ngày.

Một nghiên cứu đăng trên Tạp Chí « Fertility and Sterility » cho thấy những phụ nữ  muốn tăng cơ hội thụ thai thì không nên uống quá 2 cốc cà phê mỗi ngày.

Uống cà phê tốt cho sức khỏe nhưng không nên lạm dụng, các nhà dinh Dưỡng khuyên không nên uống quá 3 cốc mỗi ngày (300 mg mỗi ngày). Tuy nhiên điều này còn tùy thuộc vào loại cà phê, tuổi, độ đậm đặc, độ nhạy cảm của cơ thể và loại cà phê.

caphe-eb410

Các nhà nghiên cứu tại Viện Sức khỏe Quốc gia – Mỹ đã khảo sát 501 cặp vợ chồng người Texas mong muốn có con. Tất cả họ đều báo cáo lại chế độ ăn uống hàng ngày bao gồm cả đồ uống như cà phê, bia rượu. Những phụ nữ có thai trong năm sẽ được theo dõi đến lúc sinh. Trong số đó có 344 phụ nữ mang thai và có 98 trường hợp bị sảy thai, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận những bà mẹ này uống nhiều cà phê, nguy cơ càng tăng đối với thai phụ trên 35 tuổi. Nhưng theo Germaine Buck Louis- tác giả chính của công trình nghiên cứu cho biết điều này không chỉ liên quan đến người vợ  mà nguy có sảy thai liên quan đến người chồng nếu họ cũng uống trên 2 cốc cà phê mỗi ngày.

Để tăng cơ hội thụ thai hãy nên uống ít cà phê và tăng thêm lượng vitamin. Uống cà phê không tốt cho phụ nữ mang thai nhưng bạn hãy nên hạn chế từ khi có ý định muốn sinh con.  Bổ sung thêm vitamin trong những tuần trước khi thụ thai làm giảm 55% nguy cơ sảy thai, nếu tiếp tục bổ sung thêm vitamin trong thai kỳ  giảm 79%, đặc biệt vitamine B6 và B9 và những vitamine này tìm thấy nhiều trong lòng đỏ trứng, rau bina, gan ngỗng…

Bs Ái Thủy

(Theo suckhoedoisong.vn/ Metronew.fr)

0 771

Đu đủ xanh, rau ngót, cây lô hội… là loại thực phẩm phổ biến trong cuộc sống. Tuy nhiên, phụ nữ trong quá trình mang thai nên hạn chế ăn các loại thực phẩm này.

Đu đủ xanh

Đu đủ là một loại trái cây ngon, bổ, rẻ rất được các chị em phụ nữ yêu thích. Tuy nhiên, có lẽ nhiều người không thực sự biết rõ được tác hại của loại quả đu đủ xanh này đối với các chị em phụ nữ mang thai.

Theo các nhà nghiên cứu ở Ấn Độ đã nghiên cứu về tác động của đu đủ xanh trên chuột. Theo đó, các nhà nghiên cứu đã cho chuột ăn nhiều loại hoa quả và kết quả cho thấy, đu đủ xanh có chất gây sẩy thai.

Thử nghiệm chất chiết xuất từ nhựa đu đủ (papain, PLE) trên tử cung chuột cho thấy, nhựa đu đủ khiến tử cung bị co bóp và mạnh nhất là thời kỳ sau của thai kỳ, có thể gây ra phù và xuất huyết nhau thai – những biến chứng nguy hiểm trong thai kỳ, có thể dẫn tới sinh non.

Cũng theo Đông y, trong đu đủ xanh có chứa papain, một chất phá hủy màng tế bào phôi thai và có thể tăng nguy cơ sẩy thai.

Do vậy, phụ nữ đang có thai hoặc đang chuẩn bị để có thai, tốt nhất nên hạn chế ăn đu đủ, nhất là đu đủ xanh. Ngoài ra, các mẹ chú ý không nên ăn hạt đu đủ bởi trong hạt có chứa chất độc carpine. Với một số lượng lớn carpine sẽ làm rối loạn mạch đập, làm suy nhược hệ thống thần kinh. Bản thân đu đủ có tính hàn nên mẹ bầu không nên ăn đu đủ lạnh.

1-thuc-pham-han-che-an-khi-mang-thai-1-1438059560407

Ảnh minh họa

Rau ngót

Theo bác sĩ Hương – Khoa Phụ sản – Bệnh viện Tuệ Tĩnh cho biết, ăn rau ngót làm sẩy thai hay không thì cũng chưa thể khẳng định vì chưa có tài liệu nào nghiên cứu tác động gây sẩy thai của rau ngót. Trong rau ngót có những thành phần dinh dưỡng như tới 5,3% protit, 3,4% gluxit, trong đó chủ yếu là canxi (169mg%), photpho (64,5mg%), Vitamin C (185mg%).

Rau ngót có nhiều axit min cần thiết. Ví dụ như trong 100g rau ngót có 0,16g lysin; 0,13g metionin; 0,05g tryp-tophan; 0,25g phenylalalin, 0,34g treonin, 0,17g valin, 0,24g leuxin và 0,17g izoleucin…

Thực tế, có rất nhiều trường hợp phụ nữ mang thai đôi khi vẫn ăn canh rau ngót bình thường mà vẫn không ảnh hưởng đến thai nhi.

Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe của mỗi sản phụ là khác nhau. Những thai phụ có tiền sử sẩy thai liên tiếp, đẻ non, con quý hiếm (thụ tinh trong ống nghiệm) thì nên hạn chế ăn rau ngót đặc biệt là uống nước rau ngót sống, liều cao.

Phụ nữ mang thai bình thường thỉnh thoảng vẫn có thể ăn rau ngót luộc hay nấu canh. Nhưng, phải chọn những loại rau ngót sạch, tươi để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, tránh ngộ độc – bác sĩ Hương cho biết.

2-thuc-pham-han-che-an-khi-mang-thai-3-1438059558862

Ảnh minh họa

Cây lô hội

Theo y học cổ truyền, cây lô hội (hay nha đam) có vị đắng, tính hàn, tác dụng sát trùng, thanh nhiệt, thông tiện, làm mát gan… Dùng để chữa các chứng rối loạn tiêu hoá, ăn uống không tiêu, làm thuốc nhuận trường, trẻ con bị cam tích, táo bón, chữa viêm loét dạ dày…

Tuy nhiên, các bác sỹ cũng khuyến cáo, phụ nữ có thai và đang cho con bú tuyệt đối không nên dùng, vì những báo cáo gần đây cho thấy nha đam có thể liên quan tới sẩy thai, dị tật bẩm sinh. Cây lô hội có tác dụng kích thích tiêu hoá, thông mật nhuận tràng. Tuy nhiên, cây này cũng rất độc, chất độc nằm trong toàn bộ cây. Phụ nữ có thai khi ăn phải cây lô hội sẽ xuất hiện sẽ xuất hiện triệu chứng đau bụng dữ dội, nôn mửa liên tục, đi ngoài phân lỏng, xuất huyết tiêu hoá, tăng nguy cơ bị sẩy ở phụ nữ mang thai.

Theo DS Lê Kim Phụng, Đại học Y dược TP.HCM, nhựa cây nha đam nguyên chất là một chất độc, khi để ra ngoài không khí chất nhựa này dễ bị oxy hoá làm mất đi một phần hoạt tính, do đó cần có quy trình chiết xuất đúng đắn để ổn định hoạt chất.

Khi ăn nha đam, cần làm sạch lớp mủ màu vàng kế bên lớp thạch để tránh ngộ độc. Không nên bôi trực tiếp lên da vì dễ bị kích ứng gây đỏ da và viêm loét. Đối với phụ nữ có da dễ nhạy cảm, trước khi sử dụng cần phải kiểm tra trước để tránh làm sưng tấy và nhiễm trùng vùng da bị dị ứng.

3-thuc-pham-han-che-an-khi-mang-thai-2-1438059557372

Ảnh minh họa

Theo các chuyên gia dinh dưỡng để đảm bảo sức khỏe cho phụ nữ mang bầu nên lưu ý:

Phụ nữ mang bầu cần ăn thêm bữa và tăng lượng thức ăn, chú ý tăng cường thực phẩm giàu đạm, kẽm, sắt, vitamin A, vitamin C và canxi. Ăn đầy đủ, đa dạng các loại thực phẩm.

Không nên dùng các chất kích thích như: rượu, cà phê, thuốc lá, chè đặc, ớt, hạt tiêu, giấm… Nên ăn nhạt, bớt muối nhất là những bà mẹ bị phù thận để giảm phù và tai biến khi đẻ.

Ngoài việc ăn uống hợp lý, những chị em có sức khỏe kém cần tạo cho mình cuộc sống vui vẻ, không bực tức, lo lắng để tránh stress. Chú ý nghỉ ngơi, làm việc nhẹ nhất là 3 tháng đầu. Cần phải vận động, đi lại, tránh nằm một chỗ (trừ trường hợp bác sĩ chỉ định), không thức quá khuya.

Tránh đu đủ xanh, lô hội, rau ngót… hay một số loại thức ăn được khuyến cáo ít sử dụng.

Ăn chín, uống sôi, hạn chế ăn ngoài đường, tránh các loại thực phẩm được khuyến cáo có nhiều chất bảo quản, thủy ngân…

Theo SK ĐS/Tri Thức Trẻ

0 770
Mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, đây là một quá trình sinh lý bình thường.

Mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, đây là một quá trình sinh lý bình thường. Tuy nhiên trong thời gian mang thai, chị em có thể gặp những khó chịu, khiến chị em ít nhiều lo lắng  nhưng tất cả những điều đó lại là chuyện hoàn toàn bình thường. Nguyên nhân của không ít các triệu chứng này là do sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể lúc mang thai. Sau đây là những bệnh thường gặp và cách khắc phục.

9bee8echuyennhungbabauxanhmatv

 

Ốm nghén: Là một trong những dấu hiệu thai kỳ xuất hiện đầu tiên, có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào trong ngày. Sự mệt mỏi có thể làm cho vấn đề trầm trọng hơn. Triệu chứng buồn nôn, nôn, sợ một số mùi vị nhưng lại thèm ăn của lạ (chua, chát, đắng…). Trong giai đoạn nghén, hãy chọn ăn những gì mình thích, tránh dùng các thức ăn và mùi làm cho cảm thấy buồn nôn. Bạn có thể ăn mỗi lần một ít, ăn nhiều lần trong ngày. Ợ chua và thấy đau rát ở ngay giữa lồng ngực cũng thường gặp khi nghén. Nguyên nhân liên quan đến nội tiết gây mềm và giãn van tâm vị (van giữa dạ dày và thực quản), vì vậy chất chua trong dạ dày trào ngược trở lại thực quản. Để hạn chế, bạn nên uống một cốc sữa nóng trước khi đi ngủ và nâng cao đầu giường hoặc sử dụng thêm gối để gối đầu.

ddd-1427217636730

Do tử cung mang thai sẽ to ra và đè ép lên bàng quang gây són tiểu.

Chảy máu chân răng: Thường khi có thai lợi dễ bị viêm và chảy máu chân răng, đặc biệt là sau khi đánh răng, vì các cơ vùng này trở nên mềm, phì đại hơn và dễ bị tổn thương trong lúc mang thai. Các tổ chức quanh cổ răng có thể sưng đỏ khiến cho bựa tích tụ ở chân răng. Ðiều này có thể dẫn tới viêm quanh răng (nha chu viêm) hoặc sâu răng. Nếu thường xuyên chảy máu mỗi khi đánh răng bạn nên đi khám nha sĩ.

mang-thai

Bị vọp bẻ (chuột rút): Là do co thắt cơ bắp gây đau, thường là xảy ra ở cẳng chân và bàn chân, nhiều khi vọp bẻ vào ban đêm làm thai phụ đau nên tỉnh giấc gây mất ngủ. Vọp bẻ thường xảy ra khi thai ở những tháng cuối cũng có khi ở 3 tháng đầu do nghén nặng nôn nhiều, không ăn được nên thiếu các vi chất, trong đó hay gặp là thiếu canxi. Triệu chứng khi vọp bẻ là cẳng chân duỗi đơ với các ngón chân quắp xuống gây đau buốt khó chịu. Nếu thường xuyên bị vọp bẻ gây mất ngủ ảnh hưởng sức khỏe thì bạn cần đi khám, có thể bác sĩ sẽ kê đơn thuốc bổ sung thêm canxi và vitamin D.

Chứng táo bón: Hormon progesterone của thời kỳ mang thai làm chùng giãn các cơ ruột khiến cho các nhu động ruột giảm đi và gây ra chứng táo bón. Bạn nên ăn thức ăn giàu chất xơ và uống nhiều nước. Chú ý chọn các loại rau củ có tính nhuận tràng như rau lang, mồng tơi, rau đay, khoai tây, bí đỏ, đu đủ chín, chuối chín… Hãy đi ngoài bất cứ lúc nào bạn cảm thấy có nhu cầu. Hãy đi khám bác sĩ nếu chứng táo bón kéo dài vì nếu để lâu có thể là nguyên nhân gây bệnh trĩ. Tuyệt đối không dùng thuốc nhuận tràng.

Đái dắt, đái són:  Đái dắt có thể gặp ở thai 3 tháng đầu là do tử cung to lên trong tiểu khung nên chèn ép vào bàng quang. Triệu chứng này sẽ thuyên giảm trong các tháng giữa của thai kỳ. Bạn nên đi khám bác sĩ nếu thấy buốt mỗi khi đi tiểu vì có thể là bạn đã nhiễm khuẩn đường tiểu. Són đái thường hay gặp trong 3 tháng cuối. Thường són một ít nước tiểu ra quần vào những lúc chạy, ho, hắt hơi hay cười. Là do các cơ sàn chậu yếu và do em bé ngày một lớn ép lên bàng quang. Để khắc phục tình trạng này bạn nên đi tiểu thường xuyên, nên tập luyện các cơ sàn xương chậu đều đặn, có thể theo một khóa học tiền sản do bác sĩ chuyên sản hướng dẫn.

bld150699_26993

Viêm âm đạo do nấm: Bình thường dịch âm đạo trong hoặc trắng đục không mùi. Khi mang thai, bạn sẽ thấy tiết ra hơi nhiều hơn, không đau hay rát. Bạn có thể nhận thấy cửa mình tăng tiết chất nhầy (huyết trắng) do có biến động nội tiết tố trong lúc mang thai. Tuy nhiên, nếu gây ngứa ngáy khó chịu cũng có khi bạn thấy đau rát khi đi tiểu là có viêm âm đạo và hay gặp là nấm âm đạo. Ðiều quan trọng là cần chữa cho hết chứng bệnh này trước khi em bé ra đời vì chứng bệnh này có thể lây qua miệng bé khi đẻ đường dưới làm cho em bé bị nấm miệng sơ sinh, việc nuôi bé trở thành khó. Vì vậy cần vệ sinh vùng kín bằng nước sạch, thường xuyên thay quần lót, tránh thụt rửa âm đạo, không nên dùng xà phòng có độ tẩy cao để rửa âm hộ vì dùng xà phòng để rửa sạch có thể làm cho chứng viêm âm đạo do nấm nặng hơn. Tránh mặc quần lót bằng vải nilon, nếu ngứa và khí hư ra nhiều kèm tiểu rát cần khám bác sĩ ngay để được chỉ định dùng thuốc đặt âm đạo.

Theo BS. Phạm Minh Nguyệt (Sức khỏe  và Đời sống)

0 594
Nguyên nhân gây viêm họng ở phụ nữ mang thai có thể do virut, vi khuẩn, nấm… Và chính sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai…
Nguyên nhân gây viêm họng ở phụ nữ mang thai có thể do virut, vi khuẩn, nấm… Và chính sự thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai cũng là một trong những yếu tố thuận lợi gây viêm họng ở thai phụ.

Bà bầu viêm họng, dùng thuốc như thế nào?

Viêm họng ở phụ nữ mang thai lại thường hay xuất hiện trong ba tháng đầu của thai kỳ với các biểu hiện sốt, kèm theo ho, đau rát họng… (giống như viêm họng ở người bình thường). Trong khi đó, ở khoảng thời gian này việc sử dụng thuốc phải hết sức thận trọng để tránh tác động xấu của thuốc tới thai nhi.

Trong trường hợp viêm họng do virut thì không cần dùng kháng sinh mà chỉ cần dùng các thuốc điều trị triệu chứng: hạ sốt (dùng paracetamol, không được dùng aspirin vì dễ gây quái thai trong 3 tháng đầu, còn 3 tháng cuối nếu dùng aspirin sẽ gây các rối loạn ở phổi, liên quan đến việc đóng ống động mạch của bào thai trong tử cung, mặt khác có thể kéo dài thời gian mang thai và chậm chuyển dạ). Thuốc giảm ho có thể dùng là dextromethorphan, nhưng chỉ sử dụng khi triệu chứng ho làm ảnh hưởng tới thai phụ như ho liên tục làm họ không ăn uống gì được, ho có thể ảnh hưởng đến thai như gây sảy thai… Để giảm đau họng, tốt nhất chỉ nên súc họng bằng nước muối pha loãng hoặc điều trị bằng thuốc chấm họng không ảnh hưởng tới thai nhi hoặc có thể sử dụng một số bài thuốc Đông y như chế phẩm viên ngậm từ xạ can, cao cồn xạ can, cát cánh, trần bì, la hán, kha tử… cũng có tác dụng tốt trong điều trị viêm họng, giảm đau, chống viêm tấy, làm mềm và ẩm niêm mạc họng, kích thích xuất tiết, giảm phản xạ ho…

Nếu viêm họng do vi khuẩn cần phải dùng đến kháng sinh để điều trị. Một số kháng sinh có thể dùng như nhóm kháng sinh beta-lactam (các penicilin, cefalosporin và car- bapenem). Nếu bị dị ứng với các thuốc kháng sinh trên có thể dùng nhóm macrolid như erythromycin, clarithromycin, azithromycin… Tuy nhiên, cần lưu ý, phụ nữ có thai không được tự điều trị viêm họng mà việc dùng các thuốc trên phải do bác sĩ chỉ định và được sự theo dõi của bác sĩ.

Theo DS. Nguyễn Thị An (Sức khỏe và Đời sống)